28.8.26

CÁI VỘI CỦA NGƯỜI MÌNH

Tập phiếm luận phác họa những thói hư tật xấu người Việt thời hậu chiến.

LỜI DẪN

Trong quá trình biên soạn tập sách Người xưa cảnh tỉnh – thói hư tật xấu của người Việt trong con mắt các nhà trí thức nửa đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh 2018), tôi đã tính tới chuyện viết về thói hư tật xấu của người Việt thời hậu chiến, tức là từ sau 1975 trở đi. 

Nhưng viết như thế nào bây giờ? Không đủ sức theo đuổi những chuyên luận quy mô, tôi chọn cách viết các bài báo nhỏ. Cuốn sách lấy tên là Cái vội của người mình cũng là để quán triệt tinh thần một cái nhìn dựa hẳn vào những quan sát từ đời sống hàng ngày nhưng đã cố gắng bước đầu vươn lên những khái quát cần thiết.

Tôi đã may mắn làm việc trong một hoàn cảnh thuận lợi. 

Ngoài những kinh nghiệm bắt nguồn từ các sáng tác văn chương mà tôi đã “vào trong bếp núc” sau mấy chục năm làm công tác nghiên cứu và xuất bản, gần đây có thêm ba nguồn tài liệu khác.

Một là việc tìm hiểu và giải thích thói hư tật xấu lan tỏa trên báo chí và các mạng xã hội. Tôi đã tìm thấy ở đó nhiều gợi ý sâu sắc.

Hai là công trình của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội soi dọi những vấn đề về người Việt xã hội Việt là những tài liệu tôi còn phải giành thời gian để học hỏi. 

Ba là những cuốn sách nghiên cứu triết học, xã hội học… loại như Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ, Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, Các giá trị đạo đức trong sự phát triển kinh tế, Miền đất huyền ảo, có phụ đề Các dân tộc miền núi nam Đông Dương… thực đã mang lại cho tôi nhiều gợi ý sáng giá.

Khi tập trung toàn bộ sức lực để suy nghĩ về đề tài thói hư tật xấu người Việt, tôi thường nghe những lời mỉa mai, chê trách rằng bao nhiêu điều tốt đẹp của dân Việt còn chưa được viết đầy đủ, tại sao lại đi vào những phía tiêu cực mà dân tộc nào cũng có, như thế chẳng phải là một công việc không cần thiết thậm chí có hại hay sao? 

Tôi xin thưa lại rằng việc viết về những điều tốt đẹp đã là nội dung chủ yếu trong các công trình của các nhà văn nhà báo khác, phần những người chuyên đi vào thói hư tật xấu như tôi thì độ dăm bảy phần trăm, như thế có gì là nhiều, làm sao lại bảo là không nên tiếp tục.

Vả chăng khi đi sâu vào thói hư tật xấu thật ra tôi cũng đã có tìm hiểu rộng hơn các mặt tích cực của tính cách dân tộc. Chỉ có điều làm khoa học là phải thế, việc tạm tách rời một phương diện của hiện thực ra để khai thác chính là một cách để chuẩn bị cho những người khác nghiên cứu toàn diện và tổng hợp về đối tượng được kết quả hơn.

Nội dung các phần

Phần 1: 

Những thói hư tật xấu bộc lộ trong làm ăn kiếm sống, đi lại, các hoạt động nghề nghiệp    

Phần 2:

Những bất cập trong thói quen sinh hoạt, trong đời sống tinh thần mỗi cá nhân, trong các mối quan hệ người với người hàng ngày

Phần 3:

Là những di lụy quá khứ đồng thời trong mỗi thói hư tật xấu đều mang dấu vết thời đại

Phần 4:

Những hạn chế kéo dài trong tổ chức và quản lý xã hội

Phần 5:

 Nhìn thói hư tật xấu ở tầm khái quát để dần dần tiến tới cách khắc phục có hiệu quả


PHẦN 1

KIẾM SỐNG VỚI BẤT CỨ GIÁ NÀO!

    Thời tiết oi ả, đang nóng bỗng lạnh đang lạnh bỗng nóng, nhiều nhà đêm trước vừa mở điều hoà, đêm sau đã phải lôi chăn mùa rét ra đắp, khí trời năm ấy ở đồng bằng sông Hồng độc quá! Chẳng những con người nhoai ra mà đến cả các giống vật cũng khó sống: ở vùng ngoại ô tôi đang ở, sáng sáng trên mặt hồ vô khối cá chết nổi lềnh bềnh. Có cá chết là có người đi vớt, bởi thứ cá này đun lên còn cho lợn cho chó ăn được.

     Mấy người dạy sớm lại chuẩn bị sẵn vợt, cá vớt được dễ đến cả rổ. Đến lượt một ông già nọ, lộc giời chẳng còn bao nhiêu, đi lui đi tới ngắm nghía mãi mới thấy một hai con sót lại. Cá thì nằm khá xa mà trong tay ông không có lấy một cái que cái sào nào cả. Nhưng ông không chịu! Thoạt đầu thấy ông nhặt gạch hòn to hòn nhỏ vun thành đống lùm lùm tôi chưa hiểu để làm gì. Bỗng nghe tũm tũm gạch ném xuống nước, thì ra ông lấy gạch để lái cho cá trôi dần vào bờ. Liên tiếp, có đến vài chục viên gạch được sử dụng. Khi mùi cá chết nồng nặc xông lên thì cũng là lúc tôi nghe cái túi ni - lông trong tay ông gìa sột soạt. Có thế chứ! Thoát làm sao được khỏi tay ta, hỡi những chú cá không biết mới chết đêm qua hay từ hôm kia mà thân hình đã mủn cả ra trên mặt nước!

    Tôi đứng nhìn ông già lấy gạch dồn cá mà nghĩ đến cách kiếm sống của con người hiện nay. Nào ông có khác với nhiều thanh niên trai trẻ háo hức vào đời, nhất là những thanh niên nông thôn đang đổ lên đô thị: Tay trắng lập nghiệp. Nghề ngỗng chẳng có. Đồ nghề không, tức là công cụ không. Có miếng ngon miếng sốt thì lớp người đi trước dành hết cả rồi. Thành thử có gì là lạ khi họ chỉ còn cách lăn xả vào bất cứ việc gì người ta thuê mướn dù là mồ hôi đổ ra nhiều mà đồng bạc thu về chẳng khác mấy con cá trôi nổi trên mặt hồ. 

    Thế nhưng cái đáng sợ nhất vẫn là cái “triết lý” toát lên từ cái việc kiếm sống đơn giản này. Nhìn đống gạch được ném xuống nước, tôi cứ định nói với ông già rằng như thế tức là trực tiếp phá huỷ môi trường. Ai cũng thích thì làm, hôm nay mươi viên mai vài chục viên, hỏi còn gì là cái mặt nước thân yêu? Chẳng phải là chỉ mấy năm nay nước hồ đã đen dần vì nước cống, lòng hồ đã bồi cao lên vì các loại phế thải xây dựng và rác rưởi? Nhưng tôi không mở miệng nổi. Từ cái việc mà ông già thản nhiên và hào hứng theo đuổi, tự nó đã toát ra một lời tuyên bố: để kiếm sống, con người ta có quyền làm bất cứ việc gì họ có thể làm, bất kể là có hại cho người chung quanh hoặc tàn phá môi trường sống chung quanh đến như thế nào. 

    Nhà văn Nga Chékhov (1860 – 1904) từng có một đoản thiên kể chuyện một người mugich hồn nhiên tháo đinh bù loong trên đường sắt về rèn mấy cái đinh thúc ngựa. Sắt ê hề ra đấy mà làm gì, tháo một vài cái có sao, không tàu hoả thì đi bộ đã chết ai? Còn ở ta những năm chiến tranh có những người coi kho phá cả một cỗ máy để lấy mấy cái vít. Xét về mặt lý lẽ mà người trong cuộc đưa ra để biện hộ, giữa những việc đó với việc người ta rải đinh trên đường cao tốc, bán đủ các loại rau quả vừa phun thuốc trừ sâu, đá bóng vào lưới nhà để thực hiện hợp đồng bán độ, rồi chặt phá rừng vô tội vạ, rồi mua bán bằng cấp và chức sắc, rồi kê đơn cho bệnh nhan toàn những thuốc đắt tiền để ăn hoa hồng, rồi đưa ma tuý vào trường học rủ rê con nhà lành vào con đường nghiện ngập cốt bán được ít hàng quốc cấm... có khác nhau là bao? Ở đâu thì cũng cùng một lý lẽ ấy, lý lẽ của ông già ném gạch dồn cá, vốn đã bắt rễ trong tiềm thức nhiều người chúng ta. Khi độ nguy hiểm của nó ta còn chưa cảm thấy rõ ràng thì làm sao đủ sức để chống lại?   


THẦY KHÔNG RA THẦY,

THỢ KHÔNG RA THỢ

      Nhìn vào các nghề thủ công, nhiều người có tuổi và kỹ tính một chút thường nhận ngay ra rằng nếu so với một người thợ ngày xưa thì thợ bây giờ non tay hơn nhiều. Những ngôi đình ngôi chùa nổi tiếng, giá bảo bây giờ dựng lại, không sao dựng nổi. Thử đặt những cái chuông cũ trước cánh thợ đúc, những pho tượng trước cánh thợ mộc…Có cho tiền tỉ các vị cũng lắc đầu không dám nhận làm. 

     Nói tới thợ thủ công là phải nói sự tinh tế, cái hoa tay. Thợ bây giờ hơn hẳn người xưa ở các phương tiện hiện đại trợ giúp. Nhưng máy móc, trong khi giúp con người đỡ vất vả, lại làm thui chột đi năng khiếu mà chỉ con người mới có.

    Nhân nhà có việc cần, tôi đi mua một cái cuốc. Lưỡi cuốc nhập từ Trung quốc, không nói làm gì. Nhìn vào cái cán. Xưa chỉ cán tre, nay có cán gỗ. Chết nỗi, gỗ chỉ được đẽo gọt qua loa. Chưa bao giờ tôi thấy có một cái cán cuốc nham nhở như vậy.

     Đã nhiều ý kiến ghi nhận con người thời nay suy thoái so với ngày xưa. Dối trá lừa lọc làm bậy bất chấp luật pháp…Còn một khía cạnh khác đơn giản hơn: Sự lỏng lẻo trong mối quan hệ con người với công việc. Sự kém cỏi trong chất lượng công việc mà họ hoàn thành.

    Có lẽ không nước nào như ở nhiều cơ sở sản xuất nước ta, hàng hóa chỉ được những mẻ đầu, càng về sau càng hỏng.

    Nhiều con đường mới làm đã nứt vỡ toe toét.

    Đình chùa được tu bổ ngày một lai căng xa lạ.

     Trong nghề viết văn viết báo, văn chương chữ nghĩa chưa bao giờ bị rẻ rúng như bây giờ. Người viết viết bừa viết ẩu, người duyệt bài cứ ký đại đi cho in – chỉ cốt không sai chính trị còn tội lỗi gì cũng tha bổng hết.

     Xảy ra tình trạng lộn xộn không chỉ do sự dễ dãi thiếu chuẩn mực cùng sự kém cỏi của những người cầm trịch, mà còn do sự tha hóa của bản thân người lao động. Nhiều người thiếu hẳn sự tha thiết với công việc hàng ngày vốn là lẽ sống của mình. Cứ ngong ngóng những chuyện đâu đâu trong khi chính nghề nghiệp bị thả nổi.

    Ở Hà Nội những năm sau 1954, có một tình trạng khá kỳ quặc. Chủ nghĩa bình quân bộc lộ ra thành những biến tướng kỳ lạ. Những người lao động đơn giản được tôn lên vị trí rất cao trong khi người trí thức thì lại luôn luôn bị đặt thành vấn đề. Trước mắt là phải cải tạo họ bằng những thứ lao động đơn giản, người ta bảo vậy!

    Ở nhiều cơ quan, người dọn dẹp vệ sinh (lúc ấy gọi là lao công) được bố trí đi học văn hóa ngay trong giờ làm việc, còn các nhân viên khác thì phải bỏ việc của mình đi làm những việc như lau nhà lau cửa, dọn dẹp vệ sinh. Công thức tóm lại là “Người quét rác đi học văn hóa, các nhà khoa học lo đi quét rác”. Từ đây đẻ ra cái tình trạng nhấp nhổm, chả ai yên tâm làm việc gì.

     Trong các cuốn lịch sử nghệ thuật Nhật Bản, tôi đọc thấy họ hay nói là có những người theo nghề một cách hết lòng tới mức có những cô gái tự nguyện không lấy chồng để yên tâm cống hiến cả đời cho nghề.

     Ở ta thì lâu lắm tôi không nghe thấy nói có ai “điên” kiểu ấy. Kiểu sống hết mình với một niềm tin nào đó được coi là lập dị và không chấp nhận được. Khi chuyển hóa vào trong cách ứng xử người lao động, nó hiện ra thành sự coi thường những việc nhỏ mọn.

     Trong điều kiện một nước mới chuyển từ nông nghiệp lên hiện đại, xưa phố xá đi đâu cũng gặp những người thợ chữa những thứ lặt vặt như chữa khóa chữa giày. Nay thì nghề này ngày càng ít người làm.

     Thằng cháu con đứa em tôi đang ở bên Đức thỉnh thoảng về chơi. Nó kể thời học đại học, mùa hè nó đi vác lợn trong lò sát sinh rồi lái xe chở lợn đến các cửa hàng. Nghe chuyện, hàng xóm bảo nhau: Ở Việt Nam không ai làm thế. Thanh thiếu niên có nghèo mấy nhưng bảo đi làm những việc có vẻ bẩn thỉu một chút là lảng xa. Nhiều gia đình ngấm ngầm khuyến khích con cái khôn ranh lừa lọc hơn là lặng lẽ trau dồi nghề nghiệp.

     Sự hư hỏng công nhiên phô phang ra và biến thành sự trơ tráo không biết từ lúc nào. Những tiền đề tạo nên sự vô cảm, bạo lực ngày một tích tụ. Những nghề phục vụ ăn chơi đàng điếm chưa bao giờ phát triển nhiều như bây giờ, tuy ngó vào thì thấy cả ở đây nữa, người ta chỉ có một trình độ nghề nghiệp loàng xoàng.                   














SỢI DÂY NỐI KẾT LỎNG LẺO

Chuyện con người và nghề nghiệp

         

Ai cũng nói buôn 

mà chẳng ai biết buôn       

         Hồi chưa có chủ trương bung ra làm ăn, nhiều người thường nhìn sự buôn bán bằng con mắt tiếc rẻ. Thấy một số người liều lĩnh làm công việc gọi là phe phẩy để rồi kiếm bộn tiền, ta nghĩ có khó gì đâu cái việc buôn ấy, ai buôn mà chẳng được. Có biết đâu vài năm sau, mới thấy việc không dễ nhằn: lừa lọc móc ngoặc đánh quả...là một việc, còn buôn bán theo đúng nghĩa của nó lại khác hẳn.  

         Một mặt, cái gọi là tư duy con buôn đang xâm nhập vào mọi hoạt động. Trong công việc nghiên cứu khoa học. Trong dạy và học. Trong mối quan hệ giữa người và người, kể cả trong tình yêu, tình bạn. Mặt khác, chính cái việc buôn bán với nghĩa thực của nó, tức phân phối và lưu thông hàng hoá, việc ấy thì lại không mấy ai biết làm cho giỏi. Và đi ra buôn bán với thiên hạ thì người mình thật sự là còn đang rất ngô ngọng.


  Quan chức càng không có nghề           

         Một công việc khác tưởng ai cũng có thể làm được do đó không có người làm giỏi là việc phụ trách quản lý, nói nôm na là việc làm quan. Ở đây cũng có tình trạng tương tự như buôn bán. Tức là ai cũng thích làm, cũng tưởng mình thừa sức làm, trong khi chẳng mấy ai gọi là có nghề trong việc làm quan cả. Chỉ giỏi bảo nhau làm đại đi, còn như giá có ai hỏi làm như thế nào thì chưa chắc đã biết. 

      Mà không có nghề ở đây thì vừa làm khổ mình, vừa làm khổ người khác, cả cấp trên lẫn cấp dưới.


  Nghề càng tưởng dễ thì càng khó  

     Chuyện thời sự ở nông thôn hiện nay là đi xuất khẩu lao động. Một người bạn tôi có vợ làm phiên dịch cho một công ty Đài Loan kể:

     -- Chính tuyển người đi phục vụ trong các gia đình lại khó nhất. 

     Nghe mà thấy bất ngờ. Cũng tương tự như tôi đã bất ngờ khi nghe nói rằng một số tỉnh bắt đầu cử bà con nông dân đi các nước học nghề. Thì ra cũng như nhiểu người, mình hay chủ quan mà nghĩ rằng những việc như làm ruộng hoặc trông nom nhà cửa thì bất cứ ai cũng làm được. Trong khi ấy thì trong xã hội hiện đại, cái gì người ta cũng đưa lên thành bài bản và coi là nghề phải học. 

 

Học xong chả biết làm gì 

      Ta thường hay nói môi trường đầu tư ở Việt Nam hấp dẫn mà một trong những lý do tạo nên sự hấp dẫn đó là vì người mình thông minh chịu khó, lại khéo léo, và có văn hoá, dễ tiếp nhận kỹ thuật nước ngoài. Nhưng bản tin của VTV1 sáng 10-3-2003 đưa tin: Chỉ có 4% người Việt ra nước ngoài (xuất khẩu lao động) có tay nghề với nghĩa nghiêm chỉnh.  

      Cái sự thiếu người có nghề thật ra đâu phải chỉ đến ngày đưa người đi lao động nước ngoài mới biết. Mà lâu nay, mỗi năm hè tới, cả xã hội gần như rung động vì các kỳ thi đại học, thì lại là một dịp nhiều người chép miệng: thi cử căng thẳng nhưng rồi học xong chả biết làm gì. Thừa thầy thiếu thợ. Các trường gọi là đại học quá chật là vì các trường dạy nghề của ta quá yếu.


 Giỏi kiếm ăn chứ không phải giỏi nghề 

      Ở chỗ riêng tư, nhiều người gần đây không giấu nổi ngạc nhiên: tiền nhiều quá, các cơ quan cũng như dân đều sẵn tiền, không có tiền làm việc lớn nhưng ăn uống chè chén rồi trợ cấp với biếu xén thì lu bù, lương thấp nhưng bổng lộc lại gấp mấy lương. Tương tự như vậy, trong khi cái phần con người nghề nghiệp mờ nhạt thì thay vào đấy ở nhiều người lại đang nổi lên cái phần con người kiếm sống. Nghĩa là xoay sở chạy chọt, tác động chỗ này dí điện chỗ kia. Thậm chí, cái tiêu chuẩn để một vị thủ trưởng được anh em yêu mến thời nay không phải là chuyên môn giỏi mà là chạy giỏi, kiếm được nhiều tiền về chia cho nhân viên. 

     Sổ tay tôi có ghi được một câu nói của nhà văn Nga L. Leonov: 

  Khi nói tới con người, tôi cho rằng nói luôn tới nghề nghiệp là một điều cần thiết. Tổng quát mà nói tôi thích những người yêu tột độ một cái gì đó. Đối với tôi, việc đi sâu vào cách nhìn đời sống của họ thông qua nghề nghiệp mà họ gắn bó, là một chuyện rất thú vị. Nghề nghiệp chính là sợi dây xã hội nối kết con người với thời đại.

      Tạm diễn giải cái ý trên đây của Leonov như sau: mỗi con người chúng ta phải được chuyên môn hoá. Phải có đóng góp cho xã hội trong một công việc cụ thể, và ta phải chăm chút học hỏi để cho cái công việc cụ thể đó trở thành công việc giỏi giang.

      Trong thực tế, đây lại thường là chỗ yếu của con người trong xã hội ta hôm nay.










TÔI NGHIỆP DƯ, ANH NGHIỆP DƯ,

NÓ CŨNG NGHIỆP DƯ


       Tai nạn giao thông thường chỉ được nhắc tới trên báo chí khi xảy ra ở các trục đường lớn, người đi lại đông đúc, vụ việc ở mức độ nghiêm trọng, chắc chắn là có người chết.

       Còn theo lời Liên, một cháu ô - sin làm với gia đình tôi thì ở quê nó, tai nạn như cơm bữa, gãy chân sảy tay là chuyện thường ngày, đi đâu chẳng nghe người kể.

       Thử xét nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Nông thôn đường có đông mấy vẫn là vắng so với thành thị. Mà nói tại người không có ý thức nghe cũng là chuyện xa xôi quá, ý thức gì thời sống như ăn cướp hiện nay? Khốn khổ, Liên bảo, cái chính là nhiều người có biết đi đâu, chỉ bảo nhau mấy câu là nhảy lên xe nổ máy, vừa gặp đám mấy con bò nghênh ngang đã lúng túng không biết phanh với lại về số thế nào. Liều thế mà chỉ sứt đầu mẻ trán cũng còn phúc chán – cái Liên chép miệng kết luận.

       Liên nói về chuyện đi lại của những người quê nó. Nhưng tôi muốn nghĩ rộng ra những trường hợp khác, cả tới cách làm ăn của dân mình hiện nay. Như chính những người như cháu Liên đây, từ nông thôn lên, có biết gì đâu về cách sống đô thị. Máy nước mở tràn. Nước rửa nước giặt có gì thừa đổ xuống toa lét. Ra đường thì dắt dây hàng hai hàng ba. Như giữa đường làng, chạy đuổi nhau hét inh ỏi trên phố xá.

        Thiếu gì người như Liên chưa hiểu gì về cuộc sống thành thị đã phải sống kiểu thành thị, tránh sao khỏi lố bịch. Mà đâu chỉ chuyện sống, còn tham gia vào việc buôn bán phục vụ bàn dân thiên hạ nữa chứ. Dạy nhau theo lối truyền khẩu mấy câu, không qua huấn luyện, đã phải ra bán hàng. Bao nhiêu lầm lỡ hư hỏng thất thoát. Bao nhiêu dối trá làm liều. Và cả bao nhiêu chấn thương trong lòng người – tôi muốn nói tới chấn thương tinh thần – cái phơi bày ra, cái chỉ tự biết với mình, chỉ quên đi là không nổi.

      Nói rộng ra, bước vào một cuộc chuyển đổi mà không được chuẩn bị, cả cộng đồng đang sống kiểu nghiệp dư như vậy.  

      Trong đầu óc đám người khi còn ngồi trên ghế nhà trường chỉ đươc nghe giảng về mỗi một thứ triết học là triết học Mác Lê như tôi, tên tuổi những Platon Aristote chỉ tượng trưng cho những điều rắc rối trừu tượng. Nhưng đọc Platon qua mấy cuốn lịch sử triết học mới in, thấy bao chuyện cụ thể.

      Trong lĩnh vực sinh đẻ, Platon bảo ở đây cũng phải có kế hoạch và kiểm soát. Cho đứa bé một nền giáo dục chưa đủ, cần phải bảo đảm nó thuộc về một giống tốt. Không một người nào được phép gây giống và sinh đẻ nếu họ không hoàn toàn khỏe mạnh.

       Đối với công bằng xã hội, ông bảo trước tiên không phải là phân phối bình quân mà là mỗi người nhận được đúng cái gì mình đã làm ra và làm công việc thích hợp với mình nhất. Một người thợ mộc đi làm việc thợ xây, một công nhân hoặc nhà buôn lại đi đăng lính hoặc thành một người có quyền thì sẽ trở thành tai họa cho cả xã hội.    

        Một chỗ khác ông có cái ý rằng đối với việc nhỏ như việc đóng giày, còn cần tìm những người thợ chuyên môn, tại sao trong lĩnh vực phức tạp hơn, như quản lý xã hội, người ta tưởng ai cũng làm được.

       Nghe đúng quá mà lại toàn là chuyện chúng ta ngày nay không biết, hơn thế nữa còn làm ngược.

       Chúng tôi là lớp người được đào tạo theo mô hình người lính trong chiến tranh. Mà người lính là gì? Là đi bất cứ đâu cuộc chiến đang cần. Là cấp trên bảo sao làm vậy. Là không cần chuyên môn cá tính gì cả.

       Phải nói thực là hồi ấy chúng tôi đã biết sẽ khó tìm được chỗ đứng trong xã hội tương lai. Thứ dao gì mà vừa chẻ củi được vừa chẻ rau được, thì chẻ rau cũng dở mà chẻ củi cũng gãy luôn – lúc tỉnh táo, có người trong bọn, nhờ biết nhìn xa đã tự nghĩ như vậy. Nhưng học ở đâu bây giờ, có thầy đâu mà học, và nhìn quanh chả ai chịu học cả.

      Sau 30-4-75, tôi vào Sài Gòn, một bà cô tôi bảo:

      -- Kỹ sư bác sĩ ngoài Bắc người nào cũng biết nấu cơm với lại trông con, việc nhà đến khéo, không như cái bọn tốt nghiệp đại học trong này. 

    Biết mới tiếp xúc nên bà chưa hiểu đây thôi --, để cô đỡ thất vọng, tôi phải thú nhận ngay:

      -- Rồi cô xem, nay mai chúng con kỹ sư không thạo việc, bác sĩ không sạch nghề và mang về rất ít lương, thì cô đừng có mắng đấy nhé.

       Thoắt cái đã mấy chục năm, chúng tôi tỏa đi bao công việc, nắm đủ mọi ngành nghề, không biết lạ cái gì, thì lẽ tự nhiên cũng không việc gì gây cho chúng tôi nỗi sợ. Vốn dân đánh đồn diệt viện, học phổ thông qua loa, học đại học tại chức, học sau đại học theo kiểu nộp tiền cho thày xin bằng, ấy vậy mà có người đang nắm những công ti lớn, mua bán tiêu pha bạc tỉ. Cờ đến tay ai người ấy phất, gặp việc gì cũng phải làm dấn tới. Tôi nghiệp dư, anh nghiệp dư, nó cũng nghiệp dư nốt, chẳng phải thế sao? Thì so với cánh dân nông thôn ra đô thị như cháu Liên nói ở trên có khác là mấy?  

       Trong suy nghĩ của những người từ chiến tranh bước ra, cái tội không thạo việc thạo chuyên môn chỉ là chuyện nhỏ, đánh nhau khó bằng mấy còn làm được, nữa là quản lý kinh tế, cứ quyết tâm và có kỷ luật là hoàn thành tất. Nhưng có phải sự đời đơn giản thế?  

      Nhớ có hồi có cả chủ trương phá rừng trồng sắn, nhắc lại mà vẫn nghe nhói trong lòng. Nhưng biết đâu lúc này cũng đang có những việc tương tự, để rồi sang năm sang năm nữa nhìn lại, cùng thấy nhói lòng tương tự?!             


















DỤC VỌNG VÀ TAI NẠN

          

         Sau vụ đổ tàu E1 ở Trị Thiên Huế đầu năm 2005, tôi đọc được một bài viết khá hay trên VietnamNet. Sau khi nói rằng thắp ít nén nhang cho người bị nạn, tác giả bảo muốn dành một nén cho con đường sắt cổ lỗ cũ kỹ. Đó là những con đường được làm thuở dân ta mới có hai mươi triệu. Ngày nay, nó chẳng khác gì những đôi chân suy dinh dưỡng buộc phải cõng trên mình bao nhiêu dục vọng ghê gớm của thời kinh tế thị trường. Tai nạn trước sau sẽ tới trên những con đường như vậy. 

        Mẩu chuyện này trở lại với đầu óc tôi khi đón nhận những tin tai nạn giao thông đang xảy ra với mật độ ngày một cao. Nhớ nhất là cái lần trong một tuần hai nhà khoa học một của Mỹ, và một của Việt Nam bị tai nạn. Một con số trên báo cho thấy hàng ngày cả nước trung bình có khoảng 40 ca tử vong, con số thuộc loại nghiêm trọng nhất thế giới.

         Có hai lý do khiến cho tai nạn vô phương cứu chữa, một có liên quan tới phương tiện và một nữa liên quan tới tâm lý con người. 

         Sự lạc hậu của đường xá phương tiện bao gồm cả số lượng lẫn chất lượng. Ngay ở các thành phố lớn, đường xá không phát triển kịp theo dân số. Mà toàn đường làm từ lâu, cày đi xới lại nhiều lần, đắp điếm tùy tiện, như ở Hà Nội, nhìn kỹ thật chẳng khác là bao so với cái thời cả nước mới có vài cái Pobeda, Moskovits tòng tọc, còn cả thành phố đi xe đạp.

          Hàng ngày phải theo đê lên cầu Chương Dương đi làm, tôi rất sợ mấy quãng rẽ, quãng nào đường cũng mấp ma mấp mô; muốn tránh những chỗ mấp mô lượn sóng ổ gà ổ voi đó, người ta dễ làm phiền người khác và cũng gây ra tai vạ cho chính mình.

          Phương tiện đã vậy, luật pháp lại đơn giản không theo kịp sự phát triển của thực tế. Các loại xe lẫn lộn trên một làn đường. Và sự thực thi luật pháp thì không nghiêm, phóng nhanh vượt ẩu không ai không sẵn sàng, cái lối vừa ngồi trên xe vừa gọi điện thoại di động đã có lệnh cấm, mà ngày một phát triển. 

         Đã hình thành cả một kiểu tâm lý người Việt trong giao thông mà chừng nào còn chưa nhận thức được chúng ta không có cách gì vượt lên trên nó để có được một cuộc sống an toàn trên đường.        

         Khi được hỏi rằng tại sao đến Việt Nam, một người nước ngoài bảo đến để tìm lại những cái mà trên thế giới nay không đâu còn. Trong số những cái mà trên thế giới không đâu còn này, có cả cái cấu trúc tâm lý, mà tâm lý giao thông là một khía cạnh. 

         Ngồi lên xe - nói theo chữ nghĩa là tham gia giao thông --, nhiều người chỉ biết có mình. Ra đường là tranh giành không gian sống của người khác. Chen chúc luồn lách. Mắm môi mắm lợi mà phóng. Lao về phía trước bằng tất cả sức lực sẵn có. 

        Thứ tâm lý cổ lỗ chỉ thấy ở con người tham gia những guồng máy giao thông đơn giản ấy, đến nay vẫn ngự trị.

        Nhớ lại văn học tiền chiến, tôi thường ngạc nhiên trước sự bình thản trong nếp sống của con người ngày xưa. Đọc Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam, thấy cuộc sống sao mà nề nếp, đúng giờ đó thì có việc đó, mọi người yên tâm chấp nhận cái sự an bài như một định mệnh. 

        Còn ngày nay nhìn qua trên đường, nét mặt người nào cũng bừng bừng dục vọng. Thèm thuồng mong mỏi nhiều quá. Nói như các cụ ngày xưa: Chí lớn hơn người. Từng người là thế mà cả xã hội cũng thế.           

       Trở lại chuyện tàu đổ năm trước. Sau những căm giận đối với hành vi cho tàu chạy quá tốc độ quy định đã có người tỏ ý thông cảm. Nên nhớ là với những người lái có chuyện phấn đấu để rút giờ chạy tàu xuống thấp hơn. Đường xấu; người đi đường cứ lao vào đường sắt như thiêu thân; các ga điều hành kém gây mất thời gian chờ đợi; trong khi đó thì cả xã hội đòi hỏi giảm giờ chạy tàu và cơ quan chỉ thưởng cho những con tàu về kịp thời gian mới được rút ngắn.

       Đây chỉ là một ví dụ về cái sự vênh váo giữa một bên là khả năng non yếu, với một bên là mong mỏi quá cao (dù là chính đáng, song vẫn là quá cao) của con người thời nay. Nó đang gây tai nạn trên nhiều lĩnh vực khác, chứ đâu có riêng trong giao thông.


MẠNH AI NẤY SỐNG


     Nếu từng chiếc xe là biểu hiện của cái tôi, thì đường sá là hình ảnh thu nhỏ của cuộc sống mà ta vẫn sống tuy không bao giờ hình dung ra đầy đủ. Đó là một trong những ý nghĩ chủ đạo của tôi khi tham gia giao thông hàng ngày từ nhà đến sở. Chúng tôi sắp đến sở. Những công việc đang chờ chúng tôi giải quyết cũng ngổn ngang như tình trạng quá tải mà mỗi con đường phải chịu. 

    Đường sá của thời đi xe đạp nay tràn ngập xe cơ giới. Mà chúng tôi thì cũng có chuẩn mực gì cho cam, nếu xe chúng tôi cũng cái cũ cái mới, cái nhập bên tây cái nhập bên tàu thì con người chúng tôi cũng mỗi cá nhân là một thế giới riêng, chẳng ai vừa lòng ai, không ai cộng tác được với ai. 

     Ai cũng mắm môi mắm lợi để cố mà đi cho nhanh trong khi thực tế tốc độ xe cơ giới trung bình chỉ độ hai mươi km một giờ. Và chen chúc. Và lộn xộn nữa. Và nhiều khi chỉ cần một chiếc xe ăn vạ ra đường là gây ùn tắc làm khổ không biết bao nhiêu người mà kể. Biết là không nên mà vẫn nhắm mắt làm theo.  

    Trước khi ra đường, thường tôi không quên tự nhủ mình già rồi không có việc gì quan trọng, hãy cứ từ từ mà đi, kẻo tai nạn xảy ra thì khốn. 

    Ấy vậy mà nhiều lần nhìn đồng hồ xe máy, thấy đã phóng với tốc độ bốn năm chục ki lô mét từ lúc nào. 

    Hoặc ở những quãng đông, xe mình cũng bóp còi inh ỏi chẳng kém một ai; rồi cũng ra cái điều khoái trá hỉ hả y như bắt được của, khi vượt được người bên cạnh, mặc dầu sau khi phóng như điên đến cái nơi cần đến, cũng chẳng có việc gì quan trọng, mà chỉ làm chén nước và tán gẫu. 

    Thấy lối đi ấy ở mình đã thành thói quen tự nhiên, và hỏi chuyện những người khác, rồi tôi mới vỡ ra: cái cách đi lại như hiện nay nó làm nảy sinh trong mỗi chúng ta cái tâm lý đua chen.

    Tức là thường xuyên nảy sinh sự so sánh. Ông này đi ngớ ngẩn quá, bị người ta chèn; còn mấy cậu choai choai kia đi liều đi ẩu song hoá ra lại được việc. Ta hay trông trước trông sau. Và chỉ sợ thiệt. 

   Ta học rất nhanh những thói xấu, xoay sở luồn lách. Hình thành một loại tâm lý đặc biệt: lấy việc hơn người được nửa vành bánh xe làm điều vênh váo. Nhưng con người có phải cái máy đâu mà thoát được cái tâm lý tầm thường ấy!


Những lý do thâm căn cố đế 

khiến chúng ta khó thay đổi 

   Sau những lần suy nghĩ về phản ứng của con người trong tình trạng giao thông hiện thời, trong tôi thường nảy ra một cuộc đối đáp nhỏ:

    -- Thế tại sao lại nẩy ra cách sống cách đi lại như vậy? -- Tâm lý tiểu nông ăn mãi trong ta. Ta quen đi lại trong những làng quê hoặc những đô thị trung cổ. Sau chiến tranh ta đưa người về thành phố và bảo nhau rằng xây dựng xã hội hiện đại trong khi không hiểu hiện đại là gì nhà cửa phố phường đường xá phải như thế nào 

    -- Thế nghĩa là tình trạng chen chúc hỗn loạn là bất khả kháng 

     -- Bất khả kháng. Vì mỗi chúng ta không thể sống khác. 


SỐNG TRÊN ĐƯỜNG     

   

           Mỗi buổi sáng thức dậy nỗi lo đầu tiên của nhiều người dân thành phố hiện thời là lo con đường từ nhà đến nơi làm việc liệu có ách tắc gì không. Thuở mọi người còn nghèo, người ta chỉ đạp xe đi làm và mọi vui buồn lúc ấy dồn cả vào chiếc xe đạp cà khổ. Nay số người có xe máy ngày mỗi đông, mà lạy giời, xe cũng ít hỏng, tưởng đã đỡ lo. Thì lại nảy sinh cái khổ về đường sá! Đường xấu đường tốt đường bụi đường sạch, đường còn nguyên lành và đường bị đào xới, cái đó cũng phải tính toán một phần, nhưng con người nơi đây gian khổ đã quen, thế nào rồi cũng chịu được. Nhưng từ lúc nào không biết, tự nhiên đường trở nên quá đông đúc, và sự ùn tắc trở nên thường xuyên, cái ấy mới rầy rà. Ùn tắc nghĩa là gì? Là xe máy mà tốc độ chỉ bằng xe đạp, hoặc đi bộ. Là mất thì giờ chờ đợi. Là đến sở muộn. Là lỡ hẹn. Là hỏng việc... Nhưng ở đây tôi muốn nói thêm một khía cạnh tâm lý: Trong việc đi lại hiện thời, con người như bị kéo sống gần nhau hơn. Bao nhiêu cái xấu vốn có được bày ra và buộc nhau phải chịu đựng. Và một cách tự nhiên cứ phải nghĩ ngợi về văn hoá chung sống của cả xã hội.

Tạm kể ra đây một ít nặng nề về mặt tâm lý, mà trong cảnh giao thông căng thẳng chen vai thích cánh trên đường, hàng ngày mỗi chúng ta phải chịu:

- Ở nhiều nước trên thế giới hiện nay, còi xe đã là một phương tiện bị cấm, và chỉ được phép dùng trong những hoàn cảnh đặc biệt. Nhưng ở ta thì còi xe vẫn tha hồ lưu hành, và nhiều lúc không gì thay thế nổi. Có điều đáng lẽ chỉ xem việc dùng còi là bất đắc dĩ, thì một số người lại thích thú nhấn còi cho thật inh ỏi. Hình như những người này coi đây là phương tiện hành hạ người khác, anh mà không nhường đường để cho tôi đi trước thì còn là khổ vì tiếng còi của tôi! Ngoài ra còn có tiếng còi vênh vang, tiếng còi khoe của, tiếng còi chơi trội...đủ kiểu!

- Đường đã đông, song nhiều người cứ cố luồn lách vượt lên, ra cái điều mình khôn ranh sáng ý, thạo đời hơn người. Tự bản thân nó, việc đi vào những con đường ngược chiều và vượt đèn đỏ ở các ngã tư đã là phạm luật và gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông. Song với người nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ, nó cứ như một sự trêu ngươi: Các anh hiền lành thực thà thì các anh khổ, xem này, tôi có sao đâu (!)

- Có một khái niệm hơi cũ là sự làm phiền. Đứng về mặt luật pháp thì chả ai cấm tôi chở bó củi hay bao tải hàng sau xe, nhưng trên đường đi, như vậy là tôi đã choán chỗ công cộng và gây khó chịu cho chung quanh. Vậy, mong các anh thứ lỗi - Đại khái, cảm giác thấy mình làm phiền bắt đầu từ một nhận thức như vậy. Thế nhưng loại người biết lo nghĩ cho chung quanh đang “hơi bị hiếm”. Đường là của chung và ai giỏi chiếm dụng, kẻ đó được lợi lộc nhiều, họ nghĩ thế. Còn như khách quan mà xét, cái sự khuếch trương của họ giống như một sự ăn cướp không gian của người khác, họ không cần biết. Nhiều khi sự trâng tráo ở đây đã vượt qua mọi giới hạn.

Một trong những đặc điểm của cuộc sống đô thị, là khả năng làm cho con người trở nên vô danh. Chẳng hạn khi đi ra đường, ấy là lúc không ai biết ai làm nghề gì, nhà ở đâu, học vấn ra sao, đang có cương vị như thế nào. Ta chỉ còn là một người đi đường bình thường như mọi người. Sự vô danh lúc này mang lại cho mỗi cá nhân một ít tự do, anh ta không phải đóng cái vai mà anh ta vẫn đóng, và do đó có thể dễ dàng đi thẳng tới cái đích của mình. Thế nhưng ở ta nhiều người không nghĩ như thế. Sự vô danh được khai thác vào những mục đích khác. Hoặc có khi ăn mặc lôi thôi lếch thếch ra cái điều bất cần đời. Hoặc diện xe máy hẳn hoi, song thản nhiên dóng xe song đôi mà tâm sự...Trai gái đèo nhau vuốt ve nhau như ở chỗ không người. Qua cầu buồn tình dừng xe đái bậy...Tự do được xem đồng nghĩa với vô lối, bất cần, không để ý đến bất cứ ai khác.

Ở trên, chúng ta vừa nói cái đáng sợ nhất đối với người đi đường hiện nay là lối phóng xe ào ào lao tới, gây kinh hoàng sợ hãi. Nhưng đến khi gặp phải cái cảnh mấy cô gái ăn mặc thật diện, lững thững sang đường, sẵn sàng dừng lại nhởn nhơ kéo áo, vuốt tóc ngay giữa dòng xe cộ tấp nập, thì người ta cũng chỉ còn có cảm tưởng về một sự cám cảnh vô duyên. Một khi những cái rề rà chậm chạp vẫn còn tìm được chỗ đứng của mình, trong không khí sôi động nói chung, tức là mọi sự chuyển pha còn dang dở, và cái nếp sống gọi là hiện đại, mới chỉ là bề ngoài, ở trong còn bao điều trơ lỳ, tĩnh tại.

Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới (bản dịch của nhóm Phạm Vĩnh Cư, NXB Đà Nẵng 1997) là một cuốn sách mang tính cách tổng hợp, ở đó, những người biên soạn tìm cách đọc ra trong mọi hình thức của đời sống cái nội dung mà nhiều thế hệ đã gửi gắm vào nó. Theo từ điển này thì chính nhà tâm lý học C.Jung cho rằng “cần coi các xe cộ, trong ý nghĩa tượng trưng của chúng, như những hình tượng của cái tôi. Chúng phản ánh các mặt khác nhau của cuộc sống nội tâm, có quan hệ với các vấn đề phát triển của nhân cách”.

Vậy thì đâu là những cái tôi mà người ta có thể đọc ra, khi nhìn vào dòng xe cộ tấp nập trên đường hôm nay? Dĩ nhiên nay là lúc có thể nhận ra rất nhiều cái tôi năng nổ, cái tôi bứt phá trên đường nhằm đạt tới mục đích xa rộng. Qua rồi cái thời già trẻ bảo nhau nhẫn nại chịu khổ, thủng thẳng đạp xe đến đâu hay đến đấy. Mà mỗi phút bây giờ đều được quy ra tiền của, mỗi người trên xe là một cá nhân khao khát tự khẳng định! Song cũng phải nói, chưa bao giờ như bây giờ, những cái mầm tai hoạ nho nhỏ vùi sâu trong mỗi cá nhân lại công khai bộc lộ trên đường như vậy. Một mặt chưa phải là hết cái tôi bản năng tự phát, đã ngồi trên xe có động cơ phi trên đại lộ rồi mà vẫn mang nặng tâm lý anh chàng đi xe đạp nghênh ngang ở giữa đường làng. Mặt khác, điều đáng lo ngại hơn, là rất nhiều cái tôi hiếu thắng, vênh váo vì có được cái xe lạ, hoặc hỉ hả ra mặt khi vượt trước kẻ đồng hành. Thường thì những cái tôi hiếu thắng này đồng thời cũng là cái tôi thiển cận: Người ta sát khí đằng đằng lao tới trước vì tưởng rằng có thể mưu cầu hạnh phúc riêng cho mình, có biết đâu mỗi cá nhân vẫn chỉ là một phần tử nhỏ bé của cái dòng chảy chung là cả xã hội, thoát làm sao được!

Số phận con người thời nay là phải dành nhiều thời gian cho sự sống trên đường. Song có cái lạ là ở những nước biết tổ chức giao thông hợp lý và đưa nó lên trình độ hiện đại, thường sau khi đi một quãng đường dài, xem đồng hồ, người ta mới ngạc nhiên là mình đã ngồi trên xe đến hàng giờ và vượt qua cả trăm cây số. Ngược lại ở ta nếu tính tới những bực bội mà bản thân phải chịu trên đường từ nhà đến sở, đôi lúc ta tưởng đã đi được rất xa trong một thời gian rất lâu. Song tính kỹ, hoá ra chỉ đi độ 5-6 km trong 10-15 phút gì đấy! Hệ thống đường sá kém cỏi cố nhiên là yếu tố đầu tiên khiến mỗi chúng ta có cái cuộc sống trên đường kỳ cục như hiện nay. Song đấy là chuyện vượt lên trên tầm lo liệu của mỗi người. Rút lại, câu chuyện tôi muốn nói hôm nay chỉ là mong sao mỗi chúng ta khi ngồi trên xe có thêm ý thức về hoạt động của mình, nghĩ thêm hoạt động của mình, nghĩ thêm về mọi mặt phiền toái ta gây cho người khác để rồi biết điều một chút, nhường nhịn một chút trong đi lại - chỉ một chút thôi, thì cuộc sống trên đường của những người đồng hành với mình cũng đỡ nặng nề đi rất nhiều. Và đó chính là văn hoá.

 HỖN LOẠN TRONG GIAO THÔNG       

HỖN LOẠN TRONG TÂM LÝ


    -- Liệu có thể nói rằng hàng ngày phóng xe đi lại trên đường Hà Nội anh chưa một lần vượt đèn đỏ trái phép? 

    -- Anh đừng chối, đúng là không chứ gì? Mượn cái chữ của các cơ quan quản lý, vậy là có những lúc anh đã thiếu ý thức. 

    -- Có bao giờ anh thử giải thích với chính mình tại sao cái gọi là ý thức giao thông khó bồi dưỡng đến vậy? 

    Một anh bạn đã độp vào mặt tôi mà tương ra những câu hỏi hắc búa trên, đúng vào những ngày giao thông đang trở thành câu chuyện đầu miệng giữa mọi người. Bởi anh đã cài trước rằng đừng có chối, nên tôi cũng phải thành thực mà nhận. Nhận rằng có đôi lúc không tự chủ được. Nhìn trước nhìn sau không có công an đứng đón là tranh thủ làm một cú ào qua đường. Chẳng qua không phải là làm thường xuyên thôi. Và phải nói ngay là nhiều lần khác, cái định ào qua đường ấy đã đến, rồi thấy có lẽ cũng hơi nguy hiểm, nên bấm bụng chờ đợi. 

    Tôi nghĩ rằng trước hết ở đây, nói cho to tát ra, có cái tạm gọi là “căn bệnh thời đại”: bệnh sốt ruột. Hình như nay là lúc ai cũng vội. Hàng ngày mở mắt ra đã thấy bao nhiêu việc chờ mình. Ý nghĩ chúng ta đi quá nhanh. Mà tốc độ đi lại thì quá chậm. 

    Đó là một lẽ. Nhưng không chỉ có vậy. 

    Hồi còn sống, nhà văn Phan Tứ (tức Lê Khâm) nổi tiếng máy móc, đi đâu ông cũng túi dết khẩu trang đàng hoàng. Nhà thơ Xuân Quỳnh dự đoán “Ông này 12 giờ đêm qua ngã tư vẫn giơ tay xin đường...”.   

    Theo tôi cái thói quen ấy của Phan Tứ có liên quan đến cuộc sống nền nếp mà bây giờ không sao khôi phục nổi. Những năm bảy mươi của thế kỷ trước, giao thông Hà Nội còn khá quy củ.

    Chắc Phan Tứ cũng có lúc khổ vì thói quen của mình, muốn sửa mà không sửa được. 

    Còn chúng tôi bây giờ thì khác. Cái đời sống nhộn nhạo chung quanh lúc nào cũng thầm thì vào tai tôi “Luật lệ là một chuyện, nhưng kìa, nhìn xem trên đường phố và ở bao nhiêu những góc tối của cái thành phố này, bao nhiêu người đang phạm luật. Mình chỉ là một thành viên bé nhỏ của cái guồng máy khổng lồ. Giữ gìn chỉ thiệt!”

    Ở trên tôi vừa nói là có những lúc tôi đã định ào qua đèn đỏ, rồi kịp kiềm chế, và lâu dần thành một thói quen sống bình tĩnh, từ tốn, sống biết chờ đợi.

     Nhưng có những lúc lạ lắm. Rõ ràng đã tự nhủ rằng “không đi đâu mà vội” rồi, mà vẫn cứ đâm đầu phạm lỗi. Nghĩ lại thì hóa ra lúc ấy có mấy người khác cũng làm cái chuyện bậy bạ đó và mình bị cái tâm lý bày đàn chi phối. 

     Phương Tây từng có câu chuyện ngụ ngôn kể về một anh nọ hại một nhà buôn cừu bằng một cách lừa đơn giản. Trên chuyến tàu vượt bể, anh ta gạ mua của nhà buôn chỉ một con với giá rất đắt. Để làm gì? Để quẳng nó xuống biển. Kết quả đau lòng, cả đàn cừu của gã nhà buôn cùng nhảy xuống theo.

      Tôi biết rằng người ta sẽ cãi lại: “Ý thức của anh đâu?”. Chắc các bạn đã đoán ra, trong con người tôi lúc ấy có một con cừu nó thức dậy. Người ta thích bắt chước nhau lắm. Bắt chước cái tốt thì khó chứ chạy theo cái xấu thì dễ ợt, có ai cần phải cố gắng.

      Hồi Hà Nội còn xe đạp nhiều hơn xe máy, đến Thư viện quốc gia, giới bạn đọc bọn tôi (kể cả những người già như tôi, chứ không phải chỉ các cô các cậu sinh viên) có thói quen phóng cả xe qua cái cửa hẹp. 

      Mới đầu mấy sinh viên nước ngoài nhìn thấy thế lắc đầu, bảo người Việt các anh lạ thật đấy, vội vội vàng vàng, trăm người như một. Vài năm sau, chính họ cũng làm thế, cũng phóng xe qua cửa rồi mới xuống xe, một cách “tự nhiên như người Hà Nội” hoặc theo cái nghĩa nhiều người mới nghĩ bụng chưa nói ra thì phải gọi là “hư hỏng như người Hà Nội”. 

     Nói như dân gian, do ở đây lâu, họ đã ăn phải đũa người Việt lúc nào không biết. Kết luận cuối cùng của tôi: trong điều kiện giao thông vừa manh mún vừa quá tải, nói chung là trong điều kiện đời sống còn rất lạc hậu như hiện nay, những sự hư hỏng là khó tránh khỏi. 

     Nhắc nhở nhau về ý thức là cần nhưng cũng nên biết ở đây không phải chỉ có ý thức mà còn phải tính tới sự khống chế một mớ bòng bong rắc rối gọi chung là tâm lý cá nhân nữa. Trong tâm lý của mỗi người đều in dấu của xã hội. Rồi ra xã hội có tiến lên thì tâm lý con người mới khá lên theo được.

   

LÊN NGÔI VUA ĐỂ CHẲNG CÒN THIÊNG!

                                                                        Đồng tiền với con người thời nay                                                 


     Trong truyện ngắn Không có vua, Nguyễn Huy Thiệp viết khoảng 1988, có một cảnh liên quan đến Tết. Được Khiêm mừng tuổi, chị dâu Sinh chia bớt cho em út Tốn. Tốn cầm tiền giơ lên ánh đèn, hỏi “Tiền à?” Khiêm bảo “Ừ!” Tốn hỏi “Tiền là gì?” Khiêm bảo “Là vua”.

      Trước đó ngay từ đầu truyện, tác giả đã viết: 

     “Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô Sinh mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là một đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh.”

     Ở các đoạn sau, mỗi khi nói tới một nhân vật, Nguyễn Huy Thiệp thường kèm theo một hai chữ, nói rõ mối quan hệ người ấy với đồng tiền.

    Thế nhưng cách kiếm tiền của con người trong truyện thì trầy trật khó khăn, nhiều khi là bằng con đường lừa lọc bất chính. Tình thế Không có vua đã làm biến dạng mọi nhân cách!      

     Trong số những biến động ghê gớm mà chiến tranh và cách mạng mang lại nơi tâm lý mỗi người bình thường mấy chục năm qua có một điểm này: người ta nhiều lúc cảm thấy như chẳng cần gì. Chẳng cần của cải, chẳng cần tiện nghi. Sống thế nào cũng được. 

     Rồi những năm ấy qua đi, nay thì ngược lại. Tâm lý con người như là quay ngược 180 độ. Từ chỗ xem thường đồng tiền, nay cả xã hội quay ra khao khát nó sùng bái nó. Nhiều người tự nhủ miễn là có tiền, còn làm thế nào, bẩn thỉu hay sạch sẽ, không cần biết.        

      Ở những xã hội phát triển bình thường, người ta lấy lao động ra để đổi lấy tiền. Các giá trị ổn định. Và con người được chuyên môn hóa với nghĩa yên tâm làm giỏi cái nghề của mình, rồi sẽ thu nhập tương xứng. 

      Từ chiến tranh bước ra, từ xã hội nông thôn lên xã hội đô thị, con người VN hôm nay quan hệ với đồng tiền với nhiều khuất khúc. Tại sao người này kiếm tiền dễ vậy và người khác lại quá khó khăn? Tìm mãi lý do mà chẳng cắt nghĩa nổi. Điều chắc chắn là có quá nhiều sự bất chính. Cùng là đồng tiền mà giá trị mỗi lúc một khác. Hỗn loạn diễn ra trong xã hội. Hỗn loạn đến trong tâm trí mọi người. Sự thiêng liêng của cuộc sống mà đồng tiền góp phần duy trì, sự thiêng liêng ấy bị đánh mất.   

       Một nhà đầu tư nước ngoài nhận xét, các chuyên gia trẻ VN hình như quá dễ dàng trong việc chuyển nghề, đâu được trả cao hơn là họ đổi sở ngay. Ý người ta muốn nói con đường kiếm tiền chân chính bị chối bỏ, và quan niệm về việc làm người của các bạn trẻ đang có vấn đề. 

     Có điều đó không phải là bệnh riêng của lớp trẻ. Gặp nhiều người bây giờ, không dễ xác định nghề họ đang làm. Cái đập vào mắt ta là con người đó đang lồng lộn kiếm tiền hay mệt mỏi khiếp nhược. Nhiều khi dư luận đánh giá một người giỏi hay kém chỉ là trông vào đống tài sản người đó có. Biết thế là sai, nhưng ngày càng ít ai dám đi ngược lại cách nghĩ phổ biến nói trên. 

     Một ông bạn tôi vừa về quê dự một đám ma ra, kể rằng các đám hiếu hỉ ở nông thôn hiện nay có những người vung tiền rất thoải mái, vét túi cả vốc tiền năm mươi ngàn ném xuống áo quan. 

       Việc hơi lạ, nhưng cái xu hướng mà nó biểu thị thì có thật.       

       Có thể nghĩ lan man về việc này. Riêng tôi thấy sống lại cái cảm tưởng về sự thiêng liêng bị đánh mất.       

       Tự nhiên nhớ tới nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Về già, con đã đi xa, băn khoăn lớn nhất của lão là làm sao bảo quản ít của cải sẵn có. Tài sản nói ở đây không nhiều nhặn gì, bao gồm một ít đất một ít tiền và một con chó. Nghĩ quanh nghĩ quẩn mãi, rồi ông lão đi đến một cách xử sự mà người ngày nay hẳn nghĩ rằng quá kỳ cục. Là lão bán con chó, gom tiền lại gửi tất cả cho người khác giữ, và chọn lấy cái chết tự nguyện. 

       Tóm tắt sơ sơ như vậy, nhưng đọc vào truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao, chúng ta sẽ thấy nhiều mặt cuộc sống của người Việt đầu thế kỷ XX, trong đó có cách ứng xử con người với tiền tài.

       Sau một đời lầm lũi, người thời ấy cũng có một ít của cải nào đó. So với mong mỏi của mỗi cá nhân, số này là chưa đủ. Nhưng con người lúc ấy biết sống trong cam chịu, không oán trách ai. Họ tin họ đáng được như thế. Và họ đối xử với nó hết sức nghiêm túc.       

        -- Không biết ở đâu ra mà cái thằng ấy lắm tiền thế!

        Ngày càng thấy nhiều người thời nay gặp nhau ở một nhận xét như vậy, nhất là người ở các đô thị, nơi đồng tiền điên cuồng trong cuộc luân chuyển linh động.

        Đồng thời đang xảy ra một quá trình mang tính nghịch lý. Càng có nhiều tiền, người ta càng cảm thấy nghèo. Cái sự “vén tay áo xô đốt nhà táng giấy” tiêu pha bừa bãi là dấu hiệu của sự thiếu niềm tin vào tương lai.        

        Toàn bộ thiên truyện Lão Hạc xây dựng trên cái trục chính: lão thà chết để giữ tiền cho con. Vì lão tin rằng đồng tiền ấy có thể có ích cho gã con trai. Đồng tiền với lão vẫn là cái gì thiêng liêng, trong trường hợp này là thiêng liêng hơn cả cuộc sống chính lão. 

        Cái niềm tin ấy với chúng ta ngày nay dường như là quá xa lạ. Ta người hơn hay lão Hạc ấy xứng là người hơn? Tôi tự hỏi mà chưa biết trả lời thế nào cho phải! 


KHỔ VÌ LẮM TIỀN

       Đã dính vào nghiệp buôn, hẳn ai cũng biết cái câu “Buôn tài không bằng dài vốn”. Ấy vậy mà nhiều bà buôn bán nhỏ ở chợ Đồng Xuân gần đây bảo với tôi rằng có lúc thấy sợ cả những đồng vốn giời ơi đất hỡi, tức là cái đồng tiền từ đâu không rõ tự nhiên đến trong tay mình. 

      Sợ với nghĩa có nó thì người ta cứ thấp thỏm không yên. Muốn trổ tài với thiên hạ. Ra tay buôn thật to, ôm thật nhiều hàng. Lòng tham làm mờ cả mắt. 

     Sau này nghĩ lại mới thấy dại.

     Thế này nhé, có phải lúc nào cũng có hàng tốt hàng cần mà ôm đâu. Rồi kho chứa ra sao, bảo quản ra sao. Rồi lo bán lo đòi tiền. Đang đủng đỉnh “nửa ngày bán nửa ngày chơi”, giờ đám ô sin nhà quê mới ra ngờ nghệch phải làm nhiều cứ cuống cả lên, không đổ thì vỡ, không đếm nhầm thì vào sổ sai.

      Đằng sau cái vẻ hoành tráng “phồng phềnh như miếng tóp mỡ”, hóa ra cái mầm hậu họa đã nằm bên trong lúc nào không biết. 

      Kết luận rút ra là phải lượng sức mình. Mình có làm được không thì hãy làm. Không để cho đồng tiền nó kích động.  

      Đồng tiền không bẩn như mấy người đạo đức giả nguyền rủa. Nó được việc lắm, nếu biết sử dụng. Cái chính là anh có điều khiển được nó hay không. Như cái xe mới, trông ai mà chả thích. Nhưng không già tay lái là toi với nó như chơi!

      Xét chung trong phạm vi cả nước, bài học của mấy bà chợ Đồng Xuân không phải là không đáng rút kinh nghiệm. 

      Cả nước đang khổ vì giá cả leo thang, lạm phát nếu không kiềm chế được sẽ gây ra nhiều phiền phức cho an sinh xã hội. 

       Nhiều lý do đã được viện dẫn. Lạm phát toàn cầu, thiên tai, mất mùa. Chính sách tiền tệ và tín dụng, trong đó có liên quan đến đầu tư. Và để chạy chữa, theo lô gích thông thường, có việc kêu gọi thực hành tiết kiệm, việc tăng cường kiểm tra các nhà buôn đầu cơ, việc giảm thuế… 

       Một số nhà kinh tế có cách cắt nghĩa khác. Họ bảo trong số rất nhiều nguyên nhân, một phần còn là đồng tiền nước ngoài chảy vào dồn dập và việc quản lý nó còn thiếu kinh nghiệm.  

       Đúng ra phải nói ta chưa bao giờ phải đối diện với một thực tế như thế này. Chính việc đồng tiền đổ vào mạnh mẽ -- một điều tưởng là “trên cả tuyệt vời” xưa “nằm mơ cũng không thấy” -- lại là một trong những nguyên nhân sâu xa gây ra rối loạn trong đời sống kinh tế nói chung và việc lạm phát nói riêng – toàn chuyện động trời mà ta không biết.  

     Tôi nghe chưa thủng chuyện kinh tế, song bằng lương tri thông thường cứ cảm thấy không chừng đó là một hướng suy nghĩ có lý.

     Tạm ví nôm na tiền tệ giống như thức ăn không chỉ ngon miệng mà còn chứa hàm lượng dinh dưỡng cao. Bởi đã lâu ngày thiếu đói ta tưởng cứ ních thật nhiều vào là đến ông trời cũng không sợ. Có biết đâu nếu sẵn cơ thể ốm yếu không có một bộ máy tiêu hóa khỏe thì mọi chuyện đều vô nghĩa. Tối thiểu là thức ăn bổ mấy cũng trôi tuột đi hết, còn trơ cái thân thể gày còm. Mà nguy hơn còn là tác hại khôn lường. Cái phần béo bổ kia, khi không được sử dụng thích đáng, tự nó trở thành nguồn bệnh. Thế là bệnh cũ chưa xong lại thêm ra những bệnh mới, hoặc bản thân bệnh cũ có thêm diễn biến mới.

      Xưa nay có ai tự nhận là không biết cách ăn uống tẩm bổ bao giờ. Như xưa nay không mấy ai nhận là không biết tiêu tiền. Song sự thực là thế. Ta nghèo quá lâu, không thạo tiêu tiền có gì là lạ. Cả nỗi sợ của kẻ có tiền nhiều, ta cũng chưa biết. Chỉ lố bịch ở chỗ bệnh rõ rành rành mà còn cố đánh trống lấp. 

      Nhìn rộng ra là cả một nếp nghĩ chủ quan đơn giản. Lâu nay cứ tưởng ta khổ ta không ngóc đầu lên được chỉ vì quá nghèo. Dấn vốn không có. Tha thiết mời người ta đầu tư vào một phần. Lại càng không tiếc công sức đi vay. Cầm đồng tiền trong tay vẫn không biết lo. Đầu tư vào chỗ nào đây? Phân chia như thế nào đây? Người quản lý đâu, cơ sở kho tàng bến bãi ra sao? Ai là người biết làm để giao tiền giao vốn? Những câu hỏi ấy không hề được đặt ra.

    Trong lúc còn đang lúng túng giải ngân thì cán bộ với dân được dịp “té nước theo mưa” ăn chơi cứ vung cả lên. Xây trụ sở. Mua xe. Đi nước ngoài chơi bời. Và đánh bạc, không ai bảo ai cứ sểnh ra là vào cuộc đỏ đen.

      Thì tấn bi hài kịch đang diễn ra có gì là lạ?

      Khu tôi đang ở nay là một quận mới thành lập. Trước kia là huyện ngoại thành nên dân khá nhiều đất, thổ cư mỗi nhà vài trăm mét là thường. Nay được dịp đô thị hóa, mỗi nhà cấu trăm mét mang bán cũng thành tỉ phú như chơi. Tiền được dùng vào việc thiết thực, xây lấy cái nhà, mua lấy cái xe. Vẫn chưa hết, một số người …tự mình phá mình. Con bé lái xe gây tai nạn đi tù, con lớn sa vào nghiện hút, nói như các cụ ngày xưa, đồng tiền đội nón đi cả. 

     Khi tỉnh rượu lúc tàn canh, có người ngồi chống tay nghĩ lại đã thấy sợ đồng tiền. Nhưng sợ thì đã muộn. 

    Vậy là dù ở tầm vĩ mô hay ở tầm vi mô, thì đồng tiền cũng hiện ra với cả những phản tác dụng của nó. Thường ở từng cá nhân và từng gia đình, bệnh trạng được chỉ ra nhanh hơn. Còn trong phạm vi xã hội, người ta bị tình trạng phồn vinh giả tạo che lấp tầm mắt, ngại nghĩ thế lắm. Chưa nhận rõ bệnh, thì chạy chữa...còn là mệt!               

NGÀY MỘT HUNG HÃN


         Hội đền Hùng mùa xuân năm 2002 thường được ghi nhận với việc làm ra một chiếc bánh dày 1,8 tấn. Ngày 9-3 âm lịch, trên đường chuyển đến nơi hành lễ, chiếc bánh bị cả trăm người xúm quanh xô đẩy dằng xé. Bà con đi hội đã tự tiện “thụ lộc”. Trong khoảng hơn một giờ đồng hồ, từ 10 đến 11.30 h, chiếc bánh “bốc hơi” hoàn toàn. (Báo Tiền Phong ra ngày 22-4-2002).

        Tôi chợt nhớ lại đoạn tin này khi đọc tin về những vụ tàn phá mới xảy ra trong năm 2008. Đầu năm là những hành vi thiếu văn hóa tại tại lễ hộ Hoa anh đào được người Nhật tổ chức tại Hà Nội, ở đó nhiều thanh niên xông vào bẻ hoa cướp hoa. Tiếp đó đến thời gian chuyển sang 2009 lại một vụ bê bối khác, nhiều thanh niên “xé nát” phố hoa quanh Hồ Gươm, có người còn xông vào bê từng chậu hoa mang về nhà.  

       Có lẽ còn cảnh tượng tương tự đã từng xảy ra mà không ai nói? Điều chắc chắn hơn là những vụ vi phạm nho nhỏ những thất thoát nho nhỏ, nó làm cho những khung cảnh văn hoá thành nham nhở như những chiếc bánh bị chuột gậm.

       Lùi về thời trước, có lần đọc báo Phong Hóa, tôi đã thấy các nhà văn Tự lực văn đoàn kể chuyện đám công tử Hà Nội đi Hội Lim Bắc Ninh toàn lo chuyện đánh nhau và giở trò gỡ gạc kiếm chác -- chữ hồi ấy gọi là chim gái. 

     Bởi vậy trước những diễn biến nhức nhối -- mà điển hình là vụ hoa anh đào ở triển lãm Giảng Võ, -- tôi không lấy làm lạ. Những gì xảy ra ở đây chỉ là một thứ đỉnh lũ của những cơn cuồng vọng hung hãn tự do quá trớn.

     Hàng ngày ta đã bỏ qua bao sự việc tương tự. Hàng ngày thấy những mầm mống của nó, ta coi thường và mặc kệ. Theo nghĩa này, không phải chỉ những người đã trực tiếp vào hái hoa bẻ cành mà tất cả chúng ta đã có lỗi. 

     Tự dăm nay, ở Hà Nội gần như tôi lảng tránh các hội hè triển lãm, ở đó tôi chỉ thấy những đám đông hỗn tạp ồn ào, nó làm tôi buồn thêm về sự xuống cấp của con người. 

      Từng chi tiết một trong vụ hoa anh đào này đáng để chúng ta dừng lại suy nghĩ. Một thanh niên khi được nhắc nhở đừng làm bậy nữa chỉ bảo “Bình thường thôi”. Một người phụ nữ khi cầm hoa trên ta “bị” chụp ảnh, hồn nhiên nói với con “Ngày mai mẹ sẽ lên báo” (trích từ báo Lao Động điện tử). Nếu câu nói thứ nhất nói về tính phổ biến của hiện tượng thì câu nói thứ hai ghi nhận một tình trạng tâm lý đáng lo hơn. Con người hôm nay làm việc xấu một cách có ý thức. Họ đã trở nên chai lì. Đối với họ không còn gì là thiêng liêng nữa.   

      Ai đọc báo chí phương Tây, hẳn thấy những biểu hiện này không phải là quá hiếm hoi với con người trong xã hội hiện đại. Nhà văn Italia U.Eco từng cảnh báo bên cạnh con đường nhân bản, con người đang phát triển theo cái hướng phi nhân. Trên tờ Tin nhanh ở Pháp 1991, nhà triết học A.Gluckman nhận xét “Không gì không thuộc về con người mà lại xa lạ với con người hôm nay cả!”. 

     Tuy nhiên ở xứ mình, mọi chuyện như có gì đặc biệt hơn. Ba mươi năm, cuộc chiến tranh khủng khiếp bòn rút trong con người gần hết điều tốt đẹp và để lại bao mầm xấu. Tiếp đó lại là ba chục năm vật lộn để sống, mà một trong những nội dung chủ yếu là cuộc truy tìm mọi sự chơi bời hành lạc hưởng thụ lâu nay không được hưởng. Nhiều chuẩn mực sụp đổ, trên nhiều lĩnh vực, xã hội rơi vào tình trạng mà các nhà xã hội học gọi là loạn cương (anomia). Thiếu lý tưởng, mất lòng tin vào tương lai, từng người tự thả lỏng mình. Chúng ta nuông chiều chúng ta một cách vô lối. Mọi biểu hiện tha hóa biến chất xảy ra hàng ngày sẵn sàng được tha bổng nếu giả vờ hối hận. Tất cả đã chuẩn bị cho những Đền Hùng 2002, Giảng Võ 2008.

     Không việc gì phải quá hoảng hốt. Cần thiết là nhân đây cả xã hội cùng đặt lại vấn đề về chính mình. Tôi biết nhà xuất bản trường Đại học Bắc Kinh từ đầu 2000 có cả một xê-ri sách hướng tới đại chúng Trung Hoa đông đảo mang tên “Giáo dục tố chất nhân văn”. Dân mình cũng đến lúc phải lo vấn đề có tính đại cục đó.


NHÂN DANH HIẾU THẢO

LÀM VIỆC DÃ MAN


       Tục ném bát hương xuống hồ nước sông ngòi để linh hồn ông bà tổ tiên được mát mẻ vốn có từ lâu đời và từ nhiều làng quê kéo lan đến tận Hà Nội. Trong một bài phiếm luận, Tô Hoài kể có lần dạo chơi phố phường cuối năm tới Hồ Gươm, ông bắt gặp một người đàn bà ra tận gần giữa hồ mò mẫm gì đó. Thì ra bà ta mò bát hương cũ, lấy lên, cọ sạch rồi mang bán như đồ mới.

         Ngày nào cũng phải qua cầu Chương Dương, tôi chứng kiến cảnh ném bát hương và bàn thờ xuống sông Hồng thường xuyên hơn và công khai hơn.

        Cầu Chương Dương vốn là con đường để dân các tỉnh cung cấp rau và gà vịt cho Hà Nội. Buổi sáng vào thành phố còn trưa là thời điểm quay ra. Buôn bán vội vã lúc về có cái gì thừa ném luôn xuống sông, hình như không ai băn khoăn nhiều.

        Đến như cảnh ném bát hương và các loại tro cùng bàn thờ xuống sông thì được người ta làm có ý thức hơn. Có cả những người từ tận phía tây phía nam thành phố cũng lặn lội tìm đến sông Hồng bằng được.

        Những chiếc xe máy ấy thường hai người đèo nhau, người ngồi sau ôm trong tay có khi là một đùm to tướng có khi là những tấm gỗ để thờ. Tới khoảng giữa cầu, chỗ dự tính sông sâu nhất, xe dừng lại. Cái gói đồ đã chuẩn bị kia được ném xuống sông. Và người ta còn đứng một lúc nhìn theo, chứ chưa chịu về ngay. 

         Nhiều lần chứng kiến cảnh ấy, tôi vẫn không sao quen nổi. Chắc những người kia nghĩ đơn giản: con sông thì rộng lớn đến thế, nhà mình chỉ góp thêm một cái bát với tấm gỗ nho nhỏ, có thấm thía gì?!

         Đó là cách nghĩ của cái thời xã hội còn thiên nhiên thiên bẩm. Cốt được việc mình, còn không cần biết tác hại ra sao. Và nghĩ rằng ai cũng làm thế, tội gì mình không làm, không làm chỉ thiệt.

         Một lý do nữa khiến cho người ta mạnh dạn làm, làm một cách hồn nhiên sung sướng. Là làm vậy tức làm được một việc tử tế đối với gia đình. Giả sử lúc đó có ai ngăn cản người ta sẽ lý sự giản đơn rằng không ai có quyền cấm ngườì khác trở thành người con hiếu thảo cả.

         Có biết đâu hiếu thảo đấy mà cũng …dã man đấy. 

         Chợt nhớ lại truyện Con ngựa già của Nguyễn Công Hoan. Truyện tả cảnh người ta chôn sống một con ngựa già ra sao. Con ngựa vốn tận tụy ấy chết rất thương tâm. Ấy vậy mà vẳng lên trong truyện rất nhiều tiếng cười. Khốn khổ, đám lính có làm việc này bao giờ đâu, bởi vậy họ làm rất vụng về, vừa làm vừa lăn ra mà cười với nhau. Con ngựa càng cuống quýt đau đớn thì người ta càng cười to.

        Dường như Nguyễn Công Hoan muốn nói: Sự thiếu hiểu biết khiến nhiều khi con người làm những việc tệ hại một cách vô tâm. Chôn sống con ngựa, họ đã có một hành động dã man mà họ không biết.

       Trong việc ném các thứ đồ thờ xuống sông, chúng ta cũng đang tìm cách giết dần con sông, nghĩa là làm một việc dã man không kém. 

        Không ít trường hợp khác, người ta nhân danh một mục đích tử tế -- ở đây là sự hiếu thảo -- làm những chuyện dã man tương tự. Một người quen tôi trên Sóc Sơn có đứa con gái ngồi đèo sau xe máy trên đường cao tốc Thăng Long Nội Bài, xe bị dính đinh ai đó rải để bẫy. Không kịp phanh, cháu bị ngã và vào viện thì xác định là chấn thương sọ não.

        Sau hỏi lại mới biết chuyện này xảy ra cũng đã nhiều lần, và trong những người làm cái việc độc ác kia có những người rất nghèo. 

      Cá biệt có người khai là anh ta làm việc ấy vì đang cần tiền mua thuốc cho một bà mẹ ốm. Tức động cơ là hiếu thảo với mẹ. 

        Ngay cả khi lời khai kia là đúng sự thật nữa thì tôi nghĩ hành động vẫn có gì bất nhẫn, không bà mẹ tử tế nào muốn con làm cái việc gọi là thất đức đó cả.

       Còn một việc nữa. Nhiều gia đình Hà Nội hiện nay hễ có tang là tổ chức rất linh đình. Nhà chật thì chiếm dụng ngay hè phố, bất chấp cả đường đi lại. Mở loa thật to và thuê những băng khóc sẵn mở suốt ngày đêm. Ai vào viếng có loa oang oang giới thiệu danh tính chức vụ.

       Nhìn những nhà chung quanh mà thấy thương. Họ quằn quại chịu đựng.

      Theo tôi, lối làm ma ầm ĩ để trương ra cả bàn dân thiên hạ cùng biết như thế này thật ra là di lụy của nếp sống lỗi thời. Ở quê, không gian rộng rãi yên lặng làm thế còn được. Nay giữa thành phố hiện đại, nhà cửa xe cộ ken chặt con người đã rõ là không hợp. Bởi chúng ta chưa nghĩ ra một cách làm khác nên phải theo nếp cũ vậy. Nhưng tôi tưởng nên lưu ý nhau rằng phải đặt mình trong không khí chung của phố xá để đỡ làm phiền mọi người.

     Bạn tôi kể có lần gia đình có đứa con nhỏ bị ốm quấy khóc suốt đêm, giữa lúc ấy nhà hàng xóm có tang, loa mở hết cỡ rót vào cửa. Ôm con mà sốt lòng sốt ruột. Nhưng đành bấm bụng chịu không dám mở mồm ra đề nghị người ta mở loa be bé một chút. Vì biết thời này có ai nghĩ về hậu quả việc mình làm với người khác? Và một khi có dịp phô trương lòng hiếu thảo thì chẳng ai chịu từ bỏ.



















CẦN NHỮNG KHÁNG SINH

CHO NHỮNG CĂN BỆNH TÂM LÝ

                                       

     Khi nghe chuyện cáp quang trên biển bị lấy trộm nhiều người thường than thở: 

   -- Thật không sao hiểu nổi tại sao dân mình lại có việc làm kỳ cục đến vậy. 

    Có người bổ sung:

   -- Mà việc làm đó được chính quyền địa phương cho phép cơ chứ! 

      Tự lý giải để hiểu tại sao lại xảy ra những trường hợp như thế này không quá khó.  

      Với con người hiện đại, việc gì cũng có thể. Trong khao khát kiếm sống mà lại không được chuẩn bị, sự liều lĩnh của mỗi cá nhân ngày một đẩy xa mãi so với giới hạn cho phép. Chỉ cần nhìn nhiều ngã tư Hà Nội như ngã tư Bà Triệu – Nguyễn Du thì biết. Người ta bán hoa quả ngay trên lòng đường nhựa bất chấp xe pháo xếp hàng chờ đèn hiệu và sự ùn tắc có thể gây ra tai nạn bất cứ lúc nào. Trước khi có vụ PMU18, tôi cũng không thể tin là có những người có trách nhiệm trong ngành giao thông lại dám thay lõi sắt bằng lõi tre trong những cọc tiêu chắn bên các đường quốc lộ. Có việc gì dân mình ngán đâu?   

      Mấy ông chính quyền đó không tự trên trời rơi xuống. Họ cũng từ dân mà ra. Bao nhiêu năm nay đã vậy! Thiếu gì người cùng làng cùng xóm hoặc anh em họ hàng các ông ấy là ngư dân, đang không biết làm ăn trên biển ra sao, những người này hàng ngày thúc bách người có quyền làm mọi việc miễn sao có tiền. 

      Biết đâu trong số ký tên đóng dấu ban hành cái giấy phép này chẳng có người mấy năm trước cũng là ngư dân và đã từng đi cắt cáp quang mang bán?   

     Để hiểu và đỡ bất ngờ về những chuyện còn xảy ra nữa, hãy thử xem lại quan niệm về những người dân thường. 

     Trong số các truyện ngắn của nhà văn Nga Anton Chekhov (1860—1904), tôi nhớ có một truyện (hình như tên là Cái đinh đóng móng ngựa). Truyện viết về một nông dân Nga (mà người ta hay gọi là một mugich) ra tháo một bù loong trên đường sắt để về làm đinh đóng móng ngựa. Đến khi đưa ra tòa anh ta còn cãi. Lý sự của người mugich đó khá đơn giản. Thiếu một cái bù loong, xe lửa vẫn chạy. Còn thiếu đinh đóng móng ngựa, tôi biết làm sao cày ruộng lấy lúa mì nuôi vợ con tôi. 

     Tôi đã một đôi lần nhắc tới thiên truyện này, nhưng vẫn cứ thích trở về với nó, bởi thấy nó gần với xã hội mình, con người mình hôm nay quá. Gần tới mức giá có nói dân mình bây giờ chẳng khác dân Nga thế kỷ XIX cũng không phải quá. Cả hai, do khổ quá lâu, đều thiếu ý thức đầy đủ bề cuộc sống hiện đại nói chung. Và cụ thể hơn, thiếu ý thức pháp luật. Tức là cái ý thức rằng mình buộc phải tuân theo những quy định nào đó mà xã hội đã đề ra, bất chấp cái đó có lợi cho mình hay không.

    Có một triết lý lờ mờ nằm sau việc làm của họ. Triết lý đó là “Chỉ có những việc không làm được, chứ không có việc gì không được làm”. Buộc họ phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả xảy ra ư, vô ích. Họ không thể nghĩ quá sâu xa như vậy.

     Do chỗ lâu nay, những việc như thế này kéo dài mà không hề bị lên án – hoặc nói như nghề y, để bệnh thành ra mãn tính – nên vào những ngày này, tình hình đã có những diễn biến mới. 

      Hãy nhớ lại chuyên ở nhiều vùng đánh cá, dân vay tiền về không lo đóng thuyền mua lưới làm ăn, mà trước tiên ăn uống lu bù, rồi sắm sanh quần áo xe cộ, rồi đổ đi xây nhà, sau Ngân hàng có đến kiểm tra thì cười trừ.

      Chỉ cần nghe nói có vùng đất mình ở sắp vào quy hoạch là người ta bôi ra đủ thứ diện tích xây dựng nham nhở để bắt nhà nước đền bù – chuyện ấy xảy ra ở đủ các nơi, từ vùng xa vùng sâu, tới ngay đất thánh Hà Nội.

      Sau cái thời “đói ăn vụng túng làm càn”, nay đã sang cái thời “không đói cũng ăn vụng, không túng cũng làm càn”, khiến cho cái câu “bạc như dân bất nhân như lính” của người xưa cứ len trở lại trong đầu mà không sao tìm ra cách gạt hẳn nó đi được. 

       Nhưng sự hư hỏng của một bộ phận nhân dân là cái có thực làm sao chối cãi được nữa?! Là một căn bệnh, với nhiều người nó đã vào sâu lục phủ ngũ tạng.

      Nhận thức có liên quan đến cách giải quyết.

      Sau sự kiện này ai cũng bảo phải xem xét về ý thức. Phải chăm lo giáo dục. Và giáo dục đại khái là tập hợp lại lên lớp người ta, buộc người ta phải hứa nay mai không tiếp tục. Dù có đưa ra các hình phạt ra răn đe nhưng chỗ trong nhà với nhau, ai cũng hiểu là giơ cao đánh sẽ, rồi hòa cả làng.

       Còn một cách làm nữa là tìm hiểu tâm lý người ta, trình độ hiểu biết của người ta để chữa chạy bằng những biện pháp cần thiết, kể cả các loại thuốc đắng. 

      Chỉ bước sang thời hiện đại nhân loại mới tìm ra kháng sinh. Kháng sinh là thuốc hủy diệt mầm bệnh. Kháng sinh dùng qua liều nguy hiểm. Nhưng để chữa chạy các bệnh mà người xưa bó tay, nó là đặc trị. 

      Cần những liều kháng sinh như thế trên phương diện chính sách xã hội.


CHUYỆN LAN MAN

TỪ NHỮNG CHIẾC XE GẮN MÁY

  

       Có những lúc trong đầu óc người ta nẩy sinh ra một vài ý nghĩ chính mình cũng không ngờ, lại thấy như là kỳ cục, không hiểu sao nó lại tìm tới mình để rồi mọc rễ trong đầu, muốn gạt đi cũng không nổi. Thuộc loại cái “ý nghĩ khi khỉ” đó – chữ của Nguyễn Công Hoan – xuất hiện nơi đầu óc tôi ngay trong những năm chiến tranh là một chút khó chịu với chiếc xe đạp. 

     Hồi đó Hà Nội nghèo lắm, nhìn ra đường chỉ thấy xe đạp, và cái món tự hành xa này lúc đó cũng còn ít, mỗi con phố hẹp Hà Nội lưa thưa vài chiếc. 

     Với một thanh niên mới vào đời như một số bạn bè tôi lúc đó, việc mua được một chiếc xe là một sự kiện lớn. Tôi như biết bay trong con ngựa sắt của mình. 

    Vậy mà đôi lúc, tự nhiên thấy nó kỳ cục, ý tưởng sao mà lạ vậy …

    Cho đến lần tôi được đọc truyện ngắn Người trong bao của nhà văn Nga A.Chekhov. Trong truyện có cái cảnh hai người giáo viên, một nam một nữ, mặt đỏ gay, cưỡi xe đạp phóng qua một ngọn đồi vùng quê, lại còn trò chuyện với nhau ầm ỹ. Trong con mắt nhân vật chính Belikov, cái cảnh ấy kỳ quái tới mức không thể tưởng tượng nổi. Hắn bảo với một người khác:” Cái gì lạ thế? Hay là tôi lóa mắt? Chẳng lẽ giáo viên trung học và đàn bà con gái lại có thể cưỡi xe đạp sao tiện?”

    À ra thế, không phải riêng mình mà hóa ra nhiều người đã thấy buồn cười khi nhìn vào một xã hội mỗi người nhông nhông một chiếc xe đạp, tôi tự nhủ. Chẳng qua không còn có cách nào nên đành chịu vậy!

    Thì bây giờ lại đến xe gắn máy!  

    Vài chục năm gần đây, cái phương tiện này đã dính vào con người xứ mình. Sự có mặt của nó gây nên một khí hậu sống. Có lúc tôi muốn gọi nước mình là “xe máy quốc”. 

     Nhìn vào nhiều gia đình Hà Nội thấy nó chình ình ngay đầu giường. Mở mắt ra là thấy có tiếng xe rú ga trong ngõ. Mỗi buổi sớm có dịp nhìn lên cầu Chương Dương, tôi phát ngán vì lớp lớp xe ken đặc và khói xả khét lẹt.

      Và đáng sợ nhất là những nét mặt người ngồi xe, người nào mặt mũi cũng hằm hằm khó chịu, con mắt chăm chăm tìm chỗ hở để luồn lách đi tới.

      Nhiều lần chứng kiến một đám thanh niên châu đầu xe máy tán chuyện giữa đường, tôi cảm thấy như các chiến binh thời xưa mỗi người một ngựa sẵn sàng ra roi phi thẳng vào vùng chiến địa.

       -- Ngồi lên xe tự nhiên là cái ngông nghênh trong con người mình nổi dậy, muốn vượt lên thật nhanh, muốn cả thiên hạ phải nhìn theo khâm phục. Khoái lắm chứ!

        Một thanh niên đã giải thích cho tôi như vậy. Nó là tâm sự của cả mấy thế hệ từ chỗ chỉ có cái xe đạp kẽo kẹt, nay có trong tay một phương tiện cơ giới sản xuất từ các nước phát triển. Ta có ảo tưởng là ta đã trở thành con người hiện đại.

     Có biết đâu tình trạng cả triệu chiếc xe cùng rồ máy bóp còi chen lấn chỉ tố cáo một tình trạng xã hội cổ lỗ, manh mún, mới dừng lại nửa vời trên đường hiện đại. 

     Những ngày Hà Nội mưa rầm rả rích, trời đất tôi tối mờ mờ, từ sở trở về, nhìn hàng xe ken chặt các con phố hẹp trong tiếng loa phường văng vẳng, người hay mủi lòng cảm thấy một không khí thực sự trung cổ.

      Thêm một chuyện nữa khiến tôi càng không dứt bỏ nổi sự khó chịu nói trên. Mấy chuyến du lịch bụi cho tôi tận mắt thấy bên Trung quốc, sự lưu thông xe gắn máy ở các thành phố lớn hạn chế đến mức tối thiểu. Họ bảo loại xe này chỉ làm loạn thành phố. Làm ăn kinh tế ở họ rộn rã nhưng trong trật tự. Ai cần dùng phương tiện cơ giới, xin mời đi xe bus. Ai thích riêng tư, trước khi sắm cái ô tô của mình, hãy cứ bằng lòng với cái xe đạp. Các đường phố vận hành như một cỗ máy khổng lồ. Con người hiện ra với vẻ đẹp của sự bình thản tự tin.

     Làm sao để có ngày dân ta thoát khỏi chiếc xe gắn máy bây giờ? Một câu hỏi như thế đến với tôi từ mấy năm nay và càng ngày càng cảm thấy không có lời giải đáp.

     Thoát khỏi xe máy với nghĩa tổ chức lại mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Để sự giao lưu thông thoáng. Mà cũng để mang lại những quân bình trong tâm lý con người. Mỗi cá nhân sẽ không loay hoay cạnh tranh với người đi bên cạnh mình. Ta biết phối hợp với người khác để làm việc. Và cả xã hội sẽ nhịp nhàng vận động về phía trước. 

     Vừa nghĩ tới, đã thấy xa xôi lắm, cái sự giải thoát đó! Nỗi buồn phiền ngán ngẩm với ngày hôm nay lặp đi lặp lại hóa nhàm, sự sùng bái hiện tại đang là phương thuốc làm dịu lòng người, ai hơi đâu mà trăn trở về cái chuỵện vặt là chiếc xe gắn máy?

    Trong lúc nghĩ ngợi lẩn mẩn nhìn sang Trung Hoa, tâm trí tôi lại còn nẩy ra một câu hỏi khác: 

    -- Cũng xuất phát từ những thành phố ken đặc xe đạp như ta, sao họ lại sớm có cái quyết định thông minh như vậy?

    May quá lần này tôi không bí nữa. Câu trả lời cho tôi đã nằm sẵn trong cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc (Nguyễn Văn Dương dịch, 2002) phần viết về Triệu Ung. 

     Ông này là vua một nước nhỏ thời Chiến quốc, chủ trương nhiều cải cách, trong đó có lối ăn mặc. 

     Nguyên là trước đó, dân Triệu cũng như dân Hoa Hạ nói chung sống theo một nhịp thong thả chậm chạp. Họ mặc lối cổ, áo dài tay, thân rộng thùng thình và đề lên thành lễ nghi. Ăn mặc như thế để cưỡi ngựa bắn cung thật hết sức bất tiện. Trong khi đó quân Hồ -- một dân tộc thiểu số phía bắc - quần chẽn, áo ngắn, ôm chặt lấy người. Y phục gọn gàng, nên có trở nên thiện chiến cũng không phải lạ. 

      Sau khi khảo sát kỹ càng, Triệu Ung buộc từ người lính ngoài chiến trường tới văn võ bá quan trong triều, phải thay đổi phục trang ăn mặc theo kiểu người Hồ.

      Nên biết là trong trường hợp này, người cải cách chịu áp lực lớn từ chung quanh. Có người nói “Mặc y phục phương xa, làm mất nền giáo hóa cổ, làm thay đổi đạo lý”. Theo họ, phong tục xưa đã vậy, nay không có quyền thay đổi. Triệu Ung đáp lại: “Vì lợi ích của đất nước, bất tất phải theo phép xưa”. Và trong bàn tay nhào nặn của ông, nước Triệu trở nên một xứ sở khác. 

     Mẩu chuyện trên thường trở đi trở lại trong tâm trí tôi bởi lẽ nó cho thấy sự đồng bộ của đời sống. Một thời đại thường được đánh dấu bằng những tư tưởng mà người ta phát biểu, bằng những phát minh sáng kiến lớn lao. Nhưng chính những chuyện tưởng là nhỏ nhặt như ăn mặc đi lại, cùng là nhu cầu thay đổi tìm ra cái tối ưu trong những phương thức sinh hoạt…cũng là một thứ chỉ số nó cho thấy người ta đang ở chặng đường nào của lịch sử. 

    Danh nhân một nước thường được hiểu là các nhà hoạt động chính trị quân sự, các nhà triết học, nhà tư tưởng, văn gia, thi gia… Nhưng trong cuốn 100 danh nhân có ảnh hưởng đến lịch sử Trung quốc nói ở đây, bên cạnh những cái tên như Tần Thủy Hoàng, Khang Hy, Càn Long, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Lỗ Tấn… tôi đọc thấy có một vài trường hợp lạ như Công Thâu Ban, tổ sư nghề mộc và nghề xây dựng, hoặc Hoàng Đạo Bà là người có công cách tân hệ thống công cụ dệt vải, nâng cao kỹ thuật dệt.

     Và tôi đọc thấy trường hợp Triệu Ung. Các nhà sử học sau này ghi tên ông vào lịch sử như một người mang lại biến đổi đánh dấu một thời đại, do đó đáng gọi là vĩ nhân. 

     Tôi không ghi được xuất xứ, nhưng nhớ có một bài báo đã viết rằng một trong những phát minh lớn nhất của nhân lọai hiện đại là phát minh ra cái hố xí tự hoại.

     Người Trung Hoa cũng có lối nghĩ thiết thực tương tự. 

     Còn ở ta thì sao? Các đầu óc ưu tú của nước ta thường chỉ tập trung vào đánh giặc và làm thơ. Từ xưa đến nay, bao thời đã vậy. Nói một chuyện nhỏ: có lẽ trừ vài nghề đặc biệt như nghề dệt, còn ở các làng thủ công Việt Nam, người ta thường bày ngay đồ nghề trên nền nhà, và ngồi trên những chiếc ghế lè tè sát mặt đất mà hành nghề. Bao nhiêu nước chảy qua cầu, chưa thấy ai nghĩ chuyện thay đổi.    

















TỪ ĐÔI DÉP ĐẾN CHIẾC MŨ BẢO HIỂM


       Các bạn còn trẻ hiện nay có lẽ it ai biết rằng ở nông thôn Việt Nam cũ người ta phần lớn đi đất. Giầy dép là một thứ xa xỉ. Không ai nghĩ tới chuyện làm ra chúng nữa. Sau một ngày làm ăn lam lũ chiều về cũng chỉ rũ chân qua loa. Chế giễu ai, người ta bảo người đó là loại dân “ba xoa hai đập”. Thế là thế nào? Tức là trước khi đi ngủ thì lấy hai chân xoa vào nhau vài cái cho bụi rã ra, rồi cuối cùng phủi nốt bụi bằng cách đập thật mạnh hai bàn chân vào nhau một hai cái. Coi như xong! Ở nông thôn xưa nhiều nhà mùa rét chỉ nằm ổ rơm (Tục ngữ có câu No cơm tấm ấm ổ rơm). Không sợ chân đi đất thì làm bẩn chăn, -- sự tiện lợi của việc đi đất lại có thêm một lý do để duy trì.

     Thói quen coi thường giầy dép còn lại đến ngày nay. Chỉ cần nhìn vào cài mà đôi chân người ta đang mang và thái độ người đó với giầy dép nói chung, tôi biết được một phần mức độ người đó văn minh lịch sự đến đâu, làm chủ con người mình đến đâu.

     Không phải là tôi ra cái điều cầu kỳ, muốn mọi người học đòi chơi bời ăn diện. Ý tôi chỉ muốn đề nghị chúng ta phải nghĩ thêm về những chuyện nhỏ nhặt, vì nó liên quan đến trình độ làm người cũng như cái sự sẵn sàng tự điều chỉnh để thích ứng với cuộc sống đang biến chuyển rất cần cho chúng ta hôm nay.

     Hàng ngày vào lúc mờ sáng tôi thường có dịp qua cầu Long Biên. Đây là lúc các loại rau quả gà vịt đưa về Hà Nội. Đây cũng là thời điểm để các xe đạp thồ đưa than sang thành phố phục vụ việc đun nấu của các hộ nghèo bắt đầu hoạt động mạnh.

      Khỏi phải nói là những người đạp xe đưa than này vất vả như thế nào rồi. Xe thì cũ, than thì ướt, lại tham chở nhiều. Mà lấy đâu ra xe tốt bây giờ, những xe này may lắm chỉ được đôi vành cứng, ngoài ra “không phanh không chuông không gác đờ bu”, là cái giá đỡ biết đi, chứ đâu còn là xe nữa.

     Lúc tôi hiểu rằng họ không chỉ điều khiển xe bằng đôi tay mà bằng cả sự vặn vẹo của thân hình và đôi chân, thì cũng là lúc tôi nhận ra họ chỉ có đôi dép rất tồi. Dép không có quai hậu. Lại nát lại hỏng. Một mặt tôi khâm phục sự nhẫn nại của họ. Mặt khác tôi băn khoăn: Tại sao họ không nghĩ đến việc kiếm lấy một đôi giầy cho chắc chắn? Sao họ cứ bám lấy đôi dép lê cà tàng vậy? Một đôi giầy vải thì có đắt đỏ gì? Mà sao họ cứ để những đôi dép nát vắt kiệt thêm sức lực?

         Phố phường Hà Nội hàng ngày được lấp đầy bằng vô số người từ nông thôn lên. Có bao nhiêu người bán rong thì bấy nhiêu người chỉ kéo lê trên đường bằng những đôi dép cà khổ. Chỉ cần nhìn vào đây đủ hiểu trình độ đô thị hóa của dân ta. 

       Tôi nhắc lại chuyện những đôi dép để liên hệ tới một việc bây khác, bây giờ đã thành nếp, nhưng lúc đầu trầy trật mãi: đội mũ bảo hiểm.

      Tại sao cái việc đơn giản, ai cũng thấy phải, nước nào cũng làm, mà ở mình lại phải có một cuộc vận động rồi thành nghị quyết và tổ chức ra đủ mọi lực lượng kiểm tra cũng như xử phạt như vậy?

       Ở đây có lý do nằm trong tâm lý con người hậu chiến. Đã từng vào sinh ra tử, người ta dễ coi thường cái chết. Rồi có lý do của cái và cả nếp sống quen tự do, không muốn có gì bận vào mình.  

       Khi Sài Gòn mới giải phóng tôi cùng với các đồng nghiệp ở Tạp chí Văn Nghệ Quân đội thuộc biên chế của Tổng cục chính trị và một thời gian cùng sống trong căn nhà 61 Lý Tự Trọng. Tôi còn nhớ một chuyện hơi kỳ: mặc dầu các phòng đều có toa-lét, nhưng nhiều người cứ thích ra cái bể nước công cộng, ở đấy người ta được vừa tắm vừa kháo nhau chuyện nọ chuyện kia, rồi dội nước ào ào.

      Tôi chỉ thực hiểu ra điều này, khi nhớ lại là, phần lớn đồng đội của tôi là những người nông dân. Một khúc sông tự nhiên hoang sơ, một cái đầm làng bát ngát, hoặc một cái giếng thơi…, đó là những chỗ tắm quen của chúng tôi trước khi vào đây. Từ nơi tắm rửa đến cái mũ trên đầu, bất kỳ cái gì gò bó và gây cảm giác chật chội, chúng ta đều ngại.  

       Sau hết tôi muốn trở lại câu chuyện nói lúc đầu, về những đôi dép. Bước ra từ xã hội của nền kinh tế tiểu nông ta quen gặp đâu hay đấy thế nào cũng xong. Ta bằng lòng với sự cẩu thả. Ta có tâm lý bảo thủ, khó từ bỏ những thói quen cũ cũng như ngại thích ứng với cái mới. Tất cả những biểu hiện của một quan niệm sống lạc hậu mà tôi đã chứng minh qua việc coi thường những đôi dép lại thấy xuất hiện trong sự lần chần không chịu kiếm ngay cái mũ cần thiết mỗi khi đi lại trên những con đường lớn.

      Vài chục năm nữa, sự kiện này sẽ được nhắc lại với nụ cười mỉm: chúng ta đã từng ngây thơ như thế, trên con đường đi tới xã hội hiện đại.  














TẢN ĐÀ VÀ HỊCH ĐUỔI KẺ ĂN MÀY



 Vốn đã là câu chuyện đầu miệng của nhiều người, chuyện dân ăn xin hành nghề ở các đô thị cũng đã có lúc được đưa lên mặt báo, ví dụ trên Tuổi trẻ chủ nhật số ra 23.XI.1997. Bài viết này chốt lại ở cái ý: chúng ta phải cùng lo tìm cho được một biện pháp hợp lý. Thương người cũng phải có cách thương hợp lý, nếu không lòng tốt của chúng ta chỉ gây thêm tác hại. 

Tôi rất tán thành kết luận nói trên của tác giả Nguyễn Thị Oanh và nhân đây muốn chúng ta cùng để mắt tới một chuyện tương tự mà dưới đây tôi sẽ nói. Cả hai hiện tượng nhếch nhác này có chung một gốc rễ. Nói cách khác, khi làm công việc của mình, hai loại người này có chung một động cơ, một cách nghĩ, và đấy là điều ta phải giải quyết cho sòng phẳng.

Đó là chuyện những người bán hàng theo lối bán lấy được.

Đến thăm một vùng đất mới, người ta không thể ngồi mãi trong khách sạn mà phải lang thang ra phố. Nhưng người nước ngoài đến với các đô thị ở ta gần đây kêu trời vì chuyện trên đường họ bị mấy thanh niên chạy theo ép mua bản đồ hoặc các thứ quà lưu niệm lặt vặt. Đại khái vừa thấy họ ló mặt ra là tiếp cận ngay lập tức. Dí sát thứ hàng đem bán tận mắt người ta. Mời một lần không được thì bám nhằng nhằng mời đi mời lại, khiến người ta phát ngán. Đến mức có người khách du lịch đã phải chăng ra sau lưng tấm biển có hàng chữ:

--Tôi không cần mua đồ kỷ niệm 

-- Tôi không cần thuê xe 

      Họ chỉ cần yên ổn để đi du lịch trên đất nước này. 

      Và sự mời chào mua hàng đối với họ đã là một sự làm phiền không thể tha thứ.

      Hàng đem bán có thể là du khách cũng cần. Nhưng điều đáng sợ là cách bán nài nỉ, ràng buộc và lối đặt giá cao. “Đã là dân du lịch, ắt hẳn lắm tiền. Đồng rơi đồng vãi của họ cũng đủ nuôi mình sống một cuộc sống đàng hoàng. Vậy thì hãy rán sức ép cho họ phải mua. Khi mình đã nghèo hơn họ, thì có quyền làm gì cũng được, miễn sao lôi được tiền trong ví họ ra”. Trong cách nhìn, lối cư xử của đám người bán hàng thấy toát ra những ý tưởng như vậy, và bởi lẽ tin chắc như đinh đóng cột rằng đó là một thứ lẽ phải thông thường, nên họ càng thấy mình có quyền lấn tới làm theo ý muốn.

Đọc đến đây, có thể có bạn đọc thầm nghĩ chuyện mấy người bán hàng nói trên là chuyện vặt, làm gì có ý tưởng sâu xa nào chi phối họ trong khi hành động. Tôi cũng nhận là những người ấy có thể chẳng suy nghĩ gì nhiều. Song vẫn muốn tin rằng họ có cách lý sự của họ, và tôi chỉ thử gọi lên điều họ thầm tự nhủ. Điều cần nói thêm ở đây là một số người chúng ta tuy không thích các hành động ấy, song vẫn ngầm tán thành lý sự của họ, xem đó là một cách nghĩ hợp lý. Chẳng những thế, trong quan hệ với người nước ngoài, ở những công việc lớn lao và hệ trọng hơn - dịch vụ, buôn bán, tiếp xúc, đưa đón... - không ít thì nhiều, một số chúng ta cũng đang bị những ý tưởng tương tự chi phối. Đại khái cái lô-gic ở đây cũng khá giản dị: Tức là nhân danh sự nghèo khó để làm liều làm bậy. Cho rằng trước cái nghèo khó của mình, mọi người giàu có đều có lỗi. Và với người nghèo khó, chỉ có những việc chưa làm được, chứ không có những việc bị cấm, không bao giờ được phép làm. Một lối suy nghĩ như vậy, thoạt nghe cũng có vẻ có lý, hơn nữa, nó thúc đẩy chúng ta xoay xoả tính toán, nó giải phóng ở ta nhiều “sáng kiến” và giúp ta bớt ngần ngại mà thêm kiên trì trong công việc. Nhưng xét về lâu về dài, nó chỉ hạ thấp chúng ta, và níu kéo không cho phép ta vươn lên làm ăn ngang tầm với người. Trong chừng mực nào đó, những người ăn xin còn tồn tại, cũng như đám bán hàng theo kiểu pressing còn hành nghề được, là vì ở ta, cái mầm mống triết lý của họ chưa bị rũ sạch.

Có một điều kể cũng thú vị, liên quan đến bài viết của tác giả Nguyễn Thị Oanh về dân ăn mày. Trong khi lục lọi các tài liệu văn học sử hồi đầu thế kỷ, ngẫu nhiên tôi tìm được một bài hịch lâu nay ít ai để ý: Hịch đuổi kẻ ăn mày của Tản Đà. 

Bài hịch này mở đầu bằng một đoạn dẫn nói rằng nhiều người ăn xin chẳng qua lười biếng, không chịu làm lụng. “Nhất như những đứa trẻ con đứng chực dưới xe điện và tụ họp ngoài cửa ô, thật có người nói chuyện với tôi rằng: nhiều người ở làng cạnh muốn nuôi chúng nó chăn trâu mà chúng nó không đi, cứ làm nghề xin xu, để dễ sự no ấm”. Và sau khi dẫn lại một câu trong sách Mạnh Tử: “Sự cho người có khi làm hại sự ân huệ”, tác giả nói thêm “sự không đáng thương xót mà thương xót, đó là vô học”. Tiếp đó, trong phần chính văn, tác giả viết:

Hôm hôm mai mai

Bị bị bát bát

Quỷ đưa đường, ma dắt lối

quen ngõ thời vào

Nay được thịt, mai được xôi

thấy mùi đánh mãi

Cửa ô, xe điện

Rêu rao quạ vỡ chiều hôm

Đám hội, nhà chay

quấn quýt gà què gặm cối

Làm xấu hổ cho cả nước

Khéo bêu nhuốc cho loài người

Bảo mãi mỏi mồm

Trông càng nhớp mắt

Nào là

Người nhà, con vú

Thằng ở quân hầu

Truyền là bay đóng chặt cửa vào

Thây cha chúng nó.

...

     Người trong gia đình Tản Đà đến nay còn kể: Trong những lời ông dặn dò con cháu, có hai điều cấm, cấm không được làm quan và cấm đi ăn mày.

      Khi biết rằng những điều hôm nay chúng ta bàn bạc, nhà thơ núi Tản sông Đà đã đả động tới từ hơn nửa thế kỷ trước, chúng ta càng tin không phải là mình nhẫn tâm mà đang suy nghĩ đúng.

      Lâu nay bài hịch này của Tản Đà không được nhắc nhở tới có lẽ một phần là vì nó đi ngược lại mọi ảo tưởng về nhân đạo và từ thiện vốn nằm sâu trong tâm thức mọi người. Còn như nếu chúng ta muốn tìm tòi một cách suy nghĩ khác đi, nó có thể là một trong những trợ thủ. Nhất là khi thói quen nhân danh sự nghèo khó vẫn đang được bộc lộ trong vô số hành động khác nhau, kể cả những việc bề ngoài có vẻ chẳng dây dưa gì hết tới chuyện ăn mày.




















LƯU MANH CÔN ĐỒ CŨNG NGÀY MỘT ĐỔ ĐỐN


Lưu manh côn đồ phát triển đã không còn lẻ tẻ và ở dạng tự phát mà tập hợp lại thành hẳn một thế lực xã hội một bộ phận của đời sống. Thế lực này có mặt ở khắp nơi, họ như thứ xe càn xe ủi tham gia giải quyết mọi việc.

Tôi nghĩ vậy vì nhớ là từ dăm bẩy năm trước, đọc VNExpress đã thấy có cái tin khoảng 500 người kéo tới Công ty cổ phần xây dựng và lắp máy Trung Nam (quận Liên Chiểu, Đà Nẵng) để phản đối việc gây ô nhiễm môi trường. Và khi không giải quyết được với nhau, gây ra xung đột, người ta nghi ngờ công ty có liên quan việc thuê côn đồ đánh dân.

Một chuyện có tính chất phổ thông hơn. Anh A. có căn nhà phần ngoài hàng rào bị lấn chiếm. Tính đi trình chính quyền địa phương. Anh B. can, làm thế vô ích, các ông ấy lại vòi tiền cũng quá chết, mà không chừng chính các ông ấy bảo kê cho việc họ làm. Nhờ làm sao được, B bảo.

A đáp thế thì mình đi thuê luôn đám dân anh chị ấy vậy.

B mới giảng cho biết là thuê được bọn họ cho êm thấm cũng không phải dễ. Bọn họ cũng hay bắt nạt mình lắm, quát giá đã cao, mà nhiều khi còn ăn vạ. Chẳng hạn, thanh toán xong họ còn kêu rêu nào là nguy hiểm quá, nào bị thương khi hành nghề, xin các anh cho thêm, không cho không được.

Sau B phải giúp A mãi mới tìm được một đầu mối ra giá sòng phẳng mà lại gọn việc.

Trong đầu óc tôi nẩy ra một số câu hỏi.

Phải chăng côn đồ lưu manh xã hội đen hôm nay cũng là cả một xã hội thu nhỏ?

Có kẻ vô tình làm liều? Có bọn theo lời rủ rê rồi sau không bỏ nổi nghề? 

Có kẻ ngồi đấy chỉ huy kẻ khác? 

Có huấn luyện có tổ chức? Có xuất đi nước ngoài để học hỏi và sau đó quay trở về hành nghề đắc lực hơn – tức là có chuyện hội nhập văn hóa?

Nguyên Hồng quá quen với học sinh Việt Nam qua tiểu thuyết Bỉ vỏ. Lâu không đọc lại nhưng chỉ nhớ hồi ấy cái làm bọn tôi được giảng rõ nhất là cái ý ngược đời. Tác giả muốn hé ra cho thấy là đám dân anh chị ấy nhiều người đời sống tâm hồn cũng chưa đến nỗi hư hỏng, ở họ còn có tình người.

Lưu manh thời nay không được văn học sau 1945 miêu tả. Nhưng tôi cho rằng, nay cái loại lưu manh như của Nguyên Hồng không còn nữa.

Thời buổi này đến cả những người bình thường và các trí thức, các loại quan chức cũng lưu manh hóa thì tìm đâu ra dân ăn cắp ăn cướp chuyên nghiệp còn lương tâm loại như Tám Bính?

Chẳng những thế, còn có thể dự đoán là, thời nay, chính cái đám “dưới đáy” ấy cũng ngày một đổ đốn hơn, tức ngày một tệ bạc hơn so với chính họ trong các xã hội cũ. Vì họ làm sao đứng ngoài để thoát khỏi đà suy đồi chung của cả xã hội.














PHẦN 2



RỒI SẼ CƯỜI TRỪ VỚI NHAU MỘT LƯỢT

 Chữ tín thời nay


    Một lần, bản tin trưa Chương trình VTV1 đưa tin: ở nhiều vùng nông sản nguyên liệu, đang có hiện tượng nông dân tuỳ tiện phá bỏ hợp đồng đã ký với nhà máy. Tới ngày thu hoạch, những cây mía cây dứa đã trồng theo kế hoạch được bà con mang bán thẳng cho các tư thương. Sau khi để một ông ở Vụ pháp chế giảng giải một hồi, chương trình TV kết luận bằng lời kêu gọi nông dân hãy giữ chữ tín trong quan hệ làm ăn với nhà nước.


Có lý cả đấy! 

    Lâu nay, tôi tập cho mình có một thói quen suy nghĩ là nghe chuyện gì không hay, chưa phê phán vội, trước tiên hãy tìm cách lý giải tại sao cái sự không hay đó xảy ra. Như trong trường hợp này, khi nghe có sự gọi là bội tín như trên, tôi thử đặt mình vào địa vị của những người nông dân để cãi lại. Cái lý thật đơn giản: vào thời điểm này (lúc khác có thể khác) bán cho nhà nước theo hợp đồng thì giá thấp mà bán theo giá tư thương thì giá cao. Rồi còn chuyện nhận tiền khó khăn, một bên tiền ngay tuốt suýt, một bên rõ là tiền của mình mà khi đi nhận lằng nhằng chờ đợi lạy lục mãi mới lấy nổi. Vả chăng nay là lúc nhìn đâu chẳng thấy chuyện hứa hươu hứa vượn, chuyện thả vịt trời. Đưa người đi khai hoang, hoặc di dân lấy đất làm công trình thì vẽ ra đủ thứ, sau chẳng khác gì đưa con bỏ chợ, mặc người ta sống sao thì sống. Mất điện thì chỉ đổ cho lý do là có sự cố, còn lờ đi không bao giờ tính chuyện đền bù thiệt hại do việc mất điện gây nên. Nhận người vào học và thu tiền là xong, học hành nhôm nhoam chẳng như lời hứa, học xong không có việc làm, chẳng ai cần biết…Có bao nhiêu việc chung quanh tồn tại làm cái cớ cho người ta nhìn vào để thấy rằng sống đứng đắn là thiệt. Mỗi ngày một chút, lòng tin giữa người với người bị xói mòn, có gì là lạ?

  

 “Quyền” của những người 

  tự cho là mình khổ hơn người khác 

   Quan sát các loại đi bừa đi ẩu nhất trên các nẻo đường Hà Nội, hẳn nhiều người không quên những chiếc xe thồ không phanh không gác đờ-bu. Họ sẵn sàng va quệt cũng như sẵn sàng phạm luật. Trong số này nếu tôi không lầm, có nhiều người không phải vô tình mà là tự cho phép làm liều, vì biết không ai làm gì được mình (!). Với họ, luật pháp là dành cho đám ô tô xe máy hiện đại, chứ không phải cho xe đạp.   

    Tiến đến một mức cao hơn của sự tự ý thức, nhiều người đang sống với cái lý sự: Khi người ta khổ hơn người khác tức là có quyền làm bất cứ việc gì khỏi khổ. Để được chứng tỏ bình đẳng. Và cho bõ tức. Có lợi thì cái gì cũng có quyền làm. Chỉ sợ nói dối không trôi chứ không việc gì phải xấu hổ trước những lời nói dối. Mang tiếng là lừa lọc nhưng còn có tiền mà nuôi con.

      Nếu không nói to lên thành lời thì đây đã là cái điều nhiều người tự nhủ trong lòng. Con người lúc này như những con ốc đã chờn, vít nào đặt vào cũng xoay tít thò lò, để rồi đâu vẫn đóng đấy, và sự năng động chính ra lại là một biểu hiện của sự trì trệ.


Quá trình khép kín   

    Chẳng những trong chuyện gọi là bội tín bội ước, mà trong nhiều chuyện khác cũng vậy, quá trình tiến tới lỗi lầm thường diễn ra theo kiểu bột phát, không cần suy nghĩ nhiều. Bụng cũng biết mình sai, song tự nhủ các cụ đã dạy: đói ăn vụng túng làm càn (Hoặc như một câu ca dao hiện đại: Chính sách em học đã thông -- Chỉ vì túng thiếu xin ông ít nhiều). 

    Khi xử lý các mối quan hệ, người ta tự nguyện tuân theo một thứ luật miệng, bắt đầu từ chữ chỉ biết: Chỉ biết tới đồng tiền mang về, còn như uy tín danh dự, việc ấy không quan trọng. Chỉ biết nhà mình, còn việc chung của cả xã hội, hơi đâu mà lo cho mệt. Chỉ biết có ngày hôm nay còn mai ra sao chưa tính. Trước mắt chúng ta vậy là có một quá trình khép kín, đủ để cho người phạm lỗi tự vệ. Và...và mai lại làm tiếp.

   

Cái vòng luẩn quẩn    

     Có thể dự đoán câu chuyện bán hàng nông sản như sau: Năm nay, hàng hiếm, dân tư thương mua tranh bán cướp, thì chạy theo tư thương. Nhưng một vài năm sau, tư thương làm ăn thất bát hoặc hạ giá, thì lại đến gõ cửa nhà nước. Và van vỉ: Hãy giúp đỡ chúng tôi trong lúc khó khăn. Và lý sự: Các anh phải có trách nhiệm chứ. Liên minh công nông cơ mà! Cố nhiên là có thêm những nụ cười dân gian quen gọi là cười trừ. Mà cười trừ thì bao giờ cũng thắng. Việc thực hiện hợp đồng trót lọt, cho đến khi giá ngoài lại cao hơn giá trong, lại có chuyện có mới nới cũ. Một cái vòng luẩn quẩn sẽ được lặp đi lặp lại. 

     Xét ở từng người, thì chẳng qua cũng vì nghèo túng mà phá bỏ cả chữ tín. Nhưng xét chung trong cả xã hội thì những sự tuỳ tiện trong quan hệ làm ăn thế này, sẽ khiến cho cả nền sản xuất xã hội không thể khá lên được. Cái vòng luẩn quẩn cứ thế mà xoay, xã hội có giậm chân tại chỗ cũng không ai thấy đáng sợ. Rút cục, tôi cũng không biết nên nói dân mình là khôn hay dại, người mình là thực dụng hay nông nổi, -- và dễ bị lừa nữa, kể cả lừa chính mình?!

 

RÁO HOẢNH

     

    Thuở chưa có cân bàn, các chợ ở xứ ta chỉ dùng một loại cân thô sơ, gồm một cái cần có khắc hoa thị và có một cái đĩa nhỏ. Tôi nhớ một câu đố vui “Có cây mà chả có cành - Từ gốc đến ngọn rành rành những hoa - Người bán thì bảo rằng già - Người mua thì bảo thực thà còn non” và câu giải đúng là “cái cân”.

   Những ngày này thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến câu đố cổ đó, không phải để suy nghĩ về tư duy kinh tế của người mình, mà cốt ghi nhận một xu hướng trong giao tiếp.

    Là hình như nay trong nhiều chuyện chẳng biết thế nào là đúng sai nữa. Tranh cãi nối tiếp tranh cãi. Ai cũng sẵn sàng bẻ quẹo sự thực, cốt sao bản thân có lợi.

     Có những việc “bánh đúc bày sàng”, giữa thanh thiên bạch nhật rành rành ra thế, mà cứ mỗi bên nói một khác, và người nào cũng chỉ biết có lý lẽ của mình. Có người mắc tội bị bắt quả tang, vẫn cứ tìm cách chống chế luồn lách cãi chày cãi cối, làm như mình không có liên quan gì đến thứ tội lỗi đó, phủi tay nhẹ nhàng như phủi bụi.

    Trong dân gian người ta gọi đó là lối nói ráo hoảnh.

    Chẳng hạn chỉ có thể gọi là ráo hoảnh cái sự việc năm kia bưu điện một số tỉnh móc ngoặc với gian thương mua thiết bị như mua mớ rau mớ cá, khai tăng giá hàng mua vào để chia nhau, đến lúc bị phát hiện thì mấy ông ký mua chỉ nhận: “Chúng tôi hơi không được cẩn thận”, “Chúng tôi chưa có kinh nghiệm”.

     Nghe kể là ở một tỉnh nọ, khi một đại biểu hội đồng nhân dân chất vấn “Sao tham nhũng ghê thế?”, thì một quan chức đầu tỉnh, với cái giọng thản nhiên, cho một câu xanh rờn: “Làm gì mà nhiều? Có thấm thía gì đâu so với thành tích mà chúng ta đạt được”.

     Sau cái trơ tráo trong thái độ, vẻ ráo hoảnh trong lời nói bộc lộ như vậy cho thấy người ta không coi dư luận là cái gì hết. Rồi mọi việc sẽ cứ theo nếp cũ mà làm. Tức những mưu toan, những áp đặt, những dối lừa... lại tiếp tục trong bóng tối.

     Trong giới cầm bút của tôi có trường hợp nhà thơ kiêm nhà viết kịch nọ. Từ thời tiền chiến, ông không chỉ nổi tiếng về những cú chơi bời động trời mà còn vì lì lợm trong việc chối tội và giỏi đánh tháo. Nghe kể rằng có lần ông vào nhà bạn, ăn nằm với vợ người ta và... bị bắt quả tang. Giá kể người khác thì mặt sẽ dại đi, cả người chết điếng. Đằng này ông vẫn không có gì hoảng hốt. Bảo đợi tôi mặc quần áo đã. Và mặc xong thì thản nhiên nói rằng tôi vào chơi nói chuyện đỡ buồn, có gì mà phải ký vào biên bản. Thế thôi, rồi lững thững ra về. Chẳng ai làm gì được ông cả!

      Nói thật, theo dõi nhiều vụ bê bối sập cầu, đắm thuyền, kể cả những vụ tham nhũng và cứu tham nhũng thời nay, tôi ngờ hóa ra kinh nghiệm của nhà thơ nọ trong cái chuyện kín đáo kia, được nhiều người áp dụng khá thuần thục.

     Trong Cổ học tinh hoa có một mẩu chuyện về sự hàm hồ trong ăn nói và ứng xử của con người. Một người lục tủ thấy mất cái áo thâm, liền ra đường tìm. Thấy một người đàn bà mặc áo thâm anh ta níu lại đòi. Chị ta cãi: “Áo tôi mặc đây là áo của tôi, do chính tay tôi may ra”. Anh kia đáp lại bằng cái lý lẽ kỳ cục như sau: “Cái áo thâm của tôi mất thì dầy, áo chị thì mỏng. Lấy cái mỏng đền cho cái dầy là hợp quá, còn phải nói lôi thôi gì nữa”.

      Theo các tác giả Cổ học tinh hoa, mất áo trong nhà lại ra đường tìm là một việc buồn cười; mất áo đàn ông mà đòi áo đàn bà là chuyện buồn cười thứ hai; mất áo dầy mà đòi áo mỏng là chuyện buồn cười thứ ba. Tóm lại, sự vụ lợi làm cho người ta mờ cả mắt, quên cả phải trái, cái gì cũng dám làm, cái gì cũng dám nói. Có lẽ đây cũng là một ví dụ kinh điển để hiểu thái độ trơ tráo và lời lẽ ráo hoảnh có thể dẫn người ta điên khùng đến thế nào. Trong những trường hợp như thế, nó thật đã vượt qua mọi cái ngưỡng vốn có của cách xử thế thông thường.

    Và bạn có biết lúc đó chúng ta trở nên thế nào không? Tôi muốn nói khi trơ tráo và ráo hoảnh vậy, ta trở về giống như tuổi ấu thơ của ta vậy. Người lớn nào chẳng nhiều lúc bực vì có nhiều chuyện dạy mỏi mồm mà trẻ không nghe, ngược lại có những chuyện chẳng cần bảo, nó đã bắt chước mình thành thạo. Ví như trong việc nói dối, thôi thì chúng học nhanh lắm. Đôi lúc trong cơn máu mê ham chơi, chúng không ngại nhận vơ của người khác cái nọ cái kia, thậm chí mở tủ hoặc lục áo, thó của chúng ta vài đồng tiêu vặt. Bị bắt quả tang, chúng trưng ra bộ mặt hồn nhiên “Ơ! Con cứ tưởng...” hoặc “Thế à, thế mà cháu không biết”.

     Giờ đây khi bị tố là tham nhũng, nhiều người lớn cũng giả bộ ngây thơ rất giỏi “Ơ! Tôi cứ tưởng... Tôi đâu có biết”.

     Nghĩa là họ đang trẻ con trở lại. Chỉ có chỗ khác là trẻ con thường chỉ “cháu không biết” trước một vài đồng, còn người lớn bây giờ thì “tôi đâu có biết” khi bỏ túi bạc tỉ.













CẠNH TRANH NHƯ MỘT QUY LUẬT SỐNG


      Đầu những năm 2000, một người bạn tôi kể lên Tây Nguyên, thấy có chuyện lạ, những người làm công canh gác cho một trang trại hồn nhiên cho người ngoài vào thoải mái hái trộm cà phê. Họ bảo nhau, chủ cũng là người như mình, tội gì để chủ vượt lên sung sướng hơn mình.

     Có thể cái lối cư xử trắng trợn nói trên là hiếm hoi, nhưng cái triết lý “ai cũng như ai” “cá đối bằng đầu” “cá mè một lứa” thì mọi người Việt sẵn sàng chia sẻ.

Hà Nội bây giờ khá nhiều nhà, nhất là nhà buôn bán, có người giúp việc, tức các ô - sin.

     Nhưng không ít trường hợp phục vụ quán xá được ít ngày, các ô - sin là những con người nông thôn không hề có kinh nghiệm buôn bán kia đã lăm le nhảy ra làm cái việc cạnh tranh ngay với chủ cũ.

    Bởi người ta nghĩ mình chẳng kém gì đời.

    Buôn bán hay cai quản sai phái người khác, ai chẳng biết làm.

   “Cờ đến tay ai người ấy phất”.

     Cả học hành nữa, thằng này mà được học thì kém chi đời!

     Sở dĩ ông nọ ông kia có vai vế chẳng qua giỏi bịp bợm luồn lọt hoặc kéo bè kéo cánh mà leo lên đầu lên cổ người khác, chứ chẳng tài cán gì cả -- cái lập luận ấy được nhiều người ưa thích.

    Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân trên danh nghĩa bảo là tái lập sự công bằng, nhiều khi chỉ là một cách để người ta khẳng định rằng không có một trật tự nào cả, không làm liều chỉ thiệt.


Động cơ thúc đẩy hành động

lại cũng là nguyên cớ dẫn đến hỗn loạn

      Trong các, xã hội bình thường, cả cộng đồng giống như một khu rừng nguyên sinh có cây cao bóng cả, có cả những dây leo. Cỏ mọc lan trên mặt đất cùng với dây leo ủ đất, giữ nước, làm cho cả cánh rừng thành một tổng thể có cấu trúc chặt chẽ và do đó dây leo cũng có ích.

     Còn ở ta suốt trường kỳ lịch sử, một xã hội phân tầng như vậy cũng có, nhưng còn ở trong tình trạng rất yếu ớt.  Ngấm ngầm trong dân gian vẫn tồn tại một quan niệm bình đẳng tuyệt đối. Các thành viên quần thể làng xã, chỉ biết đến sự phát triển của chính mình. Một hệ thống giá trị thích hợp không được hình thành, hoặc có hình thành cũng không được mọi người công nhận.

    Ai cũng như ai, giữa các cá thể chỉ có sự cạnh tranh, nhiều khi là tàn bạo và trắng trợn. Kẻ nào giỏi kẻ đó thắng và kẻ thắng sẽ có lẽ phải, có chính nghĩa. “Được làm vua thua làm giặc”.

     Xã hội không trưởng thành và phát triển lên được ư? Không sao, miễn tôi không kém ai là được, nhiều người nghĩ vậy!

     Hồ Xuân Hương không phải chỉ nổi tiếng với những câu thơ ỡm ờ nửa thanh nửa tục mà còn ở lại trong lịch sử với lời giả định

Ví đây đổi phận làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu

      Câu thơ không chỉ thổ lộ cái uất ức của người phụ nữ mà cái chính là nói lên ý chí của lớp người cùng cực tự an ủi rằng thả ra chắc mình chẳng thua kém ai.

      Nhà văn Kim Lân từng kể một trong những ý nghĩ thúc đẩy ông sáng tác khi mới vào nghề là cái cảm giác “Ta cũng chẳng kém gì các người!”

      Cái cảm giác đó có thể có ý nghĩa tích cực với nghĩa thúc đẩy một cá nhân lập nên sự nghiệp.

       Nhưng một xã hội mà gồm toàn những người không chấp nhận một trật tự nào, không công nhận vai trò của học vấn bản lĩnh truyền thống gia tộc … mà chỉ thấy ai cũng như ai chen cạnh mà sống, thì chưa chắc đã tạo được sự tiến hóa cần thiết.

      Khi đã chẳng còn có sự phân tầng thì, theo các nhà sinh học, một quần thể chỉ còn có cấu trúc của một rừng cỏ gianh.

     Cấu trúc được đơn giản hóa tới mức tối thiểu.

     Mà, vẫn theo từ điển sinh học, một trong những quy luật của thiên nhiên là “Bất cứ sự đơn giản hóa hệ thống nào đều dẫn tới sự thắng lợi của những hình thức thấp của đời sống và điều đó làm xấu đi một cách tệ hại cuộc sống của con người”.













NĂNG LỰC TỰ KIỀM CHẾ

    

     Các giá trị đạo đức trong sự phát triển kinh tế, là tên bài viết của một nhà nghiên cứu nước ngoài, ông Harry D. Gideonse, trong đó ông đưa ra năm đức tính cần thiết cho một nước muốn đi vào công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chú ý đây không phải lời khuyên nhủ hay mách mối làm ăn mà là nói chuyện đạo đức. 

    Đại khái bài viết cũng gồm mấy điểm nhiều người đã biết, như phải quý trọng tài sản vật chất và tinh thần, phải có tính sáng tạo chủ động đưa ra cái mới, phải có tinh thần trách nhiệm và tin tưởng vào tương lai. 

     Lạ nhất với tôi là cái điểm đầu tiên mà tác giả này nhấn mạnh: cả xã hội cũng như mỗi cá nhân phải “biết kiềm chế sự ham muốn của mình, hay nói cách khác, phải có một ý chí mạnh mẽ để sản xuất nhiều hơn là tiêu thụ” (Dẫn theo sách Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ, in năm 2000, tr.79).

     Những lời khuyên này là của chính nhứng người đã giàu nay rút kinh nghiệm về việc làm giàu của mình nên không thể xem thường.

     Ở một nước như Trung quốc – báo chí phương Tây gần đây phát hiện -- sở dĩ nền kinh tế phát triển như một kỳ tích, hệ thống ngân hàng không ngại tới chuyện đổ vỡ, một phần là vì tiết kiệm ở họ rất cao. Tính ra, có tới 40% thu nhập của các gia đình Trung quốc được dành để chuyển vào ngân hàng, từ đó đầu tư vào việc làm ăn chung.

    Quay về nhìn lại nước mình thì sao? Chắt bóp, kiềm chế, ăn tằn hà tiện, chín xu đổi lấy một hào vốn được coi là nền nếp đã có từ nhiều đời, không chỉ ở những người nghèo mà cả những người có máu mặt. Trong một bài điều trần về cải cách phong tục, viết năm1871, Nguyễn Trường Tộ nhận xét “nhiều quan viên ăn uống sơ sài không bằng nhà trung sản trong dân gian”. Ông kể năm trước tức là năm 1870, sứ bộ ta sang Tây, người Tây thấy sự ăn uống của sứ bộ quá đơn giản, họ bảo “ăn uống như thế mà có sức để bổ vào phần trí dũng, thật không sao hiểu được”. Hoặc về sự mặc, vẫn theo Nguyễn Trường Tộ, nhiều người thời ấy cố ý làm cho thô vụng xấu xa, và có tục ngăn cấm sự ham đồ tốt đẹp, từ quan đến dân đua nhau càng bớt chi tiêu càng tốt, làm cho những nghề tinh xảo ngày một tiêu mòn. 

    Trên đây là chuyện hơn một trăm năm trước. Đến thời tôi mới lớn lên tức là năm chục năm trước đây, vẫn còn như vậy. Luôn luôn tôi được nghe người trong gia đình kể là nhà nọ nhà kia hà tiện lắm, có tiền mà không chịu tiêu. Nhân vật Lão Hạc của Nam Cao chắc chắn không phải là trường hợp cá biệt; “thà nhịn ăn nhịn tiêu thậm chí thà chết chứ không ăn vào phần của người khác” --, cái tâm lý ấy khá phổ biến trong xã hội cũ.

   Nay thì cách sống cách tiêu pha của không ít người dân nhiều phần ngược lại. Làm bao nhiêu lo tiêu hết chứ không tiết kiệm làm gì, người ta hồn nhiên tự xác định như vậy. Thậm chí người ta đi vay để mua nhà, đi vay để sắm xe mới, đi vay để cho con đi học. Nhắm mắt mà vay, không cần biết sẽ trả ra sao cũng cứ vay. 

    Nhiều người sống gấp sống vội sống buông thả, hoặc như cách miêu tả của các cụ ngày xưa “vén tay áo xô, đốt nhà táng giấy”. Họ cho rằng thời nay nói chuyện tiết kiệm cũng như chuyện chính chuyên, nghe đều cổ lỗ lắm rồi. Vậy thì mo – phú hết, tận hưởng cái đã. Triết lý sống này âm thầm chi phối khiến cho hàng ngũ những người trưng diện khoác lác, khoe của một cách trắng trợn, ngày một đông đảo.

     Sự ham muốn không bị kiềm chế. Sự ham muốn đang được thả phanh để muốn đi tới đâu thì đi. Trong khi động cơ sống ở mỗi người được tăng cường, thì cái phanh đã rỉ!

     Kể ra điều này cũng có lý. Tinh thần hiện đại đã ảnh hưởng đến tâm lý số đông. Người ta có lý luận hẳn hoi: “Phải tiêu nhiều hơn làm rồi ra mới biết cách làm, chính vì cần tiêu mà làm”. “Chết có mang đi được đâu”. Người ta lấy ví dụ về sự ăn tiêu ngất trời ở bên Tây bên Tàu. Có biết đâu chính những Việt kiều ở nước ngoài về cũng phải bảo là sự lãng phí ở trong nước tiến nhanh quá. 

      Thử đi tìm nguyên nhân dẫn tới cách sống buông thả của con người hiện thời: Vì sau một thời gian quá khổ, nay mới được hưởng chút ít, người ta tranh thủ hưởng? Vì chưa có tiền bao giờ nên không biết tiêu tiền? Vì cảm thấy cuộc sống đầy những may rủi ngẫu nhiên không biết tin điều gì? Vì bi quan về tương lai? Vì một triết lý hư vô đang ngự trị? Tất cả những lý do ấy hợp lại chi phối cách sống chúng ta.

        Dư luận mới chỉ chú ý tới các tệ nạn xã hội. Những vụ đột nhập vũ trường, quán rượu cho thấy trình độ hưởng thụ ngày càng cao. Những vụ buôn lậu thuốc phiện và các chất ma túy có quy mô mỗi ngày một lớn hơn. Nhưng tôi cho rằng cái triết lý hưởng thụ thấm sâu trong những người dân thường mới đáng ngại, nó là một trong những yếu tố níu kéo chúng ta trên đường phát triển, mà lại chưa được chỉ mặt gọi tên một cách đúng mức. 










SỰ THÍCH ỨNG SẼ HOÁ GIẢI TẤT CẢ!


Cái phao bập bềnh  

      Đã lâu lắm rồi hôm ấy, Dần, nhân vật chính trong truyện ngắn Một đám cưới (Nam Cao viết năm 1944) mới có cái quyền đi chợ. Chẳng qua là nhân ngày cưới của cô. Ông bố dặn mua lấy hai xu chè. Cô gái trả lời hai xu bây giờ ai bán. Và cô thẽ thọt nói thêm: 

      -- Ông lão cả đời không đi chợ, cứ tưởng chè rẻ lắm. Quen với ngày xưa, độ một xu một ấm. Bây giờ năm xu, nấu đặc chỉ được một ấm là hết xoẳn.

       Có thể xem đây như bằng chứng đầu tiên về tình trạng giá cả leo thang trong xã hội mà văn chương có dịp ghi nhận.

       Hoá ra từ hồi nào, nền kinh tế ở xứ này đã là một cái phao bập bênh và những thay đổi tận đâu đâu trên thế giới đã ảnh hưởng ngay đến người dân thường ở những vùng đất xa xôi hẻo lánh bậc nhất.

       Trước tình trạng gần như không thể kiểm soát nổi ấy, người ta bàn đến cách đối phó.

       Tôi đồ chừng hàng ngày, trong các gia đình, trong các nhóm bạn bè ngồi quán tán gẫu, và trong đầu óc từng người nữa -- như là có hàng ngàn hàng vạn cuộc hội thảo nho nhỏ diễn ra liên tục, ở đó mọi người nhao nhao đăng đàn diễn thuyết trao đổi ý kiến.

       Than phiền, kêu la.

       Ngậm ngùi lo lắng.

      Bảo nhau phải thắt lưng buộc bụng


Nhảy múa theo sự thay đổi

     Riêng tôi thì lại hình dung ra một loại kịch bản khác.

     Một số người … mặc kệ. Họ tự nhủ:

     -- Dễ người dễ ta, khó người khó ta.

     -- Rồi sẽ có cách, không chết được mà sợ. Nếu gặp khó mà chết thì chúng mình chết từ hồi tám hoánh nào rồi!

     -- Anh nào biết cù nhầy là anh ấy sống.

      Con người nơi đây vốn quen thích ứng với mọi hoàn cảnh. Kẻ thông minh là kẻ không biết sợ. Các quyết định mới được hình thành nhanh lắm. 

      Giả sử như tôi đang có một cửa hàng thuốc tây. 

      Có mà ngớ ngẩn thì mới sợ rằng thuốc nhập giá tăng rồi không ai mua. Còn có người ốm thì còn có người cần thuốc, mà lúc cái bệnh nó đã thúc vào lưng thì giá cắt cổ vẫn cứ phải xì tiền ra. 

      Vậy thì giá nhập tăng một, ta tăng hai ba, và như vậy chuyện cân thịt, lít xăng leo thang có ăn nhằm gì, không chừng lại là một cơ hội đẹp để ta hốt của.

      Ấy cái khó ló cái khôn chính là như thế.

      Sự thông minh tính toán kiểu ấy không phải độc quyền của dân buôn thuốc. Một người đã nghĩ được, thì mọi người ở mọi ngành nghề đều có thể có ý nghĩ tương tự. 

      Ai nấy dường như có thêm động cơ để mạnh tay hơn trong những việc lâu nay còn vừa làm vừa run. 

     Các nhân viên kiểm lâm yên tâm hơn trong việc thông đồng với đám lâm tặc nhằm triệt phá rừng. 

     Dân hải quan hoặc thuế vụ có cớ để tự nhủ rằng “không vòi vĩnh ai sống nổi”? 

      Nhà khoa học khua nốt mấy công trình nghiên cứu dang dở mang nghiệm thu, để còn kịp xin kinh phí đợt mới. 

     Bất chấp sự tăng tốc của mọi người, bác trông giữ xe máy tự lúc nào đã nhẹ nhàng tăng giá từ một ngàn lên thành ngàn rưỡi hai ngàn. 

     Còn người nông dân tự do thì không có gì phải hối hận trong việc chiếm dụng đất đai ven các quốc lộ, kéo nhau đi đào vàng hoặc khai thác than thổ phỉ, rồi tràn vào thành phố cân điêu cân thiếu khi đạp xe bán rong một vài mặt hàng, kể cả bán những thứ hoa quả có phun thuốc sâu vượt quá nồng độ cho phép... 


Một thứ men say của hiện sinh

      Tạm thời có thể mô hình hoá thành mấy cách phản ứng: 

      1/ người sống bằng gian dối có cớ để gian dối. 

     2/ người tham nhũng hợp pháp hoá được việc ăn cắp của mình.

    3/ người sản xuất không cần phân vân khi đưa ra hàng kém hàng hỏng.

     Mỗi người có thêm lý do để hạ thấp chất lượng cuộc sống mà mình có tham gia. Không ai còn thấy chướng khi sự tồn tại của bản thân được đặt cao hơn lợi ích xã hội.

    Một nhân vật trong Anh em Karamazov của   Dostoievski từng bảo “Sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, đó là truyền thống của họ Karamazov nhà ta”. Không phải người Nga, nên không quen khái quát thành công thức trừu tượng, nhưng trong bụng nhiều người Việt mình hôm nay đã tự nhủ thầm như thế.

    Điều dự đoán cuối cùng của tôi: Ngay cả các đám ăn nhậu rồi ra cũng đông vui hơn. 

    Muốn chống lại tình trạng giá cả leo thang mà không ăn uống cho no say thì lấy đâu ra sức hở trời? 

    Mỗi lần tan cuộc là một lần sảng khoái, trong bụng chỉ còn có cách tự nhủ thời buổi này tiết kiệm làm gì, không hưởng thụ ngay bây giờ thì có nghĩa không bao giờ ta được hưởng thụ cả! 

    Trong cuộc nhảy múa để tồn tại, một thứ men say của hiện sinh tràn đến tự lúc nào làm cho người ta ngây ngất.

    Cái sự thụ động mà cô Dần của Nam Cao xưa chấp nhận đã thuộc về một dĩ vãng quá xa; giá kể có sống lại, chắc nhân vật ông bố trong truyện Một đám cưới sẽ phải mấy lần lắc đầu le lưỡi: “Èo! mẹ ơi!...”

















CHƯA CHẮC ĐÃ LÀ NIỀM TIN THỰC SỰ!


      Những ngày ngồi ô-tô đi dọc đất nước Malasia, trong đó có việc đi qua nhiều miền quê, cánh du lịch bụi bọn tôi thỉnh thoảng vẫn bắt gặp những nghĩa trang nho nhỏ. Không hề lộng lẫy xa hoa, mà ngược lại các nghĩa trang ấy rất đơn giản. Nếu so với mức sống của dân thì thật quá ư tiết kiệm, trong khi đó vẫn không làm mất đi vẻ nghiêm trang thành kính là cái không khí mà các nghĩa trang nhất thiết phải có. 

     Mấy năm trước, đi xe lửa từ Bắc Kinh về Nam Ninh Trung quốc, cũng nhớ là không có chỗ nào thấy nghĩa trang quá chói lọi nguy nga mà lại lộn xộn đến mức phải kinh ngạc... như của dân mình.

     Vâng, sở dĩ chúng tôi để ý chuyện người, cái chính là vì chuyện xứ mình. Mấy năm nay nhiều nơi có phong trào đua nhau xây lăng cho tổ tiên thật to thật đẹp. Cũng đá hoa, đá mài. Cũng mái cong mái uốn. Cũng họa tiết hoa văn chìm nổi. Và thường thì tất cả những yếu tố gọi là hiện đại ấy để cạnh nhau chỉ toát ra vẻ đắp điếm lòe loẹt mà lại chắp vá lủng củng, không những giữa ngôi mộ mới tân trang đó với các mộ chung quanh chẳng ăn nhập gì với nhau, mà cũng chẳng ăn nhập gì với tập quán ngàn đời của dân tộc.

     Trong chiến tranh, Quảng Trị là nơi diễn ra nhiều trận đánh lớn. Nghe nói là tính ra số người nằm dưới đất Quảng Trị còn đông hơn dân số đang sinh sống. Có cái lạ là xứ Quảng Trị đó – một trong những tỉnh nghèo nhất trong cả nước --- cũng chính là nơi có những lăng mộ được xây tốn kém tới cả trăm triệu. 

     Cái lối săn sóc tới người đã chết theo kiểu như trên thật ra đã có từ lâu. Từ trước 1940, trên báo Ngày nay, nhà văn Thạch Lam đã có lần ghi lại một nhận xét khá sâu sắc của một người nước ngoài. Người này nói rằng dân Việt hình như mải lo cho người chết mà quên cả người sống.

     Từ thực tế ngày hôm nay, tôi nghĩ ngược lại: khoe khoang rầm rộ như thế ắt là vì người sống chứ đâu có vì người chết. Một khi đã mang tính cách một sự tô vẽ giả tạo thì nhất thiết sẽ nẩy sinh phản cảm. 

      Vào những dịp tuần rằm mùng một, nhìn cảnh người đi cúng lễ ở các đền chùa, nhiều người tự hào cho rằng dân mình biết tôn trọng quá khứ và có niềm tin sâu nặng ở thế giới bên kia. Với óc hoài nghi sắn có, M bạn tôi cãi lại: Anh thử nghĩ xem người nghèo có mấy khi đi đền đi chùa vênh vang như thế? Mà toàn dân có của đấy chứ. Tôi ngờ đến quá nửa trong đó là quan chức tham nhũng với lại cánh buôn gian bán lận, vừa làm vừa sợ tội nên chạy lễ đến đây để hối lộ thần thánh mong gỡ tội. 

     Tôi chưa biết cãi lại làm sao chỉ biết rằng so với mấy chục năm trước, mặc dầu đền chùa bây giờ đông nghịt nhưng không có được không khí thành kính của thời thịnh trị. Còn như để trả lời câu hỏi tại sao người ta cúng cáp ghê thế chăc chắn phải có một vài nhà nghiên cứu văn hóa làm những cuộc điều tra khoa học. Nếu xem xét nghiêm chỉnh, không chừng sự thật sẽ thuộc về anh bạn hay hoài nghi của tôi!

    Có lần đọc báo thấy nói ở một vùng nọ trên Lạng Sơn những người có thế lực rào những khu đất để chờ bán cho người chết. Tức là một hình thức kinh doanh địa ốc xuất hiện, có điều ở đây mặt hàng kinh doanh là lăng mộ. 

    Tôi không oán những người kinh doanh đó. Thấy làm gì kiếm được tiền là người ta làm. Có người yêu cầu nên còn người phục vụ. Tôi muốn nghĩ đến những người sẽ đổ xô đến với các “chung cư” dành cho người chết để tỏ là mình biết sống. Phú quý sinh lễ nghĩa cái đó có một phần. Nhưng theo tôi cái chính là sự hoang vắng tiêu điều trong lòng người. Có thế thì đám người sẵn của kia mới lấy sự hơn người giả tạo làm niềm kiêu hãnh.


NHỮNG CÁCH NGHĨ

TƯỞNG NHƯ RẤT CÓ LÝ


Từ câu chuyện nhỏ về mấy thứ

rau quả có thể gây ngộ độc...

      Trong số những gánh hàng rong bán quanh Hà Nội thì hàng rau vốn có từ lâu dời nhất. Từ sau 1954 lại thêm những chiếc xe đạp đằng sau thồ hai sọt bự chở rau quả cũng len lỏi khắp mọi phố sá, tự chúng đã thành một nét riêng của Hà Nội, làm chứng cho sự có mặt của những người nông dân ở một thành phố có nhiều dây mơ rễ má với nông thôn. Song dăm ba năm gần đây, tự nhiên có chuyện một số hàng rau quả bị phun thuốc sâu quá mức cho phép, ăn vào có thể ngộ độc, nhiều người đâm ngại. Chẳng biết mua cái ăn ở đâu khác, và ham rẻ, người ta vẫn mua, nhưng mang về phải ngâm nước hoặc gọt vỏ mới dám ăn.

     Giá kể chuyện xảy ra ở các nước có nền kinh tế phát triển, người ta sẽ có cách đối phó là kiểm tra hàng rồi mới cho mang bán. Nhưng ở ta, cái chuyện rắc rối ấy, ai mà dám nghĩ tới. Cũng chưa ai xác định rằng đây có phải là một thứ tội trạng không và nếu bắt được quả tang người bán thứ hàng độc hại ấy thì sẽ xử ra sao. Rút cục mọi người chỉ đành nhắm mắt cho qua. Nguời gọi là có trình độ lý luận hơn thì nhấn mạnh:

- Căn bản là phải đẩy mạnh công tác giáo dục ý thức tự giác cho nhân dân để bảo vệ sức khoẻ chung!

Kể ra cách đặt vấn đề như vậy, cũng đã bắt đầu lần ra đầu mối của mọi hiện tượng gọi là tiêu cực. Tuy nhiên, ở đây tôi muốn đi xa hơn một chút.


...tới những triết lý sống mang màu sắc dân gian

Để sang một bên cái chuyện người dân khi phun thuốc sâu quá độ cho phép vào rau quả không biết là nó có thể gây ra độc hại. Cách biện hộ như vậy quá xa thực tế. Xưa nay, nông thôn ta vẫn có lối thông tin khá tuỳ tiện mà cũng khá hiệu nghiệm, đó là những lời đồn đại. Nữa là bây giờ, báo đài (radio) sẵn hơn, ti-vi nhiều hơn, hẳn là nhiều người cũng đã biết rõ hậu quả việc họ đã làm. Thế nhưng tại sao họ cứ tiếp tục? Có thể dự đoán là nếu nghe có lời bàn ra tán vào, người ta sẽ chỉ tặc lưỡi:

- Ôi giời! Đau bụng một lúc rồi khỏi. Với lại dân thành phố bây giờ tiền nhiều, lại sẵn thuốc Pháp, thuốc Mỹ, đau mấy rồi họ cũng khỏi.

    Tạm gọi đấy là một ý nghĩ giản đơn, nông nổi. Song

theo tôi tính, sở dĩ những giản đơn nông nổi ấy nảy sinh, vì ở tận bề sâu, cái ý nghĩ người ta để bụng phải là:

- Mình thì khổ quá, đã vất vả quá. Còn những người ấy thì sung sướng như giời như bể!

Và để đi tới chỗ tự cho phép mình làm liều mà không cần áy náy, có cái điều người ta không nói ra, nhưng chắc chắn đã nghĩ:

- Người khổ có quyền làm bất cứ việc gì miễn là thoát ra khỏi cảnh khổ.

  Khi hành động, suy cho cùng, con người ta ít hay nhiều, gián tiếp hay trực tiếp, đều đã bộc lộ một triết lý về hành động. Và không vì triết lý đó còn mang đậm tư duy dân gian, còn ở dạng tự phát (và chắc chắn là không thành hệ thống), mà chúng ta không thử gọi rõ nó ra như thế. Liên hệ việc người nông dân bán cả thứ rau quả có thể gây ngộ độc với vô vàn việc gọi là tiêu cực trước mắt (học sinh quay cóp bài; người qua đường liều lĩnh vượt xe ở những quãng đang có đèn đỏ; kẻ buôn lậu tàng trữ thứ thuốc tiêm chích vốn một lãi trăm lãi ngàn; các nhân viên nhà nước lợi dụng chức quyền để tham nhũng v.v..), tôi tưởng có thể nói nhiều người đang gặp nhau ở ý nghĩ: thời buổi này, chẳng còn gì để phân biệt là lợi với hại, là việc bị pháp luật nghiêm cấm với việc được phép; cũng chẳng nên nói rằng việc này hợp, còn việc kia trái đạo lý. Trong việc mưu cầu lợi ích cá nhân - ở một số người, nó được xem như sự định hướng duy nhất, như động cơ chi phối mọi hành động - con người ta chỉ còn một “triết lý” đơn giản: “Chỉ có những việc chưa làm được, chứ không có việc không được làm”.  Một “triết lý” tuỳ tiện về nguyên tắc, có thể mở đường cho mọi tội lỗi, cố nhiên.


 Đi tìm một cách nghĩ khác 

      Theo cách hiểu thông thường, văn hoá chẳng qua chỉ là những gì thuộc về sinh hoạt tinh thần như báo, đài, phim ảnh, cùng các hoạt động vui chơi giải trí. Nhưng văn hoá theo nghĩa rộng thì bao trùm mọi lĩnh vực sinh hoạt. Nó liên quan đến cách sống cách tồn tại độc đáo của cả cộng đồng, nó là những ý tưởng toát ra từ cả những chuyện cụ thể như ăn mặc, sinh hoạt, hội hè... cho đến những chuyện trừu tượng như quan niệm về nhân sinh và vũ trụ; cách hiểu về mối quan hệ giữa thế giới đang sống và thế giới bên kia, về thời gian, về lịch sử v.v... 

   Theo nghĩa ấy mà xét, một triết lý sống ở dạng tự phát, đại loại “chỉ có những việc chưa làm được, chứ không có những việc không được làm” cho thấy một cách hiểu về quyền hành động của mỗi con người, và mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, do đó, nó cũng thuộc về những tầng văn hoá được hình thành và di truyền một cách vô thức (ở đây là văn hoá chung sống). Bền vững và ổn định trong thời gian, nó nằm sâu trong tâm linh để chi phối mọi hành động của cá nhân. 

     Nói cách khác, những biểu hiện tản mạn rời rạc hàng ngày sẽ không thể biến đổi tận gốc chừng nào người ta chưa nhận chân ra những căn nguyên văn hoá đứng đằng sau và có đối sách thích hợp.

     Liệu có rơi vào suy diễn quá xa, khi thử nêu nhận xét như trên? Tôi hiểu, khi phân tích những rắc rối trong làm ăn buôn bán hay thực thi pháp luật trên phạm vi toàn xã hội, người ta thường không dành cho các nhân tố lịch sử - văn hoá một vai trò nào đó. Khi bàn về công cuộc phát triển nhiều người tin chắc như đinh đóng cột rằng “So với nước người, ta có thể còn non kém về kinh tế chứ nhất định không có chuyện người dân ta chưa trưởng thành về văn hoá”, lại càng không ai muốn tin rằng trong những năm gần đây, cái nền móng văn hoá ở mỗi người bình thường lại bị xói mòn đến mức đáng lo ngại. Tóm lại văn hoá không được nhìn nhận như một cái gì đứng sau tất cả, lại càng không mấy ai quan niệm rằng ở đó có thể tích tụ cả những độc tố, thường xuyên gây tác hại. 

    Trong khi ấy, những diễn biến của đời sống trước mắt có lẽ đang yêu cầu một cách nghĩ khác. Nói một chuyện cấp bách: Nếu không tìm cho ra những căn nguyên văn hoá đứng sau những hiện tượng tiêu cực đang là những ung nhọt nhức nhối trên cơ thể cả xã hội, thì cuộc đấu tranh ở đây sẽ chẳng khác là bao so với chuyện chặt đầu tên giặc Phạm Nhan ngày xưa: cứ đầu này bị chặt, đầu khác lại mọc.

 LÒNG TIN VÀ KHẢ NĂNG TỰ ĐỀ KHÁNG


   Theo một con số thống kê sơ bộ thì 70% dân nghiện ma tuý ở độ tuổi mới 25. Dưới đây chúng tôi thử đưa ra một cách giải thích cái hiện tượng nguy hại đó dưới góc độ văn hoá - đạo đức.

    Khi một thanh niên vào con đường nghiện ngập tức anh ta đang tự huỷ hoại thân xác. Trước mắt mọi người anh ta là hiện thân của một kẻ bạc nhược mất hết ý chí. Một sự suy đồi về tính cách chính thức bắt đầu. Đúng ra phải gọi là một cái chết đến sớm.

    Tại sao ai cũng biết vậy, mà trong xã hội, tệ nạn ấy ngày một phát triển và không biết bao giờ mới có thể triệt bỏ? Khi nêu câu hỏi này với một số người, tôi thường được nghe những câu trả lời đại khái:

    - Tại nhà trường xã hội buông lỏng giáo dục

    - Tại các cửa khẩu bị lũng đoạn để hàng lậu nhập vào.

    - Ôi giời, vốn một mà lãi trăm lãi ngàn! Ông bà nào muốn hốt bạc của thiên hạ thật nhanh thì chỉ có cách đi vào con đường buôn bán cái thứ hàng đó.

     Nhưng tôi cho rằng bên cạnh những nguyên nhân khách quan nói trên, ở đây còn có nguyên nhân chủ quan, tức bản thân “cơ địa”, cái đời sống tâm lý của một số thanh niên hiện nay, nó đang là mảnh đất lý tưởng để sự hư hỏng hoành hành. Và đây có lẽ là một ví dụ rõ nhất chứng minh cho cái điều đơn giản -- các hiện tượng tiêu cực bao giờ cũng có căn nguyên văn hoá - đạo đức sâu xa của chúng.


Nuông chiều quá mức

     Tội lỗi nhiều khi chỉ bắt đầu từ một phút yếu lòng, một sự buông thả. Tệ hút xách cũng không ra ngoài quy luật đó. Nhiều nạn nhân đã đến với tử thần do chỗ a dua với bạn bè, nhẹ dạ ham chơi ham của lạ, và khi biết mình “tay đã nhúng chàm” thì không rút ra nổi. 

     Có vẻ như trong trường hợp này, các đương sự đáng được giảm nhẹ tội lỗi: Cái lối sống bầy đàn theo đuôi nhau, cái bệnh học đòi đua đả nhau, thanh niên thời nào chẳng có? Nhưng khi để cho một bộ phận thanh thiếu niên trở nên ẽo uột và dễ bị lôi kéo như vậy, thì trách nhiệm của những người lớn tuổi lại nặng nề hơn bao giờ hết. 

     Ở đây có những thói quen, thoạt nhìn vô can, song lại tai hại vô kể. Nhiều người chúng ta, lớn lên trong những hoàn cảnh cơ cực, khi đã khá giả hơn một chút, thương thân mình rồi thương lây sang con, thường muốn cho con ăn tiêu thật thoải mái.

     Không ai cho là có lỗi khi trót nuông chiều trẻ quá mức.

Trong nhiều gia đình, lớp trẻ chỉ biết có quyền lợi mà không biết đến trách nhiệm. Các trường học bây giờ lại có lối cho điểm học trò thật cao để lấy thành tích. Trong sự dễ dãi với nhau, ta càng dễ hơn với trẻ. Và trẻ cứ thế nghênh ngang vào đời với sự tự tin chúng là những ông tướng. Trong khi kêu trời với nhau rằng thanh thiếu niên giờ đây nhiều em ích kỷ, ham hưởng thụ, dửng dưng với việc đời, với cái hay cái dở... nhiều người quên rằng chính mình đã góp phần nhào nặn nên những tính cách đó. Giá kể như chúng ta sớm biết đề ra những yêu cầu cao với trẻ, biết dạy dỗ chúng trở nên những con người nhạy cảm, có lòng vị tha, có nghị lực theo đuổi mục đích cao đẹp...thì đâu đến nỗi!


Làm mất sức đề kháng

     Theo như cách nói của y học, cơ thể nào cũng có sức tự đề kháng. Trước sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh, cơ thể huy động mọi bản năng để tự vệ, tức để duy trì sự sống. Thành thử đòn đánh mạnh nhất đối với một cơ thể là đánh vào khả năng tự đề kháng này. 

     Bấy giờ cơ thể trở nên vô cùng yếu ớt, mọi sự thuốc thang chạy chữa chỉ còn rất ít ý nghĩa. Đối với sức khoẻ tinh thần, tình hình cũng có nhiều phần tương tự. Khả năng tự đề kháng nói ở đây là sự phân biệt hay dở xấu tốt và lòng tin rằng người ta cần phải tốt và có thể tốt. Thiếu đi lòng tin ấy, con người ta sẽ mất hết khả năng tự kiềm chế và tự phấn đấu, sẽ sống buông thả, tuỳ tiện, rồi rơi vào tội lỗi lúc nào không biết.

    Tiếc thay, cách cư xử của người lớn trong một số gia đình hiện nay khiến con cái họ cứ ngấm dần căn bệnh quái ác kia. Tức là một số thanh niên đang mất dần sức đề kháng trước sự cám dỗ của thói xấu, không còn khả năng chống đỡ.


Thường trực bày ra những tấm gương xấu

    Như các nhà nghiên cứu giáo dục vẫn nhận xét, thanh thiếu niên thường rất ngại phải nghe những lời giáo huấn từ phía người lớn, nhưng lại thường xuyên quan sát xem người lớn sống ra sao để rồi tìm ra kết luận cần thiết cho việc xử thế. Vậy thì làm sao chúng có thể ngoan ngoãn và chăm chỉ học hành khi biết rằng bố mẹ chúng chỉ phất lên nhờ khéo léo luồn lọt và giờ đây đang tìm cách tô điểm cho bản thân bằng mấy tấm bằng rởm? 

    Việc nhà nước giao chỉ làm cầm chừng, cái gì có lợi riêng mới sốt sắng thúc đẩy. Giữa các đồng nghiệp nếu không móc ngoặc được với nhau thì đấu đá kèn cựa. Dửng dưng trước mọi lời chê trách. Vào cửa nào cũng tính chuyện lót tay, chạy chọt, và quả thật “nén bạc đâm toạc tờ giấy”, đồng tiền đã thành một thứ dầu mỡ bôi trơn mọi mối quan hệ...Đó là những thói xấu hiện thời đang khá phổ biến trong xã hội, và khó lòng nói rằng chúng không ảnh hưởng đến cách suy nghĩ của lớp trẻ. Cộng với những kém cỏi của nhà trường (cổ lỗ trong kiến thức và phương pháp giảng dạy; nghèo nàn trong quan niệm về đào tạo; và rồi cũng làm ăn, mua bài, xin điểm, bán bằng cấp...), có thể nói bao nhiêu yếu tố tiêu cực mà hàng ngày mọi người quan sát thấy ở mình và mọi người, và một phần được nói lên trên báo chí, đã làm cho tâm hồn một số thanh thiếu niên trở nên cằn cỗi. 

    Chúng dễ cảm thấy cuộc đời vô nghĩa. Những khái niệm mà xã hội cho là đúng đắn đối với chúng trở thành giả dối. Thậm chí có những em không thiết sống. 

    Tôi nhớ có lần được nghe kể: một thanh niên vừa đến tuổi trưởng thành thì phạm tội, bị án tử hình. Có mấy cô mấy bác có mặt ở phiên toà, thương tình, bảo cháu xin giảm án. Có dịp giáp mặt với cái chết, người thanh niên gạt nước mắt nói ra cái điều có lẽ là nghiêm chỉnh nhất trong đời mình:

   - Cháu xin giảm án để làm gì? Ở nhà bố mẹ không thương xót cháu; đi học nhà trường bất công; học không có chỗ, học xong không có việc làm - cháu sống để cùng kéo dài cái kiếp dài rạc như các cô các bác hay sao?

   Những kẻ đã chết một phần tâm hồn thường dành cho mình quyền làm bất cứ việc gì chúng thích, không biết đến lương tâm, càng không biết đến pháp luật. Và trước mắt, đám trẻ này chỉ thèm hưởng thụ. Còn có môi trường lý tưởng nào với chúng, hơn cảnh nghiện hút?


Không phải hôm nay trẻ mới hư hỏng 

    Trong nếp sinh hoạt cũ của ông cha ta, ngoài nhiều đức tính tốt cũng đầy rẫy nếp sống tiêu cực. Cả Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính lẫn Việt Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh đều có một chương riêng nói về cuộc tiêu khiển, trong đó có mục phiện phò hút xách, và nói rõ cái hại của tục này. Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược cũng nói người mình phải cái thích chơi bời, mê cờ bạc. Ca dao ghi lại trình tự làm ăn sinh hoạt các tháng trong năm, mở đầu bằng hai câu: 

   Tháng giêng là tháng ăn chơi

   Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè

    Xưa ta hay bảo đó là nếp sống suy đồi của bọn thống trị. Nhưng giai cấp thống trị cũng là một bộ phận của dân tộc. Vả chăng, thói xấu chẳng chừa một ai, càng những con người cùng cực khi đã trở nên lưu manh càng trở nên bất cần, liều lĩnh.

   Vậy là xét về bề nào cũng thấy nạn nghiện hút – và nói chung là mọi thói xấu -- trong lớp trẻ hiện nay có những căn nguyên sâu xa trong cách sống của chúng ta, thậm chí cả trong đạo lý cũng như truyền thống văn hoá. Chừng nào mà những căn nguyên đó chưa được làm rõ và thay đổi, thì những mầm mống bệnh tật còn có cơ nảy nở. Trị đám buôn bán thứ hàng độc hại ấy là rất cần. Song duy trì được đời sống tinh thần lành mạnh để những tệ nạn ấy không có đất mà phát triển - cái đó mới thật là việc cơ bản phải lo. Bởi đây là công việc có ý nghĩa văn hoá, nên giới văn hoá phải có mặt. 




NÓI NHIỀU, NHƯ MỘT CĂN BỆNH....


           Hay là bây giờ mình lên tiếng xin tăng giá các loại

cước điện thoại cố định cũng như di động...  

        Thú thật là chỉ mới nghĩ thế thôi chứ chưa dám mở miệng, tôi đã tự ách lại ngay được. Thậm chí đắn đo mãi mới dám viết rằng mình từng nghĩ vậy trên giấy. Bởi không cần nhạy cảm lắm, cũng thừa biết là trong con mắt mọi người, riêng việc cái thằng tôi có ý nghĩ như thế đã là một dấu hiệu điên rồ, nếu không nói là một trọng tội. Chắc rằng sẽ có ai đó sẵn sàng mách hộ nên đi khám tâm thần ở chỗ này chỗ nọ. 

       Mặc dầu vậy, tôi vẫn cứ viết ra đây với tất cả sự tỉnh táo của một người đang kiểm soát được ý nghĩ của mình. Lý do là như thế này: Thời buổi bây giờ chỉ có đồng tiền chế ngự được con người. Ví phỏng, trong muôn một, cái đề nghị điên rồ trên đây được chấp nhận, túi tiền những người đồng bệnh với tôi có bị vẹt đi thật -- thì bù lại dần dần, cũng có một cái lợi, là đỡ đi cái tật nói nhiều đang trở thành một loại căn bệnh phổ biến (và nên nói ngay là đã đến mức nặng nề, hoặc như thiên hạ thích nói, một căn bệnh trầm kha, hạ thấp cuộc sống chúng ta tới mức kỳ cục).

       Còn nhớ hồi chiến tranh, Hà Nội cái gì cũng thiếu; tranh nhau mãi mới được đôi lốp xe ở cơ quan, về phải bọc giấy treo thật cao, phòng khi có dịp xe bục thì mang ra thay; ruột bút chì bi dùng xong, phải giữ để mang bơm lại, hoặc mang đến nộp cơ quan, đổi cái mới. Bởi vậy, chúng tôi không khỏi có phần hoang mang khi nghe nói rằng ở một số nước trên thế giới xuất hiện tình trạng khủng hoảng thừa, và nói chung một trong những tai vạ chủ yếu của con người hiện đại là họ có quá nhiều thứ để mà lựa chọn. Giá kể cái bệnh sang trọng ấy cũng lây sang nước mình thì tuyệt quá nhỉ!

      Đến nay, không phải ước ao quá nữa, cái cảm giác ngột ngạt của sự dư thừa đã đến lúc nào không biết. Ra đường nghĩa là len trong rừng xe. Đến các cơ quan hành chính, lúc nào cũng thấy đã có người xếp hàng. Vào cửa hàng ăn, nhiều bàn ê hề những thức ăn gọi ra không dùng. Báo chí nhiều quá thành nhiễu, mua về vứt đấy không buồn giở ra xem. Bật cái TV ra, hết chương trình đố vui, mọi người đua nhau cười hô hố, lại đến các loại phim hàng chợ của Tàu, sở dĩ xem đến no mắt bởi thừa biết đây là cách giải trí ít tốn sức nhất. Hoá ra sự thừa thãi kia cũng có năm bảy đường, mà cái sự người sẵn, của thừa nước mình thì nghe ra vẫn không phải điềm lành. Không cần lý sự gì nhiều, cũng có thể thấy ngay rằng khi sự sống chỉ lan ra theo chiều rộng mà không vươn lên được theo chiều cao thì nó lại chính là dấu hiệu của một trình độ sống còn thấp.

    Một phần những thứ thừa thãi ấy có lý do sâu xa như thế này: ta cố làm nhiều chỉ cốt vợi đi cảm giác nghèo túng của mình, làm mà không cần chuẩn mực gì hết. Đại khái cũng giống như anh nhà văn, viết xong cũng biết chưa ra làm sao, song ngồi chữa thì ngại, âu là thuận tay viết luôn một lèo ít trang khác, lấy đó an ủi rằng tài mình chẳng kém ai.

    Rồi đến một lúc, lối làm ăn theo kiểu bung ra loạn xạ, chỉ cốt trông vào số lượng, đã thành ra một nền nếp tự động vận hành, không thể sửa chữa.    

     Cái sự nói nhiều của con người nói ở trên, suy cho cùng, cũng là nằm trong cái mạch tự nhiên ấy. Một sự thừa thãi nó tố cáo rằng đời sống tinh thần chúng ta trơ lì cằn cỗi. Ta không có khả năng tự đánh giá mình chính xác, không biết lạ hoá để điều chỉnh mình, chưa tìm được cách hữu hiệu nhất để tự biểu hiện cũng như giao tiếp với chung quanh. Và nói chung, nhiều người chúng ta sống cẩu thả hơn bản thân vẫn tưởng.

     Nhân vật chính trong thiên truyện Toả nhị kiều của Xuân Diệu (in trong Phấn thông vàng) là hai cô gái, theo sự mô tả của tác giả, “lặng lẽ và ngơ ngác; ấy là hai hột cơm”, còn mấy người đàn ông khác cũng đều là những người “biết chung sống với sự buồn tẻ”. Không chỉ riêng Toả nhị kiều, mà tôi cam đoan trong nhiều thiên truyện của Thạch Lam cũng như của Nam Cao hồi tiền chiến, con người ta nói ít lắm, chắc chắn là ít hơn thời bây giờ. Khi hình dung lại những năm còn nhỏ, tôi nhớ ở gia đình tôi, mọi người thường có cái vẻ lầm lụi, ông bố chìm đắm trong lo toan về cuộc mưu sinh, bà mẹ thương chồng thương con cắn răng lam làm và trẻ con chỉ nghĩ đến việc nói chuyện với người lớn đã sung sướng. Chẳng phải gia đình tôi độc đáo khác đời, mà ở nhiều gia đình khác cũng vậy. Còn ngày nay, bạn thử nghĩ lại xem, có phải là khó khăn lắm chúng ta mới tìm thấy một người ít nói? Không những thanh niên huyên thuyên bốc phét, trẻ con khóc rất dai, mà nhiều người già cũng nói liên hồi kỳ trận, nói như cái cách duy nhất để tự khẳng định rằng họ còn sống. Người ta nói nhiều nói nhạt ở đủ các nơi: Trong các buổi họp. Trong các đám cãi nhau. Trong những dịp vui. Lại cả trong những dịp buồn (ví như các điếu văn, hoặc các bài phát biểu trong đám ma ai đó chẳng hạn).    

       Thử tách ra nhìn lại mình, tôi nhận ra rằng bản thân đã tự nguyện gia nhập vào đội quân đa ngôn đa quá từ lúc nào không biết, và mặc dầu nhiều phen thầm nhủ rằng như thế là mình lẩm cẩm, song vẫn cứ thế mà diễn. Ở nhà, thấy con làm cái gì sai, xổ ra hàng tràng những lời quát tháo chung chung, vô nghĩa. Mà trẻ con bây giờ tinh lắm, nó biết bố mẹ nói nhiều như thế là không tự tin rồi, nó càng làm già, để mình càng tức giận tiếp tục nói dai nói dại. Ra đường có việc phải nói với ai điều gì, chưa nghĩ cho chín đã mở máy ào ào. Chưa để cho người ta nói hết đã cắt lời. Cùng một ý, đáng nói một câu thì nói đến dăm ba câu. Toàn những sự lắm ngoài ý muốn, nên mới bảo là bệnh.

     Đã bao giờ bạn đang làm việc thì bị một người cùng phòng với mình làm khổ bằng cách tán róc với ai đó trên điện thoại chưa? Tôi, tôi cũng thường xuyên có cái khó chịu ấy. Cho đến một lần tôi chợt nảy ra ý nghĩ tự kiểm tra xem mình nói như thế nào. Chao ôi, tôi cũng nói dài không kém một ai. Tôi cũng thường có những chuyến buôn dưa lê vô tội vạ! Chắc chắn nhiều lần tôi đã làm phiền những người chung quanh mà không hay biết.

   Bây giờ thì hẳn các bạn cũng thấy rằng lời đề nghị của tôi không phải khiếm nhã. Giống như bệnh viêm đường hô hấp sars, bệnh nói nhiều chưa tìm được thuốc chữa. Vậy nên tôi mới thử nghĩ liều như trên, xin tăng cước điện thoại. Có bệnh thì vái tứ phương, không chừng đó sẽ là cách tạm thời giúp những người như tôi khỏi bệnh. Cố nhiên nếu ai mách giùm cho tôi cách chữa nói nhiều sao cho khỏi tốn tiền, thì tôi cám ơn lắm lắm./.







MỘT NGÀN LÝ DO

ĐỂ…MÃI MÃI LÃNG PHÍ

   

       Bên cạnh sọt rác, các gia đình Hà Nội trước đây thường có thêm thùng nước gạo để chứa các loại thức ăn thừa. Sẽ có người đến đấy lấy để về nuôi lợn. Bù lại, người ta nộp cho chủ nhà mỗi tháng vài cái chổi.  Bây giờ thức ăn thừa nhiều hơn, nhưng ở nhiều gia đình, một chỗ để cái túi ny lông rác đã khó, nói chi thùng nước gạo. Nếu không phải tống xuống cống thì cũng vứt vào rác hết. Có lẽ các bạn trẻ nhìn đây là chuyện bình thường, nhưng với lớp già chúng tôi, nhìn cơm thừa canh cặn lẫn với rác cứ thấy ghê ghê. Lại nhớ cái câu các cụ hồi trước vẫn dạy, một hột cơm rơi cũng phải nhặt vào một chỗ, người không ăn thì con gà con lợn nó ăn, vứt đi phải tội. Ngày nay chẳng ai còn nghĩ thế nữa.

      Truyện ngắn Giá ai cho cháu một hào của Nguyễn Công Hoan kể về một đứa nhỏ đi ăn cắp bị giải về quê. Nó than thở mỗi lần như thế này, nhà nước tốn về nó có đến bảy tám đồng bạc trong khi đó giá có ai cho nó một hào làm vốn, nó có đôi thùng đi gánh nước thuê, thì cũng chẳng đi ăn cắp làm gì. Đại ý tác giả muốn nói: do tiếc những món nhỏ, người ta lãng phí những món rất to mà không hay biết. 

      Có nhiều hiện tượng có thể làm chứng cho nhận xét trên đây của Nguyễn Công Hoan. Một trong nhiều loại quà tặng mà những người làm nghề như tôi hay nhận được là những cái cặp đựng tài liệu. Mỗi ngày cặp lại được cải tiến cho đẹp hơn. Chỉ tội một nỗi nhiều khi cặp còn đẹp mà khoá đã hỏng. Phải vứt cả cái cặp đi luôn vì bây giờ loại thợ nhận chữa cặp khoá không có và nếu có thì họ cũng chỉ làm quấy làm quá để mình vứt đi sớm. 

      -- Sao anh toàn nói những chuyện bé bằng mắt muỗi thế? Còn bao nhiêu chuyện các cơ quan nhà nước làm ăn lãng phí hàng tỉ tỉ tiền, sao anh không ghi vào đây mà toàn nói mấy cái phéc-mơ-tuya với lại thùng nước gạo?

      -- Vâng những chuyện lãng phí tày đình ai cũng biết, nhưng tôi vẫn muốn nhắc những chuyện nhỏ nhặt kia, vì từ cái nọ sinh ra cái kia. Ông Lý Quang Diệu của Singapore có lần viết trong hồi ký: điều làm ông ngạc nhiên là qua Hàn quốc, ngay ở các phòng khách dành cho nguyên thủ quốc gia, người ta cũng ghi rõ là xin quý vị tiết kiệm điện. Còn ở ta, giá ai bàn làm thế, hẳn sẽ bị chê là bủn xỉn. Lãng phí đang là một nét tâm lý thời đại. Vì sao? Vì ban đầu của công tha hồ vung vít, lãng phí thành một thói quen, không kiềm chế nổi nữa. Vì nghèo lâu quá, và chẳng bao giờ giàu bằng người nên thích lãng phí để ra cái điều mình sài sang không kém ai. Vì lúc nào cũng thích làm dáng khoe tài khoe giỏi với nhau, kể cả ra cái điều hư hỏng hơn người cũng thấy vui sướng. Vì không tiêu pha phí phạm thì của cải cũng chẳng thuộc về mình. Và một ngàn cớ khác nữa…trong đó có cái cớ quan trọng này: mình có tiết kiệm cũng vô nghĩa, chung quanh thiên hạ có ai tiết kiệm đâu mà “gái góa lo việc triều đình”.

      Các khách sạn ở Singapore thường tổ chức những bữa ăn sáng theo kiểu tiệc đứng, nghĩa là thức ăn để thành từng loại, người vào ăn tuỳ thích, người ta chỉ viết thêm bằng tiếng Anh mấy chữ khuyên khách nên tiết kiệm, chỉ lấy đủ dùng. Nhưng tại một số nơi khách Việt Nam qua lại luôn, có thêm một dòng chữ bằng tiếng Việt: Lấy thừa không ăn hết sẽ bị phạt tiền. Nhiều người Việt thắc mắc họ làm nhục mình quá! Nhưng có người cãi lại, trông kìa đúng là các bàn của khách Việt Nam vẫn để thừa thật. Chẳng qua thấy dân mình phá quen nên họ phải làm thế. Biết nhục mà sửa mới ra con người, chỉ sợ cáu sườn vài hôm rồi sau vẫn cứ chứng nào thật ấy, và cái thói “nghèo mà hay lãng phí”, trở thành không thể sửa chữa, thì mới là cả một nỗi đau lớn.


BẾ TẮC NÊN SINH CỜ BẠC

     

       Người dân mình có tiền thì làm gì? Thời tiền chiến, Nam Cao từng trả lời câu hỏi đó trong truyện ngắn Thôi, đi về. Câu chuyện xoay quanh việc một anh đi vác cửi thuê được đồng bạc. Đầu tiên là lo cái gì đổ vào mồm, và cái công thức được chấp nhận ngay là…bún thịt chó. Tiếp đó là, là…đánh bạc, đánh để thua mất toi luôn đồng bạc vừa kiếm (vì thế mà thiên truyện mới có cái tên rất “yếu” là Thôi, đi về, nó như một tiếng thở dài bất lực).

       Cách tiêu tiền của con người đầu thế kỷ XX vậy là chẳng khác gì một số con người hôm nay: cũng chỉ xoay quanh vào việc lo ăn và cờ bạc (có những người vào những ngày tết mua những chậu mai vài trăm triệu hoặc trước đó cá cược bóng đá 1,8 triệu đôla). Cái thói vung tiền ấy – thoạt nhìn là vô thưởng vô phạt hoặc một phút bốc đồng cần được thông cảm, song đã tố cáo một sự thực: nhiều người chúng ta không làm chủ nổi đời mình. Cái nghèo đeo đuổi lâu quá đến mức trong tiềm thức ta tin không bao giờ ta thoát khỏi nó. Còn sự giàu có thực sự xa lạ với ta đến mức khi có tiền cũng chẳng làm được việc gì, đành tiêu bậy tiêu bạ cho xong. Đằng sau thói vung tay quá trán ấy là một sự bi quan tuyệt đối trước đời sống.

    Nếu ở Thôi, đi về, nhân vật chỉ dám đùa bỡn với một đồng bạc thì trong Mua nhà, cũng như Từ ngày mẹ chết (hai truyện này có chung đầu mối), một nhân vật của Nam Cao còn dám gọi bán ngôi nhà gia đình y đang ở lấy vài trăm bạc ném vào canh xóc đĩa để rồi sau đó thì con cái ra đường. Trước mắt chúng ta là một nhân cách tha hóa, ở đó không chỉ có con người cay cú, con người liều lĩnh, mà còn có con người sống như mơ ngủ, tự mình lừa mình (cho rằng chỉ vì không trường vốn nên không gỡ được bạc), con người vô trách nhiệm với gia đình vợ con, và bao trùm hơn hết là con người lao đầu vào chỗ chết, con người mê muội. 

    Các nhân vật trong tiểu thuyết Sống mòn cũng thường được miêu tả trong quan hệ với cờ bạc. Từ Hà Nội mỗi lần nhớ về quê, Thứ canh cánh lo vợ mình ở nhà đánh bạc. Có lần Thứ choáng váng khi nghe tin đồn Liên (tên người vợ) đi lại với một người khác “chúng thường đánh bạc với nhau, đùa bỡn với nhau”. Tuy rằng sau này không hẳn vậy, nhưng Thứ vẫn bán tin bán nghi, bởi một lẽ đơn giản là ở cái làng quê ấy, vượt lên trên sự phân chia tốt xấu theo nghĩa đạo đức thông thường, cờ bạc trở thành một phần đời sống của con người và cả cộng đồng. “Người ta đánh bạc như ma xui”. Không chỉ đàn ông mà cả đàn bà cũng đánh bạc, không đánh thì cho đàn ông tiền để đánh, không chỉ vợ Thứ bị nghi ngờ mà tiếng đồn vợ San đánh bạc cũng không sao dập tắt nổi. Mức độ phổ biến của bài bạc buộc người ta phải nghĩ rằng cộng đồng làng xó ấy là một đám đông lêu lổng mà từng thành viên thì chưa trưởng thành về nhân cách. 

     Trong văn học thế giới không thiếu gì các nhân vật đam mê cờ bạc. Riêng một Dostoievski chẳng hạn đã có hẳn một cuốn sách nổi tiếng mang tên Con bạc. Có điều một số nhân vật cờ bạc của các nhà văn lớn thường khi là những nhân cách mạnh mẽ, họ lao đầu vào cuộc đỏ đen như một cuộc phiêu lưu tinh thần hoặc qua đó thử thách ý chí của mình. Ngược lại cờ bạc với các nhân vật trong văn học ta phần lớn được miêu tả như là một thói xấu không thể bỏ, nó là một dấu hiệu cho thấy sự tầm thường trong quan niệm về đời sống. Ở Nam Cao cũng vậy. Trong đoạn cuối câu chuyện của kẻ bán nhà để gỡ bạc, Nam Cao để cho bà mẹ vợ của người đàn ông làm cái hành động ngu muội ấy than thở với các cháu “Bố chúng mày không ra giống người…”. Đằng sau cái câu khái quát đơn giản đến rợn người, dường như nhà văn muốn nói rằng ở một cá nhân cũng vậy mà ở một cộng đồng cũng vậy những, những thói hư tật xấu nho nhỏ có thể tồn tại vì thật ra nó biểu hiện cả một trình độ làm người và triết lý sống đã bền vững.

     Trong lịch sử Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Công Trứ (1778-1859) là một nhân vật nổi tiếng không những vì chí nam nhi cao cả và tài kinh bang tế thế hơn người mà còn như một đệ tử của chủ nghĩa hưởng lạc. Điều thú vị là ông luôn luôn tìm ra lý lẽ để biện hộ. Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ từng dựng lại mô hình của quá trình suy nghĩ ở ông “Thuở hàn vi, ông hưởng nhàn, lý trí ông khuyến khích vì cho rằng chỉ là một sự tạm thời. Thời ra làm quan, hoạt động vất vả, ông tìm cơ hội hành lạc để giải lao: lý trí ông tha thứ. Sau càng hoạt động càng gặp những nỗi trắc trở đau lòng, ông hành lạc để quên đời: lý trí ông đồng lõa. Đến lúc về hưu, ra khỏi một trường ác mộng, ông bám lấy nhà lạc như một lẽ sống duy nhất của tuổi già: lý trí ông đầu hàng”. 

    Trong cái vẻ tầm thường hơn nhiều, các nhân vật đam mê bài bạc của Nam Cao cũng có những lý lẽ tương tự. 

    Đây là tâm sự của anh nông dân trong truyện Thôi đi về khi rủ nhân vật xưng tôi lao đầu vào cuộc đỏ đen: “Con người ta giàu tự số, nếu làm mà giàu được thì tôi đã giàu ức triệu. Mấy năm về trước tôi cố khiếp lắm, ban ngày đi làm thuê cho người ta, tối có trăng lại cuốc vườn nhà, ấy thế mà nghèo vẫn hoàn nghèo”. Một khi cờ bạc được người ta chống chế bằng những lý do có vẻ hư vô yếm thế, nó càng có lý do để tồn tại. Và cái tình trạng làm người thảm hại cứ thế trở thành số phận không thể thoát của những con người lêu lổng.




THÔ BẠO NƠI NƠI

                                      

    Các nhân vật của Thạch Lam (1910-1942) có một nét chung là có cách ứng xử rất tinh tế. Truyện ngắn Tối ba mươi kể về đêm tất niên của mấy cô điếm. Sống trong cái nghề mà thiên hạ cho là rạc dài ấy, hai cô gái trẻ vẫn giữ cho mình lòng tự trọng và một cốt cách riêng. Đón giao thừa nơi nhà săm, Huệ và Liên không quên lo tổ chức lấy một bàn cúng gia tiên đơn giản. Gần tới giao thừa thì người bồi săm lên từ biệt. Tác giả chỉ viết là sau câu chúc tết, “người bồi ấp úng không nói gì thêm. Liên vội đỡ lời, cám ơn rồi đóng cửa buồng lại”. Cái chữ đáng lưu ý ở đây là chữ vội. Tưởng là thô lỗ, cục cằn, song ngược lại. Trong cái sự vội ấy, nhân vật Liên bộc lộ một cách ứng xử nhạy cảm và lịch lãm. Nàng không muốn làm phiền người khác, càng không muốn người đối thoại với mình trở nên lúng túng bẽ bàng.

      Từ Gíó đầu mùa, Nắng trong vườn, Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén…tóm lại là từ tất cả những gì Thạch Lam đã viết ra, tôi muốn đi tới một khái quát: ông là nhà văn của những gía trị tốt đẹp một thời. Ông kịp ghi lại vẻ đẹp đó ở cái dạng chín tới của nó. Bởi ông cảm thấy nó đang phôi pha đi theo thời gian. Ông tiên cảm rồi ra sẽ có một sự tàn phai và bằng tác phẩm của mình, ghi lại cho chúng ta biết những gì ta sẽ đánh mất.

       Nói vậy bởi vì, dù đã cố nghĩ khác, đi tôi vẫn bị ám ảnh bởi cái ý tưởng rằng con người hôm nay sao mà xa lạ với những gì cố hữu trong tâm lý người xưa. Tức là chúng ta đang sống rất lạ. So với các thế hệ trước có nhiều thứ mới. Giàu hơn. Sang hơn. Lắm tiện nghi hiện đại hơn. Có hiểu biết hơn, và xét ở bằng cấp thì hình như có trình độ hơn…Ấy thế nhưng không phải vì thế mà con người trở nên cao qúy hơn. Ngược lại một sự tầm thường đang chi phối. Tầm thường với nghĩa “quý hồ đa bất quý hồ tinh”, tạp nham, hỗn độn, trong đó thấy rõ nhất là thô thiển, dung tục, thiếu tinh tế.      

      Những ứng xử thô bạo trong đời sống đang là một loại tin đang được đưa ngày một dày đặc trên mặt báo. Một em bé giúp việc bị hành hạ. Một bà mẹ nuôi dạy con bằng búa. Một ông chồng dạy vợ bằng cách nhốt vợ vào chuồng chó. Chồng tẩm xăng đốt vợ.…Kể cũng đã đáng báo động thật.

       Tuy nhiên, theo tôi hiểu, đây mới chỉ là phần nổi cộm của tình hình, hoặc như người ta hay nói, phần nổi lên của tảng băng trôi. Chứ trong thực tế nó, -- cái sự thô bạo ấy -- còn muôn vàn biểu hiện khác. 

      Cái thô bạo đang bành trướng sinh sôi nẩy nở lan tràn và trở nên một bộ phận của cuộc sống. Hãy kể một việc như trong đi lại. Tôi nhớ một người nước ngoài đến Việt Nam đã nhận xét cách đi xe máy của dân mình, nhất là dân Hà Nội, mang nhiều tính cách bạo lực, nghĩa là luôn luôn trong tư thế muốn chèn ép nhau, đối đầu với nhau, ai liều lĩnh chịu chơi hơn thì thắng. 

     Nhớ những lần đi trên đường phố Quế Lâm hoặc Hàng Châu. Xe máy của họ đã ít, song phần lớn đã chuyển từ chạy xăng sang chạy điện, xe đến gần mà tiếng vẫn êm như ru. Chợt nhớ cách gầm rú của xe nước mình, thấy cả một cách biệt về tâm lý. 

       Hoặc như trong việc sử dụng ngôn ngữ. Nay là lúc chúng ta thường nói với nhau rất to. Hầu như loại người ít lời đã tiệt chủng, thay vào đấy là những mẫu người sẵn sàng lao vào cuộc tranh cãi không phải bằng lý trí đúng đắn mà bằng sự cuồng bạo của lời lẽ và thái độ. 

       Có phải sự ồn ào to tiếng chỉ có ở ngoài đường đâu đâu, nó lan vào trong những căn nhà đầy tiện nghi của chúng ta hiện nay. Loa nhà nào cũng mở oang oang át đi những câu chuyện của khách với chủ. Con cái nói với bố mẹ mà như cãi nhau. Không còn những bà mẹ kiên trì bảo ban cho trẻ, chỉ còn những bà mẹ hoặc là nạt nộ hoặc là nịnh con, nịnh để tống khứ chúng đi, còn mình lo việc khác.    

      Xét từ tâm lý sâu xa, sự tinh tế hay thô bạo liên quan đến triết lý sống sự nghiêm chỉnh bình tĩnh làm người và một lòng tự tin cần thiết. Từ tốn tinh tế nghĩa là làm chủ bản thân, biết mình biết người và đã tự rèn cho mình thói quen tôn trọng người khác. Một cái gì mà người xưa vốn gọi là cận nhân tình và đằng sau đó là một lý tưởng sống cao quý. Những cái đó nay ở người già thì mất đi và lớp trẻ thì ít bạn có ý niệm đầy đủ. Lấy cớ là phải thích ứng với nhịp điệu sôi nổi mải miết của đời sống hiện đại, nhiều người biến thành thô bạo cục cằn trắng trợn lúc nào mà không hay biết. Ta thường sống ồn sống liều sống gấp hơn là thực chất vốn cần như thế.    

       Thô bạo đã tạo nên một thứ khí hậu trong mối quan hệ bình thường. Sống với nó lâu ngày quen đi, ta tưởng ta vô can với một vài biểu hiện nổi cộm được nêu trên báo chí. Trong khi ấy lẽ ra đây chính là những dịp ta soi lại mình và cảm thấy thói xấu kia cũng tiềm ẩn trong mình. Và ta cảm thấy có lỗi, lỗi với bản thân, lỗi với chung quanh, lỗi với thế hệ trẻ. 










TIẾNG ỒN ĐÁNG SỢ


     Mục điểm báo của RFI 12-11-15 đưa tin về Hàn quốc: lúc này cả xã hội gần như nín thở theo dõi con em mình thi cử. Việc này được cả nước chăm chút, nó khiến cho cả tới sinh hoạt giờ giấc cũng có phần xáo trộn. Ví dụ như hôm nay, có đến 69 chuyến bay cất cánh cũng như đáp xuống các phi trường lớn Hàn Quốc đã bị dời lại trong khoảng thời gian từ 13g10 và 13g35 để không gây tiếng ồn, làm các em thi vấn đáp tiếng Anh phân tâm. 

    Nhưng đó là chuyện xứ người. Ở ta thì lại khác.


Có phải truyền thống?

        Trên báo Phong Hoá số ra 14-9-1934, nhà văn Thạch Lam kể lại cuộc diễn thuyết của cô Nguyễn Thị Kiêm về Thơ mới ở Hội Khai Trí Tiến Đức với một nhận xét tổng quát “người ta đến như một cuộc vui chơi”, “không ai nghe rõ được cái gì”. Thậm chí, cô Kiêm (diễn giả) muốn nghe lời mình cũng không được. Vì “đám đông quá ồn, bắt nguồn từ một óc xếp đặt quá thiếu thốn”. Và Thạch Lam, người nổi tiếng có một tình yêu sâu xa với sự yên lặng, nhận xét khái quát: “Mà nói cho đúng nữa, người mình không bao giờ có biết cách xếp đặt một buổi hội họp cho được hoàn toàn. Hễ đâu đông người là hỗn độn ồn ào rầm cả lên.”

     Tuy thế, nhớ tới Hà Nội trước 1945, nhiều người thuộc lứa bề trên của tôi, vẫn nhớ rằng thủ đô hồi ấy thanh bình lặng lẽ lắm.  

      Năm 1997, tại Hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp, tổng thống Pháp trong lời trò chuyện với nhân dân thủ đô không quên ngỏ lời xin lỗi là họp như thế này là khiến cho một thành phố nổi tiếng yên tĩnh như Hà Nội bị ồn mất ít ngày. 

     Chung quanh sự yên lặng, người ta là khách mà trân trọng quá, còn mình là chủ lại không thấy quý. 

     Lại thêm một bằng chứng minh xác cho cảm tưởng lâu nay của tôi: Hà Nội thanh lịch của đời sống trước 1945 đã bị đánh mất.   


 Đã tới lúc mọi sự yên lặng trở thành vô nghĩa. 

      Bằng một cách khá kiên nhẫn, nhiều tờ báo ở ta đã đăng những bài than phiền về các loa phường. Có những tiết học đúng vào giờ loa hoạt động, thày trò chỉ còn có cách gấp sách bất lực nhìn nhau. Có những người nước ngoài đến thuê nhà, vừa thuê xong thì bỏ chạy, vì nhà ngay dưới chân loa hàng ngày loa chõ ngay vào phòng. Tiếng loa áp chế ngay trên đầu người ta. Tiếng loa dai dẳng không dứt. Mà thường toàn là những giọng đọc vô cảm. 

      Nhưng theo chỗ tôi biết thì cả thành phố Hà Nội, cái chuyện khá chướng ấy cấp trên chưa có ý định bỏ. Lý do nhiều lắm và đây là một hiện tượng dịp khác ta sẽ bàn. Cố nhiên tôi cũng là loại sợ loa phường lắm. Nhưng trong sự ngán ngẩm về không khí ồn ào nói chung có lần tôi nảy ra cái trò chơi vui vui là thử cãi hộ cho các loa phường ra sao. Và lời cãi của tôi như thế này: “Các vị thử nghĩ xem chung quanh có yên ả lặng lẽ gì cho cam? Không có loa phường thì mọi cuộc đi lại rượu chè mua bán xoay sở kiếm chác …cũng đã ồn ĩ quá rồi. Có ai người ta nghe loa đâu. Tiếng loa chỉ hoàn chỉnh thêm cái đời sống nhộn nhạo sẵn có”.

      Trong các sách Quốc văn giáo khoa thư học hồi còn nhỏ, tôi vẫn nhập tâm một lời khuyên, khi qua đường gặp đám ma, phải ngã mũ chào. Mỗi người nằm xuống là một dịp để ta cùng nghĩ thêm về sự hư vô của cuộc đời. Vậy mà gần đây, đang đi ngoài đường thấy chỗ nào có đám là tôi lảng ngay ra phố khác. Tôi sợ gặp đám ma bởi ở đó quá ồn. Người ta lo khóc sao cho cả phố cùng nghe được mới thôi. Sự thương xót, khi được phóng to lên trong những chiếc loa hiện đại, mang tính cách một cuộc trình diễn ép buộc và đi sát tới giả dối. Tôi không có chỗ để làm cái hành động tử tế mà tôi vốn muốn làm. Tại sự ồn ào tất cả. Có trời phật chứng giám cho lòng tôi vậy! 

 

 Ồn ào mà vẫn tẻ nhạt                                                                                                    

       Từ vài chục năm nay, vào những dịp tết nhất hoặc có lễ lạt, chung quanh Bờ Hồ thường vẫn thấy dựng lên nhiều quán nhỏ để bán các loại hàng. So với hồi bao cấp, những quán này được dựng tạo công phu hơn, vật liệu hiện đại hơn nhưng nhìn kỹ vẫn quá cổ lỗ. Điều thấy rõ nhất: không gian quanh hồ tối sầm đi, như một bãi cỏ đầu làng nào đó. Hàng loạt loa truyền thanh được mắc nối tiếp, có khi đứng một chỗ nghe loa nọ lẫn với loa kia. 

      Chính báo chí gần đây viết về du lịch cũng bật mí: các tua du lịch có nghề thường khuyên khách nước ngoài không đi vào những ngày hội. Vì đó là thời gian lộn xộn không xem được gì. Hóa ra sự ồn ào ở đây lại đóng một vai mới, nó tố cáo rằng chính ra đừi sống ở ta lại rất tẻ nhạt.




















CUỘC SỐNG LUÔN LUÔN

LÀ GỒM CẢ HOA LẪN RÁC


      Nhiều năm lại đây, sau những ngày lễ ngày tết, báo chí đã kêu ầm lên là đường phố Hà Nội đầy rác. Năm nào cũng vậy, khoảng từ rằm tháng giêng trở đi, một trong những dấu hiệu cho thấy những ngày tết nguyên đán chỉ vừa mới qua, là nhìn vào nhiều góc phố thường thấy chồng chất những cành đào tàn héo, và trước nhiều số nhà, dễ dàng bắt gặp những cây quất bị nhấc lên khỏi chậu đất bắt đầu vỡ tung ra, được ném ngay cạnh cống nước chảy bên đường, chờ xe rác đến hót. 

      Sinh thời đạo diễn Nguyễn Đình Nghi (qua đời đầu năm 2001) từng khái quát hai hình ảnh sâu đậm mà Hà Nội để lại trong ông là hoa và rác. Theo nghĩa này, tết nhất chính là một trong những thời điểm chính hoa trở thành rác, và cái sự kiện rác của hoa nó nói với chúng ta một vài điều mà lâu nay ta không để ý.

      Rác -- chất thải nói chung -- vốn là một cái gì rất phiền phức với nghĩa nó là một bộ phận của cuộc sống, tách nó ra khỏi cái hữu ích đôi khi rất khó. Có một thời gian nó đã trợ giúp anh trong đời sống, nó bạn bàu với anh, nó là niềm vui của anh. Cho nên chia tay với nó lôi thôi lắm. Lưu luyến. Ái ngại. Song việc đời là thế, cái gì cũng có niên có hạn của nó, cái gì rồi cũng có thể trở thành rác cả. Thuốc quá đát dùng còn có hại, một số loại hoa đến kỳ héo còn bốc mùi khó chịu và gợi bực mình, ai giữ trong nhà mãi được?

       Nay là thời các thứ bao bì được làm rất đẹp, một hộp bánh mua về ăn hết rồi, dân Hà Nội nhiều người già cỡ tuổi tôi trở lên thường vẫn nhìn cái hộp với sự nuối tiếc, cố nghĩ ra lý do để giữ nó lại. Nhưng cái gì cũng giữ -- lọ đựng mấy viên thuốc cũng giữ, vỏ chai ruợu cũng giữ, hộp xốp đựng cái nồi cơm điện cái quạt cũng giữ --, thì nhà thành cái kho rồi còn gì, mà kho nào đựng hết? 

    Phải tự lên dây cót một lúc như thế rồi mới cả quyết quăng mấy thứ chai hộp ấy ra rác. Hoặc các loại báo tết, tờ nào giấy cũng trắng bìa cũng đẹp nhiều bài vở công phu nhiều nơi anh em biên tập mai phục cả năm chuẩn bị bài, nay đem bán cân cứ thấy dùng dằng. Hoặc những quyển từ điển nó là vật tuỳ thân của mình, mua được những cuốn mới biên soạn tốt hơn mà đứng trước quyển cũ cũng phải nhấc lên bỏ xuống dăm bảy lần mới dám thay thế.

   Rồi cả những con người nữa, người hôm qua rất được việc nhưng hôm nay bỗng trở nên biến chất hư hỏng, là rác chứ gì. Thương nhau dùng tiếp tai vạ như chơi, khác chi rác giữ trong nhà chỉ tổ lưu cữu ổ bệnh?

    Nói thế nghe tàn nhẫn quá. Nhưng đứng lùi ra mà nhìn, vì quyền lợi tương lai mà nhìn, làm sao khác được. Hàng tồn kho đã lắm, người ta lại còn hay viện cớ đóng góp hôm qua để đòi xử lý cho được cả tình lẫn lý. Cứ vẩn vơ mãi với khúc Người ơi người ở đừng về. Thay thì thấy áy náy, mà để nguyên thì hỏng việc. 

   Ác một nỗi, người lại không ghi thời gian sử dụng như thuốc và không phải bao giờ cũng héo hon trông thấy như hoa, sự tình nghĩa khiến cả họ cả làng sống chung với loại di luỵ này hàng ngày mà không biết làm thế nào cho phải.

      Trở lại chuyện rác theo nghĩa đen của nó. Người ta hình như không hay nghĩ nhiều về rác. Có cái gì thừa vứt ra đường cho xong. Khi riêng mình phải chịu đựng thì nó là rác, vứt ra đường thiên hạ chịu chung thì nó không là gì cả. Vậy đó, trong thái độ của một con người đối với rác bộc lộ đủ thứ: 

    + quan niệm của anh về sự vận động, sự đào thải của cuộc sống; 

    + mức độ trưởng thành của anh về mặt ý thức (anh đã biết sống chung với xã hội chưa hay là mới chỉ biết lo cho bản thân mình và gia đình mình?); 

    + thái độ của anh với cuộc sống (anh vốn thực sự chi chút nâng niu nó và đòi hỏi cao về nó, hay thế nào cũng xong kiểu gì cũng được?). 

     Nói tóm lại thái độ một con người đối với rác biểu lộ một phần trình độ sống của người đó.

     Lúc rỗi ngồi nghĩ viển vông -- giá như có dịp được đi nước ngoài một cách nhẩn nha, sẽ để công nghiên cứu cái cách của mỗi nước đối với rác thải. 

    Nghe tin là ở Nhật có loại máy gọn nhỏ chuyên chế biến rác cho từng gia đình. Giá kể không đắt quá, có lẽ nên khuyến khích để mỗi gia đình mua một cái.

    Thôi lan man kiểu này thì không biết đến đâu là cùng. Ai đó từng nói đùa về rác ở một lễ hội “nếu dồn tất cả rác đã xả ra, người ta có thể chôn cái di tích ấy như chơi”. Câu nói pha chút thậm xưng nhưng không phải là không có một chút hạt nhân hợp lý, cần nhắc lại ở đây như một lời nhắn gửi với cả người kiếm sống ở hội lẫn người thích đi các loại hội hè.

    Về mặt nhận thức, hãy tự nhủ “Khi anh say sưa chọn lấy ít bông hoa đẹp và sung sướng đặt nó vào lọ thì cũng phải nhớ tới cái lúc nhấc nó ra khỏi lọ, và ném nó ra khỏi nhà!”. Cuộc sống đòi hỏi chúng ta ghi nhớ cái điều có vẻ khinh bạc đó, nhất là cuộc sống hiện đại. 








SAU TỘI CÓ KHI LÀ BỆNH

                           

      Một cô giáo ở Thái Bình phạt một bé gái bằng cách cho cả lớp 32 học sinh tát thẳng vào mặt người bạn có lỗi, nạn nhân phải đưa đi viện. Một thầy giáo ở Đình Tổ Bắc Ninh làm cuộc xâm hại tình dục mấy học sinh 9 tuổi trong lớp mình đang dạy đến mức các gia đình học sinh rủ nhau đi kiện. 

      Hai câu chuyện này tôi nghe được từ mấy năm trước. Ngày nay việc bạo hành xảy ra còn ở mức khủng khiếp hơn nhiều. Nhưng chỉ hai việc nhỏ trên cũng đã đủ gợi ra một số suy nghĩ.   

      Cô giáo kia là một người lâu năm trong nghề, từng là cô giáo dạy giỏi. Trên màn hình VTV, tôi đã thấy vẻ mặt cô khi nhận lỗi, trông không có gì là giả dối. Thành thử tự nhiên cứ phân vân. Và tôi nhớ tới những lầm lỗi mà mình đã mắc hàng ngày. Lúc ấy mình không còn là mình nữa. Nói ra không mấy ai tin, nhưng hình như lúc đó có ai xui khiến mình làm bậy vậy, có muốn tỉnh táo cũng không được. 

      Mặt khác, nếu được tìm hiểu kỹ hoàn cảnh cô giáo mắc lỗi biết đâu người ta chẳng thấy được nhiều nguyên cớ cụ thể. Hôm đó có thể cô đã gặp một chuyện gì rất phiền lòng trong gia đình? Hoặc trước đó trong lớp đã xảy ra những chuyện làm cô phải bực bội, đến mức quá giận mất khôn.  Chẳng qua cô cũng chỉ là một nạn nhân của một sức ép quá khả năng chịu đựng?

      Lại như trường hợp thứ hai. Trong hành động của người thầy giáo trẻ tuổi kia có gì kỳ dị vượt ra ngoài tình trạng tâm sinh lý thông thường. Một thứ bệnh hoạn – tôi nghĩ vậy. Nhưng thử nhìn rộng ra xem, các nhà khoa học cho biết trong thời buổi hiện nay, thiên nhiên đang xảy ra nhiều đột biến. Thời tiết thất thường. Nhiều loại vi trùng kháng thuốc. Nhiều loại sâu bệnh mới xuất hiện. Xã hội cũng vậy, trên các trang báo hàng ngày tràn ngập tin tức về các vụ việc mà trước kia không ai hình dung nổi và không nước nào không có. Làm sao cái xu thế đó không hằn sâu vào tâm lý con người cho được?

      Trạng thái cân bằng cổ điển trở thành một thứ hồi ức xa vời trong tâm tưởng ta. Mỗi chúng ta chịu sự thao túng của bao nhiêu dồn nén, bao nhiêu ẩn ức.

       Những ai từng đọc tiểu thuyết Số đỏ hẳn nhớ trường hợp nhân vật cậu Phước với cái căn bệnh kỳ cục phải nói là suy cho cùng thì có họ hàng xa gần với bệnh của người thầy giáo ở Đình Tổ nói trên. Nhà văn Vũ Trọng Phụng đã tỏ ra có lý khi mượn mồm một bác sĩ để đề nghị rằng chỉ có thể cắt nghĩa bệnh của cái cậu quý tử đó bằng các lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud.  

      Sách Đại Việt sử lược (chưa rõ tác giả), một trong những bộ sử cổ nhất của ta ghi về Lê Long Đĩnh, tức Lê Ngọa Triều (trị vì từ 1006 tới 1009) như sau: “Tính vua ưa chém giết. Có người phạm tội sắp phải hành hình thì vua bắt lấy cỏ tranh quấn vào người rồi đốt. Có khi vua đi chơi ở sông Chi Ninh, sông có nhiều thuồng luồng, bèn trói người ở một bên ghe, rồi cho ghe qua lại giữa dòng nước, khiến cho thuồng luồng sát hại. Phàm những con vật đem cung cho nhà bếp, trước tiên sai người khiêng vào để tay vua đâm chết đã. Hoặc đêm đến sai làm thịt mèo cho các thân vương xơi, ăn xong vua đem đầu mèo bày ra, ai nấy đều mửa thốc mửa tháo…”. 

    Trước mắt chúng ta, là một ca bệnh nữa, mà ở mức quái đản. Giá như ngày nay, hẳn có người đã đề nghị buộc Lê Ngọa Triều phải hầu tòa.

    Mọi tội lỗi phải được xử theo pháp luật. Nhưng tôi cho rằng trong một số trường hợp, những người có tội đồng thời phải được xem như những người có bệnh. Trong những con người không may ấy, vấn đề không còn chỉ là sự điều khiển của ý thức, mà là một thứ bản năng chi phối. 

   Giống như các loài cỏ dại, nó nẩy nở tự phát trong con người họ, và tùy hoàn cảnh mà bản năng bùng nổ thành tội ác. 

   Nói cách khác, trong cái việc họ không còn đủ sáng suốt điều chỉnh hành vi của mình, có sự có mặt của những yếu tố mà tâm lý học gọi là vô thức (bao gồm cả vô thức cá nhân lẫn vô thức tập thể).

      Đồng thời với tòa án viện kiểm sát làm công việc lập hồ sơ, xem xét tội danh…, lẽ ra những người nghiên cứu tâm lý xã hội phải có mặt. 

     Chúng ta đang ở trong một hoàn cảnh chung. Đất nước từ chiến tranh chuyển sang hòa bình mấy chục năm nay, những di lụy của nó để lại trong tâm lý con người kể sao cho xiết. Đặc điểm của chiến tranh là bạo lực. Trở về từ chiến tranh, mải làm ăn kiếm sống ta tưởng ta thoát khỏi nó. Biết đâu nó vẫn tiềm ẩn trong con người và sẽ tìm những chỗ bất ngờ nhất để phát lộ. 

     Mặt khác, từ chỗ quen sống khép kín, nay xã hội ta mở cửa ra với thế giới. Cùng với bao điều tốt đẹp thì những căn bệnh chỉ xã hội hiện đại mới có cũng ùa vào ta và cùng tìm thấy ở xứ ta một mảnh đất tốt.

      Từ nhận thức “không nỗi đau nào của riêng ai”, đã đến lúc nên nói với nhau “không bệnh tật nào là của riêng ai”. Có đi vào cơ chế cái đời sống tinh thần cụ thể của con người thì mới thể tất được cho nhau.

     Phải có sự điều trị dần dần, theo những phác đồ hợp lý, chung cho cả xã hội.

     Đó cũng là cách tốt nhất để những hành động tương tự sẽ bớt dần chứ không phải ngày mỗi tăng lên như hiện nay.



















 NGÀY MỖI PHỤ THUỘC?

                                  

      Không cần là một chuyên gia kinh tế, nhiều người chúng ta cũng biết rằng nền sản xuất và buôn bán của ta phụ thuộc nhiều vào việc nhập khẩu hàng nước ngoài. Không chỉ dầu xăng thép phân bón thuốc trừ sâu thuốc chữa bệnh…mà cả nguyên liệu chế biến thức ăn cho gia súc ta cũng phải đi mua. Thời buổi thế giới biến động, nền kinh tế mình như cái phao, biển động nổi gió một tí là dập dềnh theo, thiên hạ vừa hắt hơi một cái là mình đã nước mắt nước mũi giàn dụa.

       Nhưng hôm nay tôi muốn nói một khía cạnh khác của sự phụ thuộc. Giống như một căn bệnh nhẹ, nó có vẻ không mấy đáng ghét, nhưng suy cho cùng vẫn bòn rút sức lực của ta mà ta không biết, lại còn đua nhau vươn cổ cho nó chém nữa.   

       Đó là sự phụ thuộc trong sinh hoạt.

       Từ lâu dân Hà Nội đã đồn nhau là mấy khách sạn lớn nhất ở đây thường dùng rau và thịt chuyển từ nước ngoài về, chứ không dùng đồ mua từ các chợ quanh phố như dân bản địa.

       Mươi năm trước, nghe những chuyện đó, lập tức thấy sao mà họ cầu kỳ và có phần rởm nữa. Sống ở đây mà tách ra như trên một hòn đảo, sao họ lạ vậy?

      Ai ngờ cái nếp sống đó giờ đây lan ra trong nhiều tầng lớp dân thường, nhất là sau các đợt phát hiện rau quả có phun hóa chất, còn các loại dịch bệnh trên gia súc gia cầm thì hoành hành, cứ chấm dứt được ít lâu lại bùng phát trở lại.

      Nếu tôi không nhầm thì trong những mặt hàng giảm thuế để tránh lạm phát mới ban hành gần đây, có cả thịt lợn.   

     Ở đây tôi không dừng lại ở khía cạnh đạo lý của vấn đề mà chỉ vấn vương ở chỗ là hình như chính chúng ta đang không nuôi chúng ta bằng các thứ thổ sản của ông cha; không xài thứ hàng mà chính đồng bào trong nước chúng ta làm ra, mà toàn dùng hàng ngoại.

     Tại sao tình trạng này ngày một phát triển? Nghĩ tận căn nguyên thấy có hai lý do. 

      Một là hàng ngoại rẻ và tốt. 

      Thứ hai là nhiều khi hàng ngoại đáp ứng được cái nhu cầu sát sườn của mình mà hàng nội không đáp ứng nổi.  

    Liên quan tới lý do thứ nhất, có một ví dụ tôi nghe từ mấy năm trước thấy rất có ý nghĩa. Là ngay ở các thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh hay Cần Thơ, nhiều người dân đang thích dùng gạo chuyển từ Thái Lan sang. Trời! Giá vài chục năm trước, nghe ai nói thế chúng ta sẽ bảo là chuyện bịa. Làm gì lại ra nông nỗi như thế. Từ Thái sang quá diệu vợi, còn công tàu bè chuyên chở công bốc vác, sao mà rẻ được?! Mà làm gì có chuyện gạo họ ngon hơn, hợp với cái hương vị nồi cơm mà mỗi người chúng mình được thấm từ hồi còn bú mẹ! Hóa ra thời thế thay đổi, việc không ai tưởng là có, nay đều có cả.

     Liên quan tới ưu thế của hàng ngoại trong việc đón đường và nắm bắt nhu cầu, sau đây là câu chuyện tôi nghe từ miệng mấy bà bán hàng lặt vặt ở phố chợ Hà Nội (tôi cố ý tránh chữ phố cổ mà thấy gọi là phố chợ có lẽ hợp hơn). Từ lâu người Hà Nội có thói quen là nếu chiến thắng trong các cuộc đua tranh trong thể thao là đổ ra đường ăn mừng. Lúc đó người ta thích mua cờ và các băng khẩu hiệu để trương lên, giá đắt cũng mua. Một số nhà sản xuất VN cũng biết điều đó, nhưng vốn mỏng không làm được bao nhiêu. Khôn ngoan và biết tổ chức công việc hơn là các nhà sản xuất từ bên kia biên giới. Họ nắm ngay lấy khoảng trống đó. Mỗi lần dân thủ đô có nhu cầu là hàng từ biên giới phía bắc tràn về. Rút cục dân buôn mình chỉ thành trung gian bán lẻ cho đồng bào mình thứ hàng mà họ sản xuất.

     Không chỉ trong chuyện băng cờ khẩu hiệu mà nhiều mặt hàng khác cũng có tình trạng tương tự. Theo tôi hiểu, đây là cả một xu hướng mà mỗi ngày chúng ta cảm thấy rõ rệt hơn. Mọi dòng nước ngược phản công lại cũng có nhưng không thấm thía gì cả. 

    Trong Nỗi lòng ai tỏ của Nguyễn Công Hoan, nhân vật chính là một cô gái tân thời. Đang tự nhiên cô suốt ngày thở ngắn than dài bỏ cơm, lên giường thút thít khóc, khiến cho cả nhà phải lo lắng. Cô bảo chỉ có một người bạn gái mới hiểu được cô và giải phiền cho cô. Đến khi người bạn kia tới thì cô nhỏm ngay dậy tâm sự. 

     Sở dĩ cô buổn - buồn - buồn mất mấy ngày, ấy là vì một nhân vật tiểu thuyết cô đang đọc chết, thương quá!

     Tôi nghĩ đến những con người thời nay. Chắc hẳn hàng ngày không thiếu cảnh cậu ấm cô chiêu ở các nhà giàu đập chân đập ta hành hạ bố mẹ vì không tìm ra mấy loại xe mới cho họ trưng diện. Rồi cả những cán bộ bình thường Hà Nội ngủ trưa trên bàn cơ quan và chia nhau suất cơm hộp chục ngàn cũng để hết tâm trí cả vào những Chelsea với lại Real Madrid ở các phương trời xa. Không đủ trình độ phán xét là hay hay dở, tôi chỉ biết cái sự đặt vui buồn trong tay kẻ khác như thế này đang trở thành cách sống thời đại, không ai cưỡng nổi.


NỖI THÊ THẢM CỦA SÁCH VỞ THỜI NAY


  Số lượng 

       Thống kê của các cơ quan văn hóa mà báo chí đăng lại 12-4 -2013 cho biết tính ra người Việt một năm chỉ đọc 0,8 một cuốn sách.

     Trên mạng thấy có người đã đem con số này ra so sánh với thế giới. Thì thấy ví dụ người Trung Quốc là 4,23 cuốn/người/năm. Thái Lan, Malaysia đều cao hơn so với Việt Nam.

     Thói quen khai vống khai liều để lấy thành tích vốn không lạ với xã hội ta.  Trong chuyện kinh tế còn thế nữa là trong văn hóa. Văn hóa là dễ lấp liếm hoặc nói bốc lên nhất. 

     Thành thử con số 0, 8 ở trên chỉ có thể dùng tạm. 

     Cái gọi bằng sách trong thống kê này hẳn bao gồm thượng vàng hạ cám đủ loại khác nhau và ở đó chắc chắn có nhiều tập giấy in chứ không thể gọi là sách được. Sách không ra sách, sách bất thành nhân dạng có tỷ lệ lớn. Có những cuốn không hề được lật ra, không hề được đọc, sau khi in ra chỉ xếp vào các thư viện chờ ngày thanh lý.

      Hồi mới bung ra trong làm ăn, đã thấy có tình trạng một số sách bán chạy phải khai ít đi để trốn quản lý phí. Nhưng cái thời đó qua đi rất nhanh.  Mà số lượng sách được đọc nhiều theo kiểu đó cũng chẳng phải là dấu hiệu tốt đẹp gì. Làm sao có thể coi cái sự chạy theo thời thượng ở một xã hội tiểu nông là tốt đẹp được?

      Nay là một thời khác. Nhiều tập thơ thì tuy ở ngoài ghi cũng là in 1000, thực ra chỉ in một vài trăm, vì thơ có bán được đâu. Nhưng các nhà thơ thích làm thế để cho thiên hạ biết là mình được đọc nhiều lắm. 

      Một số sách dịch ở ta được in ra là do tài trợ nước ngoài. Muốn xin được nhiều tài trợ người ta phải giả dối khai cao lên để nhận tiền, ví dụ sách in chỉ một ngàn nhưng đề hẳn ở sau là ba ngàn. Nói dối người nước ngoài ở ta không bao giờ bị lên án cả.


  Hình thức bên ngoài cũng là dấu hiệu chất lượng 

      Có những điều chúng ta đã quen mắt nên thấy bình thường. Nhưng đặt vào một khung cảnh xa rộng sẽ thấy rõ thực chất hơn. 

     Có lần trên TV giới thiệu sách VN mang bày tại Đại sứ quán Pháp để khách quốc tế tới xem. Trên màn ảnh chỉ thấy những cuốn sách mỏng dính nhưng lại lố lăng lòe loẹt.

   Có người sẽ cãi đó chỉ là cái hình thức bên ngoài? Không, tình trạng của nội dung cũng là tương tự. 

    Kỹ thuật biên soạn ở ta chỉ ở vào trình độ làm sách của những nước lạc hậu nhất trên thế giới.

    Nội dung đầu ngô mình sở lam nham, cách trình bầy sắp xếp luộm thuộm.

   Trong các báo cáo thường cũng nhấn mạnh là có nhiều sách phục vụ đại chúng bao gồm từ nông thôn đến biên giới hải đảo. Nhưng trong giới người ta đều hiểu ngầm với nhau các loại sách phục vụ nhiệm vụ chính trị này được làm rất cẩu thả. 

     Sách giáo khoa cũng thế. Cẩn thận trong chi tiết lặt vặt nhưng lại cũ kỹ xơ cứng trong những vấn đề lớn. Chỉ oai hơn ở chỗ được coi là sách chuẩn. 

     Ngay cái mà ta gọi là các công trình nghiên cứu, hoặc các giáo trình là niềm tự hào của các trường đại học, thì cũng là công trình thô sơ, không thể nói là đạt tới trình độ của nghề viết sách trên thế giới hôm nay. 

     Sự nhếch nhác trong loại sách cao cấp này còn bộc lộ ở chỗ một số cuốn chỉ lược thuật sách của nước ngoài mà tác giả lại cứ làm như mình viết ra. Tiếng trong nghề gọi là thuổng, luộc.

    Các nhà văn đồng nghiệp của tôi còn hay có cái ảo tưởng hão hiền là lúc nào một tác giả VN sẽ được giải Nobel văn chương. 

    Theo tôi biết, các nhà nghiên cứu thực thụ – cả bên khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội – thì biết mình biết ta hơn.  Họ thừa hiểu cái chuyện từ nay tới lúc có những cuốn sách được dịch ra tiếng nước ngoài, nghĩa là góp phần vào guồng máy nghiên cứu của họ – ngày đó xa lắm. 


 Những bước thay đổi vô nghĩa. 

    Ở Hà Nội trước 1975, thỉnh thoảng một người làm báo như tôi cũng được thấy vài cuốn sách in ở phương Tây do người đi nước ngoài mang về. Không rõ nội dung, chỉ cần nhìn vào cách in ấn đã thấy ta đi sau họ mấy thế kỷ.

    Thời nay thì kỹ thuật chúng ta nhập vào đã mang tới một sự tiến bộ. Có một số cuốn cũng làm được như sách Tây sách Tầu. Nói chung là sách đẹp, nuột nà hơn trước nhiều.

     Nhưng nhiều khi những cuốn sách đẹp đó lại không phải là những cuốn có giá trị về mặt nội dung.

     Hoặc đó là của mấy người buôn bán có tiền quay ra chơi bời viết sách làm sang. 

     Phổ biến hơn là sách của những cơ quan nhà nước muốn khoe mẽ, lấy vẻ trang trọng bên ngoài che đi phần nông cạn bên trong. Ngoài ra còn có loại sách cấp dưới làm để tô son đánh bóng cho cấp trên, ra cái vẻ sếp của mình cũng là những tác giả. Sách để bầy. Sách đẹp cho không. Loại này càng chẳng có ma nào đọc. 


 Sự lưu hành của sách 

       Tháng 4-2011, tôi đến Văn Miếu xem một ngày gọi là hội sách. Người ta phải bán kèm sách bằng cách tổ chức các cuộc đố vui, thi lấy thưởng. Và phát sách tự do. Từ đấy mới xảy ra cái chuyện hi hữu là có người xông vào cướp sách.

   Nhớ lại một chi tiết trong truyện Khổng Ất Kỷ của Lỗ Tấn. Nhà nho này có tật đi chép thuê cho nhà nào thì hay thó luôn sách của nhà đó, khi bị phát giác ông ta cãi lại một cách gọn lỏn “Ăn cắp sách không có lỗi.”

   Trong giới những người ham đọc cũng có một câu ba vế như sau

  -- Có sách hay mà không mang khoe là một sai lầm

  -- Trông thấy sách hay mà không hỏi mượn là một sai lầm lớn hơn

  -- Mượn được sách hay mà không thó luôn làm của mình là một sai lầm không thể tha thứ được. 

     Thế tức là phải thấy “có yếu tố tích cực” trong việc sách được người ta xông vào cướp. Là hay là đáng mừng chứ gì?

     Không, tôi biết mấy người xông vào cướp sách lần ấy không yêu sách quý sách đến thế. Họ chỉ hăng máu làm theo người khác. Thấy xông vào ăn cướp là vui thì cũng làm theo, mình giật được cái mà người khác không giật được chẳng vui là gì. Sau khi cướp được sách có người không buồn nhìn xem cuốn sách mình cướp được là gì, chỉ thầm nghĩ có thêm ít giấy về làm việc vặt. Có người vứt luôn ngoài cổng.    

     Vẫn có những người đứng đắn lo viết sách như sự nghiệp đời mình.

     Nhưng nỗi đau khổ thường trực của họ là hiện nay là sách ra, như rơi vào khoảng không. Không được giới thiệu trên mặt báo. Không được thảo luận. Muốn gây được dư luận, nhất là phải có tiền, bạo chi. Mấy người hiện nay hội đủ những điều kiện đó?! 








CẦU MAY VÀ CẦU LỢI

TRONG TÂM LÝ NGƯỜI ĐI HỘI


       Ai đọc cổ tích Tấm Cám hẳn nhớ chi tiết mẹ con Cám ghét Tấm, ghen tị với Tấm, muốn hành hạ Tấm. Biết Tấm thích đi hội làng, mẹ Cám trộn thóc lẫn với gạo bắt Tấm chọn xong mới được đi. 

        Chi tiết đã quá quen thuộc nhưng chỉ hôm nay tôi mới hiểu. Sức lôi cuốn của lễ hội thật dai dẳng. Có một ma lực nào đó cứ lôi cuốn tôi mặc dù lý trí đã bảo tôi rằng không nên đi tìm ảo ảnh. Mỗi năm mỗi có thêm những lễ hội tổ chức kém, luộm thuộm cẩu thả, nó là tình trạng chung của các hoạt động công cộng hiện nay. Và quan trọng hơn, trong một hoạt động được xem là thiêng liêng như thế, ở cả người tham dự lẫn người tổ chức laị thấy bộc lộ -- khi len lỏi kín đáo, khi trắng trợn công khai -- cả một quan niệm quá ư trần tục nếu không muốn nói rằng tầm thường xa lạ với văn hóa. 

      Vào cái “Tháng giêng là tháng ăn chơi” này, đây là câu chuyện đầu miệng giữa mọi người và đã được báo chí khai thác dưới nhiều góc độ … cười ra nước mắt.

       Vấn đề tôi muốn đề nghị mọi người cùng suy nghĩ hôm nay là tại sao lễ hội lại diễn biến theo kiểu đó, tại sao dần dà chúng ta đã làm hỏng lễ hội đi trong khi vẫn bị cuốn theo nó và có vẻ như không thể thoát khỏi nó.

    Trong một công trình nghiên cứu được sự bảo trợ của Viện Harvard Yenching mang tên Sự biến đổi của tôn giáo và tín ngưỡng ở VN hiện nay (in 2006), ngay trong phần dẫn luận, người ta đã đọc được một nhận xét đại ý nói trong xã hội hiện đại, sự hồi sinh của tôn giáo kể cả hình thức sơ khai như các lễ hội các cuộc hành hương cầu cúng…  chính là một cách phản ứng của con người trước những thay đổi lớn lao mà nền kinh tế thị trường mang lại. 

     “Có cung nên mới có cầu”. Như một phóng viên Pháp Luật thành phố HCM đã nêu trong bài phỏng vấn, chính những người đang đảm nhiệm thứ dịch vụ niềm tin --tức là các ban tổ chức-- đã biện bạch cho công việc của mình như vậy.

      Nhu cầu nói ở đây trước tiên là trên phương diện tinh thần. Vào những ngày xuân trong mỗi con người chúng ta thức dậy cả một định hướng tâm linh. Muốn tìm tới phần sâu kín trong chính mình và chung quanh. Muốn hiểu. Muốn tự cắt nghĩa.

     Trở về cội nguồn. Cố kết với cộng đồng thông qua các biểu hiện thờ cúng. Cân bằng đời sống tâm linh. Vừa sáng tạo vừa hưởng thụ văn hóa. Những luận điểm ca tụng lễ hội đã được các nhà nghiên cứu văn hóa ở ta nêu khá đầy đủ và nhiều người chia sẻ. Nhưng đó mới chỉ là một phần sự thực.

     Nguyễn Văn Huyên từng viết trong Văn minh Việt Nam (1944) “Người Việt chỉ có những niềm tin mơ hồ”. “Đời sống tôn giáo của con người ở đây không lấy gì làm sâu sắc cho lắm”. “Ở người Việt có sự lười biếng về trí óc, có xu hướng chấp nhận hết thẩy và bắt chước hết thẩy”. 

     Con người chúng ta ngày nay vẫn chưa tiến được xa bao nhiêu so với con người mà Nguyễn Văn Huyên miêu tả.

      Gần như trong lòng mọi người đi hội, một mục đích kép đã được đặt ra. Đồng thời với việc hành hương văn hóa, ta đặt vào đấy khá nặng những nguyện vọng cá nhân như là cầu may và cầu lợi. 

      Tâm lý cầu may vốn là bạn đường của những con người bối rối. Thế giới luôn luôn hàm chứa những bất trắc. Cuộc sống còn nhiều bóng tối, người ta đánh mất cả niềm tự tin, thường xuyên họ cảm thấy họ chỉ là vật hy sinh của số phận. Cuộc truy đuổi vận may không biết có hứa hẹn kết quả gì không, nhưng có tìm vẫn hơn. Những lực lượng siêu nhiên và cả những ngẫu nhiên bất chợt thành chỗ bấu víu cho những ảo tưởng.

       Bởi sự bất trắc cũng đang bao trùm trong việc làm ăn, nên khía cạnh cầu may cũng đã có mặt trong việc cầu tài cầu lợi. Thực tế là bao người tử tế vì không biết trơ tráo liều lĩnh làm càn vẫn thất bát, ngược lại làm bậy vẫn được, giỏi mưu mô xảo quyệt tự khắc giàu lên đùng đùng. 

     Trong những lúc lắng lại đối diện với mình, những kẻ thành đạt bằng con đường gian dối không khỏi hoảng sợ. Cùng một lúc nẩy sinh hai tâm trạng. Một mặt lo bị trừng phạt, phải đi tìm thần thánh để hối lộ. Mặt khác tiếp tục phiêu lưu vào con đường tội lỗi, mong rằng cái vận may hôm qua nay lại gặp lại. Cầu cúng chính là một dịp nuôi dưỡng những tham vọng ngầu đục muốn tìm vào chỗ tăm tối của lễ hội để được nuôi dưỡng và an tâm sống tiếp.

     Tâm lý cầu lợi đang chi phối cả những người làm lễ hội đón khách cầu cúng. Bởi họ cũng chỉ như chúng ta. Ban đầu họ cũng say người vì những mục đich cao cả. Nhưng rồi cuộc sống hàng ngày chi phối, họ cũng sa đà vào cảnh buôn thần bán thánh, nhân danh sự thiêng liêng của lễ hội để làm chuyện lừa lọc.

    Phan Kế Bính viết trong Việt nam phong tục “Xét cái tục hội hè của ta rước xách rất phiền phí, ăn uống rất lôi thôi, chơi bời rất chán chê, thực là hại của mà lại mua lấy cái khó nhọc vào mình”. Ông cũng nói thêm hội hè là dịp người ta chơi bời, cờ bạc, thanh niên bỏ cả công việc ở nhà đi hội, vậy thì “chẳng những vô ích mà lại hại cho làng xóm”.

    Để thoát ra khỏi tình trạng mà Phan Kế Bính cảnh báo, cần có sự nỗ lực của cả xã hội. Cần nghiên cứu những biến động mới trong tâm lý xã hội. Cần tìm ra những cách tổ chức mới cho nhu cầu vừa là giải trí vừa là hướng thượng cho con người. Mọi thứ mệnh lệnh không đủ, đến cả luật pháp nếu có chắc cũng bó tay. Cái mà chúng ta đang thiếu là văn hóa, không phải thứ văn hóa nặng về khoe mẽ và chiều nịnh nhau, mà là thứ văn hóa của trí tuệ.

   Có điều là trong khi chờ đợi những chuyển mình của cả xã hội thì mỗi chúng ta vẫn như cô Tấm ngày nào, ngóng về lễ hội với nỗi bồn chồn không yên. Như tôi đã nói từ đầu, mặc dầu biết lễ hội đang bị biến tướng, nhưng tại sao mỗi người chúng ta vẫn vô cùng quyến luyến và nếu chưa được thả mình trong nó thì vẫn phải nghĩ về nó. Tại sao? Là bởi chúng ta vốn yếu lòng. Ta sợ xa cách với mọi người. Bước vào cuộc sống hiện đại nhiều người vẫn lúng túng như gà mắc tóc mà không sao tìm được định hướng tâm linh đúng đắn. Một sự hốt hoảng trước tương lai đang bộc lộ mà không có cách gì che dấu.







NỐI LỄ HỘI VÀO... TRỤY LẠC

       

      Thỉnh thoảng lại thấy tin các cơ quan điều tra phát hiện ra những đường dây đánh bạc lớn. Một người bạn tôi vừa nói đùa vụ PMU đã đi vào ký ức lịch sử, chắc vài chục năm sau, chỉ cần nhắc tới danh hiệu “con bạc hàng triệu đô la” là mọi người nghĩ ngay đến cái thời ta đang sống. 

       Nhưng có một sự thực tôi nghĩ còn tàn nhẫn hơn, đó là hành động đỏ đen muôn vàn kiểu đang phổ biến đến mức đáng sợ. Các chiếu bạc lẩn quất ngay ở các cơ quan ngoài thành phố lớn và công khai ngay ở giữa các trụ sở ủy ban vùng nông thôn hẻo lánh. Cháu Hoà, một ô sin cạnh nhà tôi vừa về Tết lên kể, một bà hàng xóm ra Hải Phòng có mấy tháng mang tiền triệu về cho chồng con. Có gì đâu, bà ta được giao cơm nước cho một sòng bạc nhỏ. Chủ nhà cho thuê địa điểm, mỗi ngày thu về vài trăm ngàn. 

      Có lần tôi được xem một bức ảnh chụp cảnh chọi trâu ở Đồ Sơn. Nhìn một người say mê nhìn theo trâu, đã thấy mừng. Đến khi nhìn đồng bạc đánh cược lăm lăm trên tay anh ta, tôi hiểu ngay rằng chẳng có tình yêu thể thao với tinh thần thượng võ nào ở đây cả, mà chỉ có một con bạc đang khát nước. 

     Nhiều cơ quan, lương thấp nên công việc cũng khá nhẹ nhàng. Thấy mọi người nhất là lớp thanh niên rỗi quá mà chẳng biết làm gì, tôi đã máy mồm định nói sao không học đi, kiến thức thời đại đang đòi hỏi phải học…nhưng kịp hãm ngay lại. Ngày xưa mới thế, chứ ngày nay nói chuyện tự học những lúc rỗi rãi, nghe có vẻ lạc điệu quá, người ta cười chết. Nhưng tôi biết rằng nhiều chiếu bạc được hình thành từ chỗ rỗi rãi thế này. Đời sống tinh thần quá nghèo nàn, ngay cả nhu cầu hưởng thụ ở nhiều người cũng chí thể hiện ra ở những đòi hỏi tầm thường và trong đa số trường hợp thì đánh bạc được xem là tiện nhất. Nhiều người thường trích dẫn câu “Nhàn cư vi bất thiện”, họ chỉ quên rằng người xưa dành câu đó cho hạng tiểu nhân. Còn những người đứng đắn mà người xưa kêu là quân tử có những niềm vui khác hẳn.  

       Cờ bạc trước tiên gắn với tham nhũng ăn cắp. Nay có những người tiền nhiều quá mà chẳng biết tiêu gì cho hết tiền. Ô tô sắm rồi, rượu chè thoải mái rồi, bằng cấp tiếng tăm mua được rồi, mà tiền vẫn không hết, thì tội gì không đánh bạc. 

       Thế nhưng có cái lạ là nhiều người nghèo cũng đánh bạc. Trước kia tôi cứ thắc mắc mãi chuyện đó, như thắc mắc sao các xóm liều không thiếu cảnh nghiện hút. Sau đọc lại thấy từ Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Huyên…các nhà nghiên cứu đó đều đã kêu từ xưa đam mê cờ bạc ở dân mình đã thành một cái tật, nhiều người bước vào chiếu bạc với ý nghĩ không chừng nhờ cờ bạc mà thoát cảnh nghèo. Cố nhiên đó chỉ là một cách tự lừa mình rất đáng trách. 

      Nhưng nhiều người còn lưu ý là bao giờ nạn cờ bạc cũng gắn với mê tín dị đoan. Cuộc sống quá nhiều bấp bênh, chẳng biết còn tin ở cái gì nữa. Rút lại, hình như chỉ còn là chuyện cầu cúng. Gọi là đi lễ hội để trở về nguồn cho sang, chứ việc chính là cầu cúng. Rồi nhân vui cầu cúng mà đánh bạc, cũng là thử tìm vận may một cách tuyệt vọng.

      Đã nhiều tờ báo đề cập tới tình trạng này. Đại khái nhiều nơi hội làng vừa mở thì cũng là lúc rất nhiều quý tử trong các gia đình thi nhau lao vào cuộc đỏ đen, có người mấy ngày nướng hết vài chục triệu.

      Có một khẩu hiệu mà ngành du lịch mới nêu ra thời gian gần đây: Nối lễ hội với di sản. Ồ, ý tưởng nghe hay quá! Nhưng chỗ trong nhà xin nói thật, dân mình còn thông minh hơn nhiều, từ lâu một số lễ hội đã được người ta nhanh nhảu nối với cờ bạc một cách khá thuần thục, mà chẳng cần tuyên bố tuyên ngôn gì cả. 






 PHẦN 3



ẢO TƯỞNG, ĐÂU DỄ TỪ BỎ


        Giữa bao nhiêu vụ bê bối đương thời, thì vụ “bán độ trong bóng đá năm 2004” chỉ là một cái gì rất nhỏ. Sau khi điều tra trên diện rộng, và có lẽ chỉ có một số nhỏ người có liên quan là có án cụ thể. Song tôi nghĩ cái số người không có án, số đó mới đáng sợ. Nghĩ tới họ ta hình dung ra cả một tình trạng lầm lỗi tràn lan với những biểu hiện muôn màu muôn vẻ.

       Đã có những con người hư hỏng, cậy chút tài năng để buông thả, và thường xuyên đầu cơ lòng yêu mến của người hâm mộ. 

       Đã có những cán bộ phụ trách làm ăn với xã hội đen để kiếm chác. 

       Đã có những tập thể cùng nhất trí đưa tiền đi hối lộ. 

       Đã có những thành tích có được do đi xin đi chạy. Đã có lối sống bài bạc trai gái rủ rê nhau làm bậy rồi phản bội nhau, ăn chặn tiền công của nhau. 

       Đã có những cuộc chạy làng. 

       Đã có lỳ lợm chối quanh ngoan cố cãi chày cãi bửa sau khi bị cơ quan điều tra phát hiện.

       Tóm lại, đã có những tội lỗi mà lâu nay chúng ta chỉ đọc trong sách vở, hoặc xem trong phim ảnh, nay trong thực tế còn bẩn hơn ghê hơn. Không gì xa lạ với xã hội Việt Nam hôm nay cả.  

       Đấy, cái chính làm cho người ta nghĩ ngợi nhân chuyện cá độ bóng đá là ở chỗ ấy: Nó không phải là một “hiện tượng cá biệt” như chữ ta hay dùng. Nó tiêu biểu cho một xu thế thấy ở nhiều ngành nhiều địa phương. Chẳng qua, những ngành những địa phương đó quan trọng, lôi ra thì xấu hổ chung nên người ta ỉm đi. Còn thể thao ư, thể thao có vẻ chẳng là gì cả, nên người ta cho “bới tung” ra như vậy.

      Dẫu sao, nó – cái hiện tượng tiêu cực chung –, cũng đã có dịp được bộc lộ, và ai cũng thấy đây không phải là chuyện riêng của một ngành thể thao. 

       Nhân đây tôi nhớ lại một mẩu chuyện cũ.

       Nhà thơ Thợ Rèn có lần kể với tôi: Cụ Tuân (tức nhà văn Nguyễn Tuân) mang tiếng là con người phức tạp hay thắc mắc chứ thật ra nhiều khi cũng ngây thơ lắm. Đâu mấy năm đầu hoà bình 1954, chính cụ đã có lần kêu tướng lên rằng nay là lúc ai cũng tốt cả, vậy thì các loại nhà tù như Hoả Lò cần giải tán đi chứ để làm gì nữa. 

      Sau này nghĩ lại, chính Nguyễn Tuân cũng thấy buồn cười cho mình. 

      Nhắc lại chuyện ấy để thấy ngay ở những nhân vật xuất sắc của xã hội, trong sự suy nghĩ nhiều khi cũng có ảo tưởng. 

       Mà cái ảo tưởng lớn nhất là lầm tưởng rằng chúng ta có một xã hội khác hẳn mọi xã hội khác. 

       Xấu xa đê tiện hư hỏng tàn ác…không có đất sống. 

       Có thể còn nghèo nhưng “đói mà sạch rách mà thơm”. 

       Mọi người đều “trên mức tuyệt vời”. 

       Ai cũng thành chủ nhân ông chân chính của đất nước. 

       Ai cũng đáng yêu. 

       Vâng, kỳ lạ, ngớ ngẩn, ảo tưởng, bốc thế đấy! Có người còn ngờ vực chưa tin ư? Chỉ cần giở sách giáo khoa mà học sinh các cấp đang học. Chỉ cần giở các sáng tác văn thơ “kinh điển” ra, những câu thơ kiểu như “Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn” (Chế Lan Viên) nhan nhản, nó là bằng chứng của một cách nghĩ đã thuộc về quá khứ.  

    “Răng không cô gái trên sông—Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài - Thơm như hương luỵ hoa nhài -- Sạch như nước suối ban mai cửa rừng...” 

    Đó là mấy câu trong bài Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu mà nhiều thế hệ học sinh nửa thế kỷ nay phải học thuộc lòng, và nếu tôi không lầm thì ai cũng thấy đúng. Ngày mai sẽ hơn ngày nay, còn gì đúng hơn thế nữa? Nhưng nay nghĩ lại, nó không phải là ảo tưởng thì còn là một cái gì khác?

    Ảo tưởng mãi mãi nẩy sinh là vì thế, nó thuộc về tất cả chúng ta, khi chúng ta chưa trưởng thành. Và nó khó vượt qua, là vì khi đã nẩy sinh rồi thì cứ làm người ta quyến luyến mãi.

    Năm 2006 có vụ tự truyện Lê Vân yêu và sống bị nhiều người phản đối. Nhiều người không thể chấp nhận chuyện một người con gái -- ở đây là một diễn viên nổi tiếng – mang kể tung những chuyện riêng trong gia đình mình cho mọi người cùng nghe. Một mặt người ta tỏ ý thạo đời: “Ai chả biết!”. Mặt khác người ta vẫn cho là nhiều điều chẳng hay ho gì ấy nhất thiết không được đưa lên trang giấy, không được cho lớp trẻ đọc.

     Qua việc này tôi nhận thấy thói quen sống trong ảo tưởng vốn đã trở nên thâm căn cố đế nơi nhiều người lại có thêm cách bộc lộ mới. Ảo tưởng rằng nếu ta nhắm mắt không muốn nhìn một hiện tượng xấu nào đó thì rồi tự khắc nó sẽ biến đi. Nhất là ảo tưởng là chúng ta muốn nhào nặn lớp trẻ thế nào cũng nên, muốn nói dối những công dân tương lai đó thế nào cũng được.   

    Trên nguyên tắc thì ai cũng biết phải dám nhìn thẳng vào sự thật. Nhưng trong thực tế thì đã bao lâu nay lối sợ khuyết điểm sợ sự thực kéo dài, dẫn tới che giấu cho nhau và nhiều khi cả đám đông hùa vào cùng bảo nhau che giấu. Người nọ sợ người kia biết. Cấp dưới sợ cấp trên biết. Người già sợ thanh niên biết. Người phụ trách sợ dân biết…Thoạt đầu là thành tâm, là có dụng ý tốt. Nhưng do đã kéo quá dài nên những động cơ tốt đẹp ấy không đủ để biện minh cho bao nhiêu tai hại tiếp nối. 

            
















 NHỮNG TÙ NHÂN 

CỦA LỢI ÍCH TRƯỚC MẮT


     Triều Nguyễn nổi tiếng với việc cấm đạo. Người ta cắt nghĩa đó là tại Nho học đã thấm quá sâu, khiến vua chúa sinh ra bảo thủ. Nhưng một người tôi quen bảo có gì đâu, tại các bà phi tần cả. Vua mà đi lễ nhà thờ thì phải theo chế độ một vợ một chồng, và tam cung lục viện không biết chừng giải tán hết (?!). Nên các bà vừa nghe phong phanh đã không thích đạo và bảo nhau nằn nì xin vua cấm đạo bằng được.

     Suốt thời trung đại Việt Nam không chế được ra thứ văn tự riêng của mình, trong giấy tờ hành chính trong trước tác và nói chung trong tư duy phải dùng chữ Hán. Chữ nôm sớm được nghĩ ra, nhưng ác một nỗi là phải giỏi Hán thì người ta mới giỏi nôm được. Tại sao có tình trạng đó? Cũng như trường hợp trên, ở đây có một cách giải thích mà tôi chưa chứng minh được, nhưng cảm thấy có lý: Chính các nhà nho xưa muốn thế. Nếu có một công cụ mới quá thuận tiện, ai cũng học được, thì còn đâu là đặc quyền của lớp người có học trong xã hội. Tìm ra thứ chữ dễ học? Trao cần câu cơm cho người khác à? Có đâu dễ thế! 

      Cài gì là động cơ thúc đẩy con người trong lịch sử? Chúng ta hay giải thích bằng những cái lý lớn: vì họ hiểu ra thế này, vì họ nhận thức được điều kia. Nhưng trong thực tế, nhiều khi lại chỉ thấy có những nguyên cớ rất thiết thực. Với phần lớn người đời, phải nói chúng ta thường xuyên là tù nhân của những lợi ích trước mắt.  

      Hai mẩu chuyện trên đây là bằng chứng cho thứ lý thuyết mà tôi vừa nêu. Nó có vẻ chỉ thấy con người ở góc độ chật hẹp. Nhưng sao tôi thấy nó đúng với nghĩa giúp tôi giải thích nhiều sự việc kỳ cục. Cả với nhiều chuyện hôm nay cũng đúng.

       Như chung quanh câu chuyện gần đây thiên hạ hay bàn là vấn đề cải cách giáo dục. 

      Ai cũng thấy là giáo dục quá ư xập xệ. Không ngại mang tiếng ác khẩu, có người còn bảo là suy đồi là vô phương cứu chữa. Điều có thể nói chắc là, nói theo ngôn ngữ hàng hóa, thì một tỷ lệ lớn sản phẩm -- tức những thanh niên mà hàng năm chúng ta cho ra lò -- so với tiêu chuẩn hiện đại, chỉ là loại thứ phẩm, không đào tạo lại không dùng được. 

      Trừ người đã mất hết lý trí, tôi tin ai cũng thấy là cần phải thay đổi. 

       Nhưng thay đối thế nào bây giờ? Liệu sau những năm chiến tranh, ai là người hiểu biết về giáo dục hiện đại để đề ra một đề án thích hợp? Rồi ngay cả khi có phương án đúng, thì lấy đâu ra tiền của để thực hiện? Tiếp tục xếp sang một bên câu chuyện tiền của đi nữa. Ta sẽ có trường sở đàng hoàng. Ta sẽ có chương trình đi sát yêu cầu kiến thiết đất nước. Vâng, không thiếu gì cả. Thì tới câu hỏi cuối cùng, lấy đâu ra thầy và trò để lấp đầy cái nhà trường đó?  

       Và trước tiên, điều vướng mắc nhât, đó là những người bấy lâu trong nghề giáo dục -- các thầy các cô hiện nay -- sẽ đi đâu làm gì? 

      Đào tạo lại ư? Lâu nay họ đã là máy cái rồi, có thứ máy cái nào khác đào tạo họ được?

      Đặt địa vị mình cũng là một người đang làm trong nghề, không muốn dối lòng, hẳn tôi phải nói rằng chính tôi ngại lắm! Chẳng phải chỉ các quan chức trong ngành muốn duy trì hiện trạng, mà ở chỗ thâm sâu trong lòng mỗi người, chúng tôi đều lờ mờ e ngại rằng trong mọi sự thay đổi, đâu có dễ tìm ra chỗ của mình.

      Vậy thì kêu lên cho phải phép thôi, chứ bàn chuyện thay đổi đến cùng sao được!

       Không ai tự nguyện chặt chân mình. Đời sống đã quá phiền toái rồi, không ai muốn tự làm phiền thêm nữa.

      Ở đâu tôi cũng quan sát thấy sự có mặt của cái chân lý chết tiệt đó!

      Như mấy ngày đầu tháng sáu này, kỳ thi tốt nghiệp phổ thông vừa được tiến hành trên phạm vi cả nước, báo chí phải có bài đánh giá. Trên tờ báo nọ, người ta thấy một bài phỏng vấn, một phóng viên hỏi có phải năm nay Bộ chủ trương tháo khoán không mà nghe thấy tình hình xuôn xẻ thế, rồi một quan chức của Bộ thì trả lời rằng đâu có, mọi chuyện được tiến hành nghiêm túc lắm, không có chuyện Bộ để cho địa phương làm đẹp kết quả. 

       Hẳn nhiều bạn đọc chỉ thoáng nghe qua là đoán được tình hình thực hư thế nào rồi. Nhưng tôi cho là phải thông cảm với vị quan chức kia mới được. Ai ở địa vị một quan chức đương quyền cũng phải nói kiểu ấy. Chứ “lạy ông tôi ở bụi này” để làm gì? Để chứng tỏ rằng cái Bộ của mình có tổ chức mấy kỳ thi cũng không nên thân à? Đốt đuốc giữa ban ngày cũng không tìm ra ai khờ khạo thế. 

      Người ta sẽ chẳng nói gì mới nếu bảo rằng trong khi ở ta, ai bây giờ cũng khôn ngoan cũng giỏi tính toán cho mình, thì trên con đường đi vào tương lai, cả xã hội lại đang bước những bước thật là dại dột. Ta đang cho thuê đất thuê rừng lấy vài đồng rẻ mạt. Ta đang khai thác bừa bãi khoáng sản để lấy tiếng là có xuất khẩu và có vốn liếng làm những cuộc hội hè tốn kém. Ta để cho bao nhiêu học sinh giỏi giang ra nước ngoài học bảo nhau không thể quay về vì quay về không có chỗ để làm việc…Như thế là tự mình đào móng ngôi nhà đang ở, mình chặt chân mình, chứ có gì khác. Cứ mỗi trường hợp có sự mâu thuẫn xung đột giữa hiện tại với tương lai thì chúng ta đều lấy tương lai hy sinh cho hiện tại.























ĐẰNG SAU SỰ THAM LAM NÔNG NỔI

LÀ MỘT CHÚT HƯ VÔ



        Cuối tháng 5 đầu tháng 6/ 2007 có tin: ngành sản xuất chè ở Mộc Châu bị một cái “nạn” bất ngờ là nạn chè vàng. Nhiều người từ đâu đến rủ rê dân bán chè bán cả chè chưa thành chè, cả cành cả ngọn. Họ thu gom không chỉ là chè khô mà cả búp chè tươi, chè héo và dụng cụ chế biến thô của Việt Nam mang về chế biến. Chè cũng chẳng cần phân loại phẩm cấp (búp thường dài 10-12 cm, 5-7 lá, thu hái bằng dụng cụ dao, liềm, phơi nắng ngoài đường...). Thế nào cũng được! Mục đích của họ là cốt làm cho dân địa phương ham lợi tự tàn phá vườn chè mình, được ít tiền chạy lăng nhăng, sau đó rơi vào cảnh thất nghiệp. Một bài viết trên báo đặt cái tít vui vui Vàng mặt vì chè vàng (có người bảo tôi chữ vàng ở đây không phải quý báu mà là tệ hại, giống như nhạc vàng -- không biết có phải?).  

      Từ các tỉnh phía bắc, cơn “lốc” thu mua chè vàng còn ào ạt vào tận vùng chè Lâm Đồng. Nhiều thương nhân xuống tận các cơ sở thu gom chè xanh, phơi nắng lẫn cả đất, đá, tro, bụi rồi đem bán. Ồn ào một hồi mọi người mới sững người ra. Bị khai thác cạn kiệt rồi chè sẽ hỏng. Ai cũng hình dung ra mà chả ai đừng được. 

    Vụ chè vàng vừa qua đi thì đến trung tuần tháng 8 năm ấy lại chuyện một số cây sưa ở Hà Nội bị chặt phá. Gỗ sưa theo các nhà chuyên môn là loại gỗ quý, trên thị trường giá tới 1,5 triệu một kg, một cây chặt ra mang bán hàng tỉ. Mà cây lại đang nằm vô tư ở các công viên cây xanh. Thế là các ông quản lý công viên văn hóa Đống Đa Hà Nội gật đầu cho đám dân buôn thuê người vào xẻ thịt một cây có đường kính tới 45cm. Một đêm là xong. Một bài báo nêu rõ trong việc này chính thủ trưởng Ban quản lý công viên chỉ đạo từ A đến Z!

     Tin các báo đưa ngày 25-8-07: ngôi mộ Nguyễn Tri Phương ở ngoại ô TP Huế bị đào bới. Đây là ngôi mộ một danh tướng thời Nguyễn. Mộ có tới 134 năm tuổi. 

      Mấy sự việc này có chỗ giống nhau. Việc chặt hại những cây sưa cho thấy thói quen sống của nhiều người đương thời, tối mắt vì những cái lợi trước mắt, bất chấp lương tri bình thường, bất chấp pháp luật. Việc đào mộ lại còn đi xa hơn nữa. Ở đây người ta không còn coi cái gì là thiêng liêng. 

    Tôi nhớ thuở nhỏ nghe ở phố xá dân buôn chỏng lỏn rủa nhau: 

    -- Rắc cho nó mấy đồng thì bảo đào mả tổ tiên nhà nó lên, nó cũng đào!

     Nghe có vẻ như một lời thậm xưng, một thứ ngoa ngắt, nói cho sướng mồm, chứ làm sao có loại người đốn mạt vậy. Hóa ra điều tưởng tượng của người xưa đến hôm nay đã thành sự thực.

     So với hai việc trên, cái sự dân rủ nhau phá cả vườn chè mang bán có cái gì nhẹ nhàng hơn, dễ thông cảm hơn nhưng không phải không đáng buồn. Ở đây có cái nông nổi ham lợi trước mắt, không nghĩ tới việc làm ăn lâu dài; có cái thói bất cần đời, cốt có mấy đồng tiêu cho sướng cái đã, mai đói lại lo sau; có cái sự ỷ lại đã thành thói quen, một khi mình khổ quá, thì xã hội với nhà nước cũng chẳng bỏ được mình; có cái mơ hồ về tương lai, chắc khá lắm thì đời mình cũng chỉ là xây được cái nhà mua được cái xe là cùng; cái số đã vậy, “chạy trời không khỏi nắng”, chẳng bao giờ sướng được hơn, vậy việc gì phải bó mồm bó miệng, tung hê cho nó đã.

         Nghe nói nguồn gốc của hai vụ trên chè vàng và chặt gỗ sưa có chỗ giống nhau. Là do có nhu cầu người ngoài người ta muốn nhập, nên họ đặt hàng và dân mình cứ thế mà làm theo, không phân vân gì.  

      Ngồi mà oán người ta độc ác xúi mình làm điều dại đột ư? Không, “tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Tại ta trước hết. Thế còn thử giải thích nguyên nhân tại sao ư? Bộ máy quản lý kém cỏi, trông nom không xuể? Sự giáo dục sáo mòn vô bổ? Đối diện với tình trạng tham nhũng tràn lan, người dân và những cán bộ cấp thấp trở nên bất cần tha hồ làm liều? Nói thế nào cũng có lý. 

       Từ chiến tranh bước ra, say sưa trong việc kiếm sống, con người Việt Nam hôm nay là những con người thích tự do hành động. Nhiều người cảm thấy mình có quyền làm bất cứ việc gì, miễn tồn tại. Chỉ có những việc người ta chưa làm được, chứ không có những việc không được làm.

       Nhưng với nhân loại hiện đại, mọi việc không đơn giản vậy. Bên phương Tây, từ lâu, các nhà triết học bảo rằng chỉ khi cảm thấy Chúa đã chết rơi vào hư vô thì con người mới tự ban cho mình cái quyền tự do tuyệt đối kiểu ấy. và người ta tìm cách ngăn chặn, để kéo con người trở lại với tinh thần nhân văn vốn có.  

       Gần gụi hơn là quan niệm xử thế của phương Đông. Trong một cuốn sách ghi lại những câu châm ngôn nổi tiếng của các nhà nho (Nho gia châm ngôn lục), tôi mới nhặt được một câu đại ý muốn đánh giá một người không chỉ căn cứ vào việc xem lúc giàu có, người đó thường bố thí cho những người khác thế nào; mà còn phải xem xem “lúc cùng khốn người đó thường từ chối không làm những việc gì”. Vậy là cũng xuất phát từ yêu cầu cao với con người để đặt vấn đề giữ hành động trong chừng mực.

      Chuyện tưởng như đâu đâu, nhưng nghe ra áp dụng ngay cho dân mình…cũng được.

       Nên chú ý thêm cái sự nông nổi như vụ chè vàng lại diễn ra thành cả phong trào của nhiều làng xã.

      Chúng ta quen nghĩ quần chúng thì không thể sai lầm, tập thể thì bao giờ cũng sáng suốt, hóa ra không hẳn vậy. 

Trước mắt tôi là cuốn sách Tâm lý đám đông của nhà tâm lý học người Pháp Gustave le Bon (1841-1931), mới được NXB Tri thức cho dịch 2006. Đại ý tác giả viết rằng trong đám đông, con người hành động theo chiều bất định của các mối kích thích. Cá nhân có thể dùng lý trí để khống chế được những gì ngẫu nhiên bột phát trong mình, đám đông thì không. Trong quần chúng thấy hàm chứa những phẩm chất trái ngược nhau, một đám đông ô hợp có thể rất hào hiệp nhưng cũng rất tàn ác, có thể sáng suốt đấy mà cũng khiếp hèn dại dột ngay đấy. Vụ chè vàng nói ở đây chẳng phải là một dẫn chứng rất đắt cho những nhận định đó?     


VỪA LÀ TÌNH CẢM, VỪA LÀ CẦU LỢI


Có phải cách biểu hiện tình cảm của người mình nhiều khi quá ồn và mang nặng chất diễn, tức thích ngả sang khoe mẽ phô phang? Liệu bao giờ chúng ta mới tìm ra được cái hình thức hợp lý cho những nghi lễ cần thiết? 

Nhiều lần ý nghĩ ấy đã đến với tôi, nhất là trong những dịp vui, chẳng hạn một đám cưới hỏi, một lễ hội, và cả trong những ngày tết cổ truyền. Hôm nay đây nó lại đến với tôi nhân không khí xã hội vào đêm trước của ngày 20-11, ngày nhà giáo Việt Nam như vẫn được gọi một cách trang trọng. Một mặt, tôi thấy việc này là cần thiết và mong mỏi có cách gì đó thực hiện một nhu cầu tình cảm chân thành nơi mình; mặt khác, lúng túng vì chẳng biết cách sao để bộc lộ. 

Nhìn ra chung quanh, cũng thấy một tình trạng bất lực tương tự. Trong phần lớn trường hợp, tình cảm được biểu hiện một cách vụng về. Người này lặp lại người kia, năm nay nói những chuyện y như năm ngoái. Cười cười nói nói đấy mà không tạo được cảm giác thiêng liêng như nó phải có. Lời nói của con người lúc này trở nên nhàm chán, nó đã bị tha hoá ngay ở cái chỗ nó phải tự nhiên và tươi mới hơn ở đâu hết. Người ta, tức là cả học sinh và thày giáo, chỉ làm cái việc hình như ai ở vào hoàn cảnh ấy cũng làm, chúc tụng nhau, cám ơn nhau, hứa hẹn với nhau, ngoài ra các trò thường không quên có thêm ít quà, quà sẽ to nhỏ tuỳ tâm tuỳ sức, mà cũng tuỳ theo cái yêu cầu họ muốn gửi gấm và chờ đợi nơi thày -- điều sau cùng này tuy không nói ra song ai cũng hiểu.

Ngày hội này đang có quy mô ngày càng lan rộng, nhất là ở các thành thị. Đường sá tấp nập hơn những ngày thường. Trước khi nối nhau xuôi ngược, học trò chen chúc ở các cửa hàng. Giá hoa ở những người đạp xe bán rong tăng vọt hẳn lên, để rồi mấy hôm sau, đống rác nào bên đường cũng to hơn ngày thường vì những bó hoa vứt sớm.   

 Người có lỗi trước tiên phải kể là chính chúng ta, tức là các bậc cha mẹ học sinh, bên chủ động trong cái lễ hội tự phát này. Rằng tình cảm không thể là lời nói suông. Rằng mỗi người phải góp phần xã hội hoá giáo dục. Rằng lương của các thầy các cô, cũng như lương của mỗi chúng ta, vốn đã quá thấp...Ta viện ra đủ thứ lý do để biện hộ như vậy. Song đằng sau cái việc mà bảo là làm vì các thầy, thật ra ta đang làm vì chính bản thân. 

Nhiều người tha thiết giục con đi đến thăm thày bởi chỉ sợ thày quên con mình. Không muốn để ai biết, nhưng trong thâm tâm, họ sẵn sàng tìm cách lấy lòng thày một cách thiết thực, như khi đi cúng bái, họ đã toan hối lộ thần thánh. Tức là, cái tư duy thực dụng -- một lối thực dụng sát mặt đất mà người ta thường tưởng lầm là đặc trưng của thời buổi kinh tế thị trường -- đã sớm có mặt. 

Thế nhưng các thày hoàn toàn vô can chăng? 

Trong khi đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi này, tôi tìm được một đoạn trong cuốn Việt nam phong tục của Phan Kế Bính (sách viết năm 1915). 

Sau khi bảo rằng “người ta sinh ra ở đời... có thày dạy mới khôn biết việc này việc nọ, cho nên học trò ở với thày cũng như con ở với cha mẹ, ấy cũng là một luân thường của Á Đông ta”, tác giả than phiền: 

“Song cũng vì tục trọng sư đạo ấy mà sinh ra mấy thói dở. Kìa như các bực đáng mặt mô phạm, có công dạy dỗ có ân đức giáo hoá nhuần thấm đến người thì người ta không nên quên đã đành. Còn như mấy ông đồ quèn học hành chưa hiểu vỡ mạch sách, văn chương chưa thuộc đủ lề lối, mà đã đi về các vùng nhà quê tìm nơi thiết trường, gõ đầu năm ba đứa trẻ để hộ khẩu (có thể hiểu là để kiếm ăn -- VTN chú) cho qua ngày, vậy mà cũng dám lên mặt đạo mạo. Động một tí thì bổ cho đồng môn, nào khi nhà thày có giỗ, nào khi thầy có việc mừng vui, nào khi thầy lấy vợ, nào khi thầy lên lão làng cũng lôi đồng môn ra mà bắt gánh vác, ấy lại là cái mọt của thiên hạ”. 

Cái hiện tượng Phan Kế Bính miêu tả thuộc loại những bi kịch của một xã hội dựa trên kinh tế tiểu nông -- khi chưa tìm ra được cách thanh toán công xá với nhau, người ta phải nghĩ ra nhiều thứ gọi là lễ để thay thế. Và cái bi kịch ấy vẫn còn, khi điều kiện kinh tế đẻ ra nó vẫn còn! Vào những ngày này, nhiều thầy cô giáo, ở chỗ riêng tư, vẫn bảo rằng nhận quà và nghe những lời chúc mà chẳng thấy thú vị gì cả. Song bất chấp những phản ứng lẻ tẻ, guồng máy vẫn quay, và đứng ở ngoài mà nhìn, thì thấy thầy trò ai vẫn ở đúng vị trí người đó. 


CHÍNH NHỮNG PHỤ HUYNH

“QUÁ TÍCH CỰC” CŨNG CÓ LỖI


         Nếu có ai hỏi trong số các sự kiện của năm 2002 có những chuyện gì đáng nhớ nhất, thì về phần mình, tôi nhớ ngay tới câu chuyện của một quan chức của Bộ giáo dục. Ông này nhân trả lời một cuộc phỏng vấn về chất lượng đào tạo, nói rõ ra rằng thực ra hàng năm chỉ khoảng độ ba chục phần trăm học sinh các lớp của trường phổ thông đáng được lên lớp và đáng được công nhận là đã tốt nghiệp, chứ không phải những con số tám chín mươi phần trăm (thậm chí không ít nơi trăm phần trăm) như hiện nay.

       Từ lâu, bọn tôi đã biết rằng trình độ dạy và học ở ta rất kém, các sinh viên đại học ra trường khó kiếm được việc làm, căn bản là vì không theo kịp trình độ sản xuất hiện thời.  

       Riêng trong phạm vi bậc học phổ thông, từ lâu chúng tôi đã biết rằng nhà trường bây giờ cho điểm quá dễ, trẻ con ở nhà chúng thường gọi là điểm của thày cô rất rẻ.

       Mặc dầu vậy, mọi người vẫn nghĩ rằng có kém thì giáo dục ta cũng kém một chút thôi, và đã có sự thông minh ham học sẵn có của dân mình bù lại. Nay hoá ra toàn ảo tưởng! Kể cả trong trường hợp con số mà vị quan chức kia nêu ra không hẳn đã chính xác 100%, thì tôi vẫn tin rằng, trên nguyên tắc, ông đã nói lên sự thật.   

      Tuy nhiên, người ta lại càng thấy buồn hơn khi nghe vị quan chức Bộ giáo dục nói trên cho biết khả năng giải quyết tình hình hiện nay. Theo ông, tình trạng trên sẽ không dễ khắc phục, nói nôm na là không thể giải quyết nổi, vì phụ huynh học sinh thời nay có tâm lý con cái đi học thì phải giỏi giang, chứ không ai chấp nhận đến 60-70 % ở lại lớp.

      Cả lần này nữa, vị quan chức kia đã nói đúng. Xin tạm phác ra sơ đồ một cách nghĩ cách làm về giáo dục phổ biến trong xã hội như sau: 

     --- Lấy lý do ai cũng có quyền được đi học, chúng ta tổ chức việc học một cách tuỳ tiện, trường không ra trường lớp không ra lớp cũng cứ mở, thầy không ra thầy cũng cứ cho dạy. Trong hoàn cảnh kinh tế còn yếu kém, chẳng những cơ sở vật chất các trường ở ta khó khăn, mà chương trình học và nói chung mọi chuẩn mực ở nhà trường cũng bị hạ thấp. 

     --- Đáng lẽ phải coi tình trạng nói trên là đáng xấu hổ, sớm muộn phải tìm cách khắc phục thì, trong sự bề bộn của công việc hàng ngày, ta tự ru ngủ rằng mọi chuyện trong giáo dục đang rất bình thường, và nghĩ ra đủ mọi lý do để chống chế. 

       Nếu không có chuyện con cái tốt nghiệp phổ thông khó vào đại học, hoặc ra trường không cần chạy tiền vẫn đàng hoàng gia nhập vào bộ máy quan liêu ở các cơ quan nhà nước như thời bao cấp, thì chắc chẳng ai thắc mắc chuyện chất lượng đào tạo làm gì cho mệt (!)  

      --- Chẳng những chấp nhận một cách dễ dãi, chúng ta còn thường đòi hỏi quá nhiều ở kết quả học hành của lớp trẻ. Những đòi hỏi ấy có một nguyên nhân sâu xa: sau những năm chiến tranh, bắt đầu nhìn ra thế giới, ai cũng thấy nản vì trình độ kinh tế mình quá yếu kém. Chỗ để bấu víu để hy vọng chỉ còn là một cái gì thuộc về đời sống tinh thần, cái phần thông minh sáng láng của con người. Phải nêu cao cho được tiềm năng trí tuệ của dân mình! Bằng cách nào cũng được miễn là con em mình phải có tiếng là giỏi!

        Trước nhu cầu thậm vô lý ấy, các cô giáo thày giáo đã có cách thích ứng kịp thời. Tức là chẳng có nghiên cứu và cải tiến gì lắm cho phiền phức, mà chỉ cần “dong công phóng điểm”, làm sao cho có nhiều học sinh lên lớp học sinh tốt nghiệp trong các kỳ thi (cũng như ngành giáo dục có thêm nhiều tiến sĩ với lại giáo sư) là được, còn chất lượng đến đâu, có theo kịp trình độ giáo dục tiên tiến trên thế giới hiện nay cũng như có đạt được những chuẩn mực quốc tế hay không -- không cần biết.  

       Thích nghe thành tích đang là căn bệnh có ở nhiều người, chứ không chỉ có riêng ở các bậc làm cha mẹ. Hàng ngày chúng ta đã khổ rất nhiều vì lối làm ồn rầm rĩ trước chút việc mọn mới làm được. Thế nhưng ở khu vực nào cũng vậy, luôn luôn có một câu hỏi có thể đặt ra: có phải là xã hội vô can trước tình hình ấy? Hay là sở dĩ tình trạng làm láo báo cáo hay cứ hồn nhiên phát triển, là vì trong thâm tâm chúng ta thích nghe chúng, chỉ chấp nhận chúng, thậm chí nói cho đầy đủ là ngấm ngầm khuyến khích người ta báo cáo giả để cùng an lòng? 

        Nói cách khác, từ những thiện chí cùng những mong mỏi chính đáng, cuối cùng chúng ta tạo ra đủ điều kiện cần thiết để dẫn tới những kết quả tai hại.

         Trò làm hàng không đủ chuẩn mực trong giáo dục như thế này, không gì khác, chính là đầu mối để đào tạo nên một loại người mà nếu đánh giá cho nghiêm khắc phải gọi là ở dạng phế phẩm: những học sinh kém khi lên đại học vẫn chỉ là những sinh viên kém; rồi khi ra trường chỉ trở thành những người lao động có lối nghĩ tầm thường, tay nghề xoàng xĩnh, tinh tướng xoay xoả kiếm chác thì giỏi, mà làm việc theo nghĩa thực thụ thì không biết. Chẳng những thế, cái tâm lý chung sống với các giá trị giả, nhắm mắt bằng lòng với của giả, kiêu ngạo một cách vô lối, phổng mũi trước những lời khen xã giao, ngại ngùng sợ hãi không dám nhìn thẳng vào sự thực chỉ vì chúng quá cay đắng...sẽ càng có dịp nẩy nở và di hại đến các thế hệ tiếp nối. (Xin nói thêm là cách suy nghĩ chỉ cần ta biết với ta, bất chấp chuẩn mực chung đang ngự trị ở nhiều ngành nghề lĩnh vực, đến mức một nhà nghiên cứu xã hội học gần đây phải đưa ra khái niệm “chủ nghĩa coi dân tộc mình là ngoại lệ” --- xem bài của Mai Huy Bích trên tạp chí Xã hội học số 4 (76) - 2001. Tạp chí này là cơ quan nghiên cứu lý luận của Viện Xã hội học thuộc Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia).

        Từ chuyện viết sách giáo khoa đến chuyện tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi, từ chuyện chấm điểm đến chuyện tổ chức các kỳ thi, rồi cơ sở vật chất của nhà trường, rồi lương bổng của giáo viên...chưa bao giờ công việc giáo dục được báo chí mang ra bàn bạc nhiều như lúc này. Đôi khi chỉ vài chi tiết lặt vặt trong cuốn sách giáo khoa lớp 1 cũng tốn không biết bao nhiêu giấy mực.    

       Nhưng theo tôi, cái đáng bàn nhất hiện thời là quan niệm của chính mỗi người chúng ta về giáo dục, có sòng phẳng với nhau thì mọi chuyện mới có hướng để gỡ dần. 

       Đó là: liệu ta có chấp nhận rằng kinh tế non thì việc học hành của con em ta cũng không thể bằng người và phải có một sự tính toán rất thông minh, một cách nghĩ rất nghiêm túc thì giáo dục mới khá được?

       Ta có nhất quyết phấn đấu để có một nền giáo dục đạt tiêu chuẩn quốc tế, hay chỉ thích “yên ngủ” trong tình trạng kém cỏi của mình rồi tự đặt ra những tiêu chuẩn riêng để lấy lòng nhau, cốt sao cả hội cả làng cùng vui vẻ?

       Bao giờ thì ta mới thấy sợ trong cái việc hàng năm cho “xuất xưởng” đều đều những “mặt hàng” --- ở đây là những con người --- không đủ tiêu chuẩn và thản nhiên để họ đi vào xã hội tương lai như hiện nay?


TÂM LÝ Ô-SIN

                                   

      Tại nhiều địa phương, chính người dân xé rào để làm những việc không được pháp luật cho phép. Phá rừng. Đào than thổ phỉ. Lấn chiếm đất công. Thấy chỗ nào nhà nước cần là xoay ra ăn vạ để kiếm khoản đền bù. Lần đầu tiên ở Hà Nội xây hầm cho người đi bộ qua đường; nhưng trong lúc chưa khánh thành thì hầm bộ hành biến thành nơi tạm trú của mấy gia đình xóm liều. Thả nào các cụ xưa có câu Chưa họp chợ đã họp kẻ cắp. Hồi còn ảo tưởng, ta hay bảo nhau rằng đấy là cái nhìn của bọn địa chủ phong kiến đối với quần chúng lao động. Nay thì có thể giải thích với nhau theo cách khác: Chính dân gian cũng đã có lúc tự ý thức được những thói xấu của mình. Chỉ có điều làm sao vượt lên trên thói xấu đó thì họ chưa biết!

      Có một câu chuyện của năm ngoái năm kia mà tôi cứ nhớ mãi. Đó là chương trình đánh bắt xa bờ ở hàng hàng loạt vùng biển bị phá sản (nghe đâu số vốn thất thoát lên tới vài trăm tỉ?!). Chúng ta muốn làm chủ biển. Chúng ta muốn vươn ra xa. Những tưởng quẩn quanh ven bờ chỉ vì không có tiền. Hoá ra còn thiếu cả kinh nghiệm và ý chí nữa. 

      Nhưng không chỉ liên quan tới chủ đề bất lực, mà vụ đầu tư này lại còn đáng chú ý ở một khía cạnh khác: Nhiều ngư dân thừa biết là làm ăn sẽ thất bát nhưng cứ vay. Họ đã tính sẵn là đến lúc cần hoàn lại đồng vốn cho nhà nước thì đánh bài ì. Không cách gì thu hồi vốn thì kệ nhà nước, họ không cần biết. Không ít người nhận tiền xong chỉ đầu tư một phần, còn chủ yếu mang tiền mua sắm tiện nghi tiêu xài qua ngày.   

       Đây là một câu tục ngữ mới: người làm sao tao làm vậy; người làm bậy tao cũng làm theo. Trong cái việc vay tiền để làm dự án vừa nói ở trên hình như có chuyện hùa theo nhau thực. Đại khái mọi người nghĩ nhà nước là cái thùng không đáy, ai không biết cách vơ vét người đó thiệt. Không còn lòng tự trọng tối thiểu, người ta tự thả lỏng bản thân. Giá kể có ai bảo rằng như thế tức là cá nhân đang biến thành một thứ ký sinh, ăn bám xã hội, cũng chẳng ai động lòng

      Xin tạm gọi cách sống nói trên là cách sống ô – sin.

      Mọi chuyện bắt đầu từ hiện trạng các gia đình ở thành phố cần có thêm vài người giúp việc ở các tỉnh lên. Để tránh nhiều từ ngữ có tính chất xúc phạm, hoặc dài dòng, người ta nghĩ ra cái từ ô - sin. Nhiều gia đình công nhận những ô sin ấy thật là thiết yếu. Nhưng do hợp đồng công việc chỉ được làm qua quýt, đặc biệt là việc xác định công xá không hợp lý, nhiều ô – sin dần dà cảm thấy mình bị bóc lột. Chẳng qua họ buộc phải làm chứ không vui vẻ gì. Vừa làm vừa phá. Học đòi lười biếng, ăn cắp lãng phí -- nhiều thói xấu của người nông dân không những không được sửa chữa mà còn được khuếch đại thêm. 

    Trong lúc nói chuyện riêng tư, nhiều người thành phố bắt đầu kêu khổ vì cái nạn này. 

   Điều đáng nói là trong khi làm hại nhà chủ thì chính các ô - sin cũng làm hại bản thân mình luôn thể. Tức là tất cả những thói xấu nói trên bắt rễ đóng kén cô đúc lại, làm thành một cách sống ổn định, mà hạt nhân là cái triết lý hư vô “có phải của mình đâu mà phải tử tế với lại giữ gìn?!”. Dù sau này có ra độc lập làm ăn, nhiều người trong họ cũng vẫn giữ thói xấu của người đi giúp việc bất đắc dĩ và không bao giờ bỏ nổi.

     Cách sống ô - sin tâm lý ô - sin vốn bắt nguồn từ một tình trạng xã hội hỗn loạn, giữa ngườì với người không tìm ra được cách quan hệ hợp lý. Bề ngoài chiều nịnh nhau nhưng đúng ra là người ta đang thả lỏng nhau, mặc kệ cho nhau hư hỏng thế nào cũng được. Trong sự tự phát chung của xã hội, cứ thế nó ngày một trở nên phổ biến. 

    Nhà văn Lê Minh Khuê bạn tôi khi phải biên tập một tập sách gồm nhiều bài báo về chủ đề này (mang tên Bến ô-sin) đã vụt ra cái ý xuất thần: tâm lý ô - sin đang trở thành một thứ tâm lý thời đại.

    Có lần, nhân trả lời phỏng vấn, Lê Minh Khuê bảo thứ tâm lý của kẻ làm thuê vô trách nhiệm này đang chi phối cả lối sống liều lĩnh của người dân, lẫn thói mặt dày kiếm chác của các quan chức tham nhũng.

       Phần tôi tôi muốn bổ sung một chi tiết nhỏ: Tâm lý ô - sin đồng thời cũng là lý do sâu xa khiến khả năng quản lý của chúng ta cũng bị hạn chế. Trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc những năm từ 1957 về trước, cùng với việc lấy lại đồng điền đất đai, có việc lấy ngay nhà cửa địa chủ chia cho dân nghèo, hồi ấy gọi là chia quả thực. Trong số này, có những cơ ngơi được bồi đắp xây dựng từ nhiều đời. Cố nhiên khi mang nó ra làm quả thực thì không chia riêng cho một ai cả. Nhiều gia đình cùng đến ở. Thế là xảy ra cái cảnh ai thích kiểu gì phá kiểu đó, cuối cùng những dinh cơ đẹp đẽ biến thành những khu nhà hỗn độn xấu xí. Một việc hết sức chính đáng, và có dụng ý tốt, mang lại một kết quả xấu. Mà nguyên nhân chỉ vì các gia đình nông dân kia, không có nhà cửa bao giờ, không biết cách làm chủ nó. Thật là vừa đáng thông cảm, mà cũng vừa đáng trách!


 





NHỮNG BAO KHOAI TÂY LỦNG CỦNG

  

      Chỉ cần đứng ở các đầu ô, theo dõi sự giao lưu hàng hóa trên con đường nối Hà Nội với các tỉnh, người ta cũng sớm nhận ra thực chất các mối quan hệ giữa đô thị với các vùng nông thôn chung quanh ta hiện nay. Đổ lên phố xá, chỉ thấy gạo nước, những bu gà (trước đây còn cả những con lợn đã mổ), những xe thồ chở rau kềnh càng, hàng đoàn xe đạp ngất nghểu cây cảnh. Xuôi đi các tỉnh thì trăm thứ bà rằn, vải vóc, quần áo, đồ điện, thuốc tây...Và cả những đồ chơi trẻ con. Ngày xưa có ai đi mua diều để thả bao giờ? Bố khéo tay thì làm cho con cái diều. Thô sơ, mộc mạc, nhưng mà đúng “cây nhà lá vườn” và hợp với khung cảnh quê mình. Ngày nay, mùa hè, diều từ Hà Nội đưa về là diều nhựa, xanh xanh đỏ đỏ, ai cũng biết là nhập lậu từ Trung quốc.

      Kiểu quan hệ hai chiều như thế, kể ra, cũng là một bước phát triển. Nông thôn ta đang được hưởng nhiều thành tựu của công nghiệp.

      Chỉ phiền một nỗi, nông thôn ta xưa nay lao động đã thừa, giờ đây càng thừa thêm. Những ngày nông nhàn, ngoài việc chạy chợ, người ta không biết làm gì. Thị trường cổ truyền bị thu hẹp. Người làm nghề phụ đang mất đất ngay trên quê hương mình.

      Tôi không ngớ ngẩn đến mức đề nghị bịt đường, không cho hàng hóa thành thị về nông thôn. Tôi chỉ ước ao thực hiện cái điều nhiều người đã biết, tức là làm sao các nghề phụ ở nông thôn được tổ chức lại, từng vùng có mặt hàng riêng, đủ sức cạnh tranh với các mặt hàng ngoại nhập (nếu không tốt hơn, đẹp hơn, thì cũng rẻ hơn, vừa túi tiền hơn). Nó là chuyện giải quyết lao động thừa. Nó lại cũng là một cách để giữ gìn một số làng nghề truyền thống, và nhìn rộng ra, là giữ gìn cái bản sắc riêng của dân mình.

     Có điều, đây là cả một quy trình phức tạp. Phải có vốn. Phải có kỹ thuật mới. Phải tạo được mô hình hoạt động thích hợp…Và trước tiên những người làm nghề phải có ý thức kết hợp với nhau.

     Nhưng đây đang là một tử huyệt của chúng ta. Nghĩa là muốn làm lắm mà không làm nổi. Không ai bảo được ai. Không ai muốn thấy người khác hơn mình, không ai tin ở sự chí công vô tư ở những người được bầu ra quản lý. Trong bụng ai cũng ngại.

     “Nền sản xuất của chúng ta hiện trong tình trạng quá manh mún. Nếu không được tổ chức lại, chúng ta rất khó cạnh tranh với các xí nghiệp nước ngoài”. 

      Còn nhớ từ hồi chuẩn bị tinh thần cho việc gia nhập WTO, các nhà kinh tế đã cảnh báo như vậy. Nhìn vào ngành nào tôi cũng thấy họ cùng một giọng tiên đoán: 

      “Nếu các công ty du lịch của chúng ta không liên kết lại, làm sao ta mở rộng hoạt động”.

      “Nếu các điền chủ Việt Nam không liên kết lại, làm sao cạnh tranh nổi với hàng nông sản nước ngoài”.

       Nhưng những lời kêu gọi ấy trước sau đều rơi tõm vào quên lãng. 

       Một lần đọc báo thấy nói các công ty mình mang thanh long sang nước ngoài bán. Lúc đầu mọi người còn bảo nhau thống nhất giá. Sau một vài người đi đêm với khách, bán phá giá. Thế là người mua càng được dịp bắt chẹt.

      Cụm cảng Sài Gòn hiện nay gồm nhiều cảng nhỏ, số lượng đâu đến mấy chục cái (!). Nhưng toàn thứ cảng chỉ đón được tàu vài chục ngàn tấn. Đang xảy ra tình trạng vừa thiếu vừa thừa. Trong hoàn cảnh thế giới người ta xài toàn tàu lớn thì số cảng như thế không thừa sao được? Song lại vẫn là thiếu vì các loại tàu từ tám trăm ngàn tấn trở lên, chở hàng vào Việt Nam, thường phải đổ hàng qua cảng lớn của mấy nước bên cạnh, như Singapore, rồi “tăng bo” qua ta sau. Dự đoán ngành vận tải còn là thất thu, xuất nhập khẩu càng phát triển thì thất thu càng nặng. 

    Trong cảnh ế hàng, các cảng tí xíu phải hạ giá để mời khách hàng chiếu cố, và giữa các cảng có sự tranh khách rồi lườm nguýt nhau đến khổ. 

    Không chỉ dừng lại ở việc làm ăn sản xuất, cái căn bệnh làm ăn lẻ cái nếp sống rời rạc “anh hùng nhất khoảnh” này đang chi phối cả xã hội và nó tác oai tác quái hàng ngày. Nhiều con đường, anh giao thông vừa làm xong anh điện ra đào lên để đặt đường điện, anh nước san lấp để đặt ống nước. Hàng hoá lúc thiếu thì mua tranh bán cướp, và vừa cảm thấy thừa là đua nhau bán phá giá. Mỗi bộ mỗi ngành một luật lệ riêng, người dân vào đâu lại phải lựa đấy.  

     Nếu những ví dụ tương tự như trên có thể nêu ra rất nhiều thì câu hỏi đặt ra là tại sao chúng ta khó cộng tác với nhau đến vậy. Tôi nghĩ rằng đã đến lúc không chỉ các nhà kinh tế, mà các nhà nghiên cứu tâm lý xã hội cần phải có mặt. 

      Lại nhớ một nhận xét của Marx về người nông dân sản xuất nhỏ lẻ: Họ giống như những củ khoai tây cùng nằm trong một bao tải; đúng là họ giống nhau thật nhưng giữa họ lại chẳng có liên hệ gì với nhau hết. Mạnh ai nấy sống. Đôi khi người này tưởng rằng người kia là nguyên nhân của mọi bất hạnh của mình. Và chen cạnh nhau, phá hại nhau, làm cho nhau bầm dập đau đớn mới thôi. 

       Có thể khoác đủ mọi tên gọi khác nhau song thứ tư tưởng nông dân này đã tồn tại dai dẳng, và làm nên cái tình trạng “ta tự hại ta”, níu kéo cả xã hội lại. 








       ĐẸP RIÊNG MÀ LẠI XẤU CHUNG


     Từ thuở có cầu Chương Dương rồi thành phố mở rộng, cuộc sống của nhiều làng quê ngoại thành Hà Nội có nhiều thay đổi. Đất đai có giá. Nhà cửa mọc lên như nấm sau mưa. Mà thời bây giờ mọi chuyện tiến bộ nhanh lắm, nhà nào mới xây cũng ra dáng hiện đại. 

       Gu Pháp đang thịnh hành, người ta mô phỏng rất nhanh những kiểu nhà mà ngày trước tôi chỉ thấy ở mấy đại lộ Lê Hồng Phong Trần Phú trên quận Ba Đình. 

       Với mấy vị lão thành và có đi nhiều, bọn tôi nói đùa, nhà trong làng mà toàn như dinh công sứ với nhà quan tỉnh trưởng cả. 

       Nhưng cái bệnh cũ của dân mình vẫn bộc lộ: đèn nhà ai nhà ấy rạng. Tức là chỉ biết ý thích của mình, không tính toán gì đến quy hoạch chung, càng không cần đếm xỉa đến kiểu dáng nhà hàng xóm xem nhà mình với nhà họ hai bên có ăn ý với nhau không. Bao nhiêu làng khác cũng xây dựng theo lối tuỳ nghi như vậy có riêng gì làng tôi? Cũng như thành phố có khi cả khu phố mới xây, mà vẫn cứ vênh váo, chẳng ra một thứ đường nét nào cho mạch lạc. 

     Về chuyện cảnh quan chung thì còn nhiều dẫn chứng khác để nói. Sinh thời một người bạn vong niên của tôi là Nguyễn Đình Nghi làm nghề đạo diễn sân khấu. Mà đạo diễn là gì ư, đơn giản lắm là người đứng ra phối hợp hoạt động của nhiều bộ phận khác nhau, để hình thành ý định chung. Bởi vậy Nguyễn Đình Nghi rất nhạy trong việc đánh giá những hoạt động cần tới sự phối hợp của nhiều người. Chẳng hạn anh thường nửa đùa nửa thật giễu ngành múa: Đặc điểm của múa Việt Nam là múa không đều, và khi cần có một hình tròn thì người ta thường có một hình bầu dục. 

       Học theo Nguyễn Đình Nghi, tôi cũng muốn bảo đặc điểm của các công trình kiến trúc dân lập hiện nay là tính tự phát, chẳng ai đứng ra phối hợp kiểu dáng, thành thử chỉ có những ngôi nhà đẹp chứ không có những quần thể kiến trúc đẹp, những khu phố đẹp.  

      Trong một tài liệu nghiên cứu về nông thôn, tôi đọc được nhận xét của một nhà khoa học: cái mà chúng ta mới làm được một phần là lo nước sạch.  Nhưng về lâu về dài, một đời sống gọi là có văn hoá còn phụ thuộc vào câu chuyện xử lý chất thải các loại rác và cống rãnh nói chung (Chính nó cũng quyết định cả chất lượng nước sạch nữa).

      Nghe mà giật mình. Làng xóm bây giờ nhà gạch san sát, việc xây cho mình khu phụ riêng để giặt rũ tắm rửa đã quá phổ cập. Có nhà khu phụ này còn được xây ngay trong nhà, chữ của thời bây giờ gọi là công trình khép kín, có cả vòi hoa sen với xí bệt cẩn thận. Chỉ hiềm không mấy khi thấy ai nói đến hệ thống cống rãnh nước thải chung cho cả làng. 

      

         Đến một vài nơi gọi là du xuân sau những ngày hội, cái ấn tượng sau cùng về một vùng đất thường là những đống rác lù lù ở ven bụi tre, hoặc một chỗ khuất nào đó bên đường. Các đống rác thời nay là trông xa đã thấy các loại túi ny lông màu trắng lốm đốm nổi lên trên nền mùn rác đen kịt.     

          Nói tiếp về chuyện cái làng quê ngoại thành nơi tôi đang ở. Xưa, nghe kể đường đất trơn như mỡ có anh bộ đội mượn được cái xe đạp về thăm quê đến đầu làng phải vác xe lên vai cõng nó về đến cửa buồng. Nay thì đường xi măng phẳng lỳ. Có điều từ hồi bán được đất nhà nào cũng xây dựng. Đường lúc nào cũng lầm lầm mặt cát. Ngày mưa cát vón lại thành bờ, ngày nắng cát bay mù mịt. Ai cũng có lúc xây, nên không ai bảo được ai. Những đống cát thay nhau đứng lù lù ven đường.

     Ở cửa khẩu Hữu nghị quan, vẫn thường thấy có một vài chiếc xe ô tô chở hàng mang biển chữ vuông qua lại phía bên đất Việt Nam. Nhưng, nhiều lần tôi thấy những người lái xe bên kia cẩn thận phun nước rửa sạch lốp trước khi trở về Trung quốc. Hình như đường đất bên mình đất đá bẩn quá, mà luật nước họ không cho phép, cứ để bẩn vậy chắc bị phạt. Bao giờ thì mình làm được như vậy?

GỠ RA CHO THOÁT CÒN GÌ LÀ THÂN


 Mất đất

      Chỉ cần đứng ở các đầu ô, theo dõi hoạt động trên con đường nối Hà Nội với các tỉnh, ngươi ta cũng sớm nhận ra thực chất các mối quan hệ giữa đô thị với các vùng nông thôn chung quanh. 

      Đổ lên Hà Nội, ngoài gạo nước chỉ thấy mấy xe cà tàng chở những bu gà và đôi khi là mấy con lợn đã mổ, những xe thồ chở ra, gần đây có thêm hàng đoàn xe đang chở cây cảnh.

      Xuôi đi các tỉnh thì trăm thứ bà rằn, không kể vải vóc, đồ điện, thuốc tây... gần đây đến cả đồ chơi trẻ con cũng đều là hàng từ Hà Nội.

      Ngày xưa có ai đi mua diều để thả bao giờ? Bố khéo tay thì làm cho con cái diều. Thô sơ, mộc mạc, nhưng mà đúng “cây nhà lá vườn”. Ngày nay diều từ Hà Nội đưa về là diều nhựa, xanh xanh đỏ đỏ, có người bảo là nhập lậu từ Trung Quốc.

      Kiểu quan hệ hai chiều như thế, kể ra, cũng là một bước phát triển. Nông thôn ta đang được hưởng nhiều thành tựu của công nghiệp.

      Chỉ phiền một nỗi, có phải như thế, tức là nông thôn ta lao động đã thừa, giờ đây càng thừa thêm? Những ngày nông nhàn, giờ đây, những người khéo tay không biết làm gì. Thị trường của họ bị thu hẹp. Họ đang mất đất ngay trên quê hương mình.

       Tôi không ngớ ngẩn đến mức đề nghị bịt đường, không cho hàng hoá thành thị về nông thôn. Tôi chỉ ước ao thực hiện cái điều nhiều người đã biết, tức là làm sao nông thôn được tổ chức lại, từng vùng có mặt hàng riêng, đủ sức cạnh tranh với các mặt hàng vẫn bán trên đô thị (nếu không tốt hơn, đẹp hơn, thì cũng rẻ hơn, vừa túi tiền hơn). Nó là chuyện giải quyết lao động thừa. Nó lại cũng là một cách để giữ gìn một số làng nghề truyền thống, và nhìn rộng ra, là giữ gìn cái bản sắc riêng của dân mình.

      Có điều, việc này không phải từng cá nhân có thể lo nổi.


Thất nghiệp sinh làm bậy

     Nghe tới mấy chữ sau luỹ tre, không ai không hiểu đây là để chỉ nông thôn Việt Nam. Nhưng có lẽ phải nói thêm đó là cái nông thôn xưa từng làng từng xóm khép kín trong một cộng đồng chật hẹp. 

     Nông thôn bây giờ khác hẳn. Chẳng những một số nơi luỹ tre không còn, mà cái chính là làng xóm đã mất đi hẳn tính cô lập, để làng nọ làng kia hoà đồng với nhau, và xa hơn, hoà nhập với đô thị. Nghe nói ở ngoại vi Hà Nội (thường cách độ 100 cây số trở lại) nay có nhiều làng có ô tô hàng ngày chở người lên thủ đô buôn bán, chiều lại đón về.

    Cái hay học được nhiều. Nhưng cái dở cũng theo đó mà thâm nhập.

     Nay là lúc nạn hút xách, đĩ điếm, rồi cả nạn đề đóm, nạn côn đồ đầu gấu... không phải là đặc sản riêng của thành thị mà cũng có thể sâu cây bén rễ ở nông thôn, như một bệnh dịch, không dễ gì ngăn chặn.

     Thông thường, người ta đổ lỗi cho sự giao lưu tiếp xúc đang được mở rộng. Nhiều cụ già chép miệng “Giá cứ như ngày xưa làng nào thuần tuý làng ấy, thì đâu đến nỗi”.

     Nhưng ngày xưa không thể trở lại!

     Câu chuyện từng làng khép kín đã thuộc về dĩ vãng.

     Ở đây, tôi muốn đề nghị một cách nghĩ khác. Chẳng hạn chúng ta hãy thử tìm ra mối quan hệ giữa tệ nạn xã hội và phong trào làm ăn sản xuất của một địa phương.

      Hình như tình hình là như thế này:

     - Nơi làm ăn khó khăn, nghề ngỗng chẳng có, lên Hà Nội chẳng qua gồng thuê, gánh mướn, thì các tệ nạn phát triển mạnh.

     - Còn những nơi con người có nghề nghiệp chắc chắn, làm ra mặt hàng cung cấp cho thành phố, thì tuy cũng có chơi bời, nhưng người ta thường vượt lên, để tồn tại.

       Tục ngữ xưa có câu: Giàu tham việc thất nghiệp tham ăn. Nay có lẽ nên đổi đi đôi chút: Giàu tham việc, thất nghiệp tham làm bậy.

        Nói cách khác, cuộc vận động chống các tệ nạn xã hội ở nông thôn tuy có phụ thuộc vào nền nếp truyền thống cũ, nhưng có lẽ cái mà nó phụ thuộc nhiều hơn cả là trình độ tổ chức sản xuất của từng làng xóm.

     Mà cái này thì “nó” không phát minh ra được. Nó -- tức là nông thôn - phải học đô thị. Nhưng chính đô thị của ta từ trong chiến tranh đã nông thôn hóa và tự cứu mình không xong. Các cụ xưa có câu ví “Ốc đã không cứu nổi ốc, lấy đâu làm cọc cho rêu”.


Bao giờ cho đến ngày xưa

      Một người bạn tôi ở Hải Hậu, Nam Định lên Hà Nội chơi, kể rằng ở quê anh vẫn còn tục lệ chỉ đàn ông mới được khiêng đòn đám ma. Vì vậy đang xảy ra tình trạng là ở một số làng, người chết không tìm được người khiêng.

      Nông thôn, trong cảnh thời tiết chất chưởng, làm ra hạt thóc chật vật khó khăn, cái nông thôn ấy, một số nơi, đang rỗng. Người nháo đi các nơi. Đi không chắc đã kiếm được cái ăn. Nhưng ở quê, biết làm gì hơn?

      Những người ấy đi đâu?

      Tôi nhớ những trai tráng ngồi quẩn bên nhau ở một số góc phố Hà Nội, chờ người đến thuê. 

     Tôi nhớ những người bán hàng rong, kẻ này đẩy một ôm chiếu trên chiếc xe đạp “không phanh không gác-đờ-bu”, kẻ kia mặt mũi đỏ gay, lút đi giữa đống đồ nhựa. 

Và những em bé đánh giày len lỏi ở các quán ăn, quán giải khát, đội quân ấy đang ngày một đông thêm.

    Các nhà nghiên cứu về xã hội khái quát, đây là cả một xu thế xuất hiện ở các nuớc đang phát triển và đã đề nghị có chính sách không để tình thế tạm thời này kéo dài.

    Nhưng ba chục năm nay, cái xu hướng này ngày càng tiếp diễn. Tức là xã hội tự cơ cấu lại một cách tự phát. 

    Nhìn vào trình độ sống của người nông thôn ra đi ấy thấy có sự phân hóa. Một bộ phận biết thích ứng, nhưng một bộ phận khác thì lưu manh hóa. Họ chả bao giờ trở thành người đô thị hiện đại. Trong cuộc kiếm sống gian nan, họ đang làm hỏng hình ảnh tốt đẹp về người nông dân vốn có trong mỗi chúng ta.

     Tôi muốn nói thêm một khía cạnh tâm lý vui vui.

     Do những thói quen cố hữu, tận trong đáy lòng, không người nông dân nào muốn bỏ quê nhà ra đi. Chẳng qua nói như các cụ xưa, túng thì phải tính. Ra đô thị rồi, họ vẫn vấn vương với quê cũ.

    Lâu nay vẫn nghe nói ở nhiều nước, dân thành phố mắc phải một chứng bệnh oái oăm là bệnh thương nhớ đồng quê. Tức là họ ngán các nhà chọc trời. Họ thèm về sống với hương đồng cỏ nội.

    Phải chăng thứ bệnh sang trọng ấy không lan sang dân ta? Đâu có! 

     Chính nhiều người thành thị hiện nay cũng đã bắt đầu cảm thấy cuộc sống nơi đây là quá nặng nề nhất là cái khoản môi trường ô nhiễm không cách gì sửa chữa. Và họ ước ao có ngày được tận hưởng cái không khí thanh bình yên ả sau luỹ tre xanh.

      Nhưng đó chỉ là những ao ước hão. Con đường nông thôn chuyển dần lên thành thị là con đường tất yếu thấy ở mọi xã hội. Quê họ cũng đã ô nhiễm mất rồi.










ĐỘC ĐÁO VỚI BẤT CỨ GIÁ NÀO!


       Hồi còn chuyên mục Gặp nhau cuối tuần, VTV3 từng cho một diễn chương trình khá thú vị mang tên Hội ơi là hội! Chuyện kể về một làng nọ có cái tên là làng Cự Phách làm hội. Làm như thế nào? Nói nôm na là không có cũng vẽ ra mà làm, cái gì sẵn có thì tưởng là mình đã quá tài, làm liều làm ẩu, làm một cách bôi bác. Còn cái gì không có thì bảo nhau bắt chước người khác (ai đó đạo văn, đạo nhạc thì ở đây người ta sẵn sàng đạo hội). Như thấy các làng khác có chọi trâu chọi gà thì nghĩ ra việc…chọi lợn. Đến là lắm trò nhố nhăng, không ai nhịn cười nổi!

     Ngay sau tiếng cười, cố nhiên, màn kịch cũng làm cho người ta phải nghĩ. Thấy có chút gì nhoi nhói trong lòng. Thấy thoáng qua một chút xấu hổ. Trong không khí Việt Nam gia nhập WTO, đi vào hội nhập với thế giới, có thể từ vở kịch đọc ra vài nét tâm lý hiện thời.

    Sau những năm tháng bao cấp, ngủ dài trong uể oải, nay ai cũng trở nên cực kỳ năng động, không ai bảo ai cùng cuống cuồng lên cả một lượt, mê mải sống mê mải hưởng thụ. Thay đổi với bất cứ giá nào. Nhanh nhảu đến mức giả tạo. Ma mãnh đủ trò. Đắp điếm vay mượn đủ kiểu. Miễn sao gây được sự chú ý, miễn sao thu về tiền bạc.

      Trong cơn say kiếm ăn, người ta mang quá khứ ra để làm thương mại. Không phải tết nhất cũng nấu bánh chưng. Và không có đỗ thì lấy ngô lấy khoai, không có nhân thịt lợn thì lấy thịt trâu thịt chuột.  Nhân danh một mục đích tốt đẹp, tự cho rằng có gian dối một tí rồi thần phật cũng tha bổng cho hết. 

      Khi tiếp xúc với nước ngoài, không chịu chuẩn bị nghiên cứu kỹ càng, mà quen lối láu vặt học đòi, nhiều khi bê nguyên xi về mình những cái rất xa lạ, mà vẫn không thấy chướng và càng lạ càng coi là hay. Như trên đã nói, trong kịch có cảnh mấy người phỏng theo lối đấu bò ở Tây Ban Nha, tổ chức đấu lợn. Đấu thế nào? Người ra đấu ngồi xổm trên mặt đất tay cầm miếng vải đỏ khiêu khích lợn, tay kia cầm cái gì na ná như cái khiên để tự che đỡ.

    Tận trong tâm lý sâu xa, rõ là con người ở đây ẩn giấu rất nhiều mặc cảm. Cái sự làm liều ở đây vốn được bắt đầu từ một nguyện vọng có vẻ rất chính đáng. Đó là khi tiếp xúc muốn gây ấn tượng với người. Song do chỗ trong thâm tâm thừa biết mình kém sẵn, và không bao giờ có thể bằng người, nên chỉ còn cách cố ý tạo ra sự lập dị, nói chệch đi là độc đáo. Rồi nhận ra đây là ngón võ có vẻ hiệu quả, người ta còn hùa nhau nâng nó -- cái sự độc đáo ấy -- lên thành lý tưởng, sùng bái nó, cho nó là quan trọng nhất trên đời. 

     Sự độc đáo hay bản sắc vốn không xa lạ với con người hiện đại. Nó thường được lưu ý khi người ta tìm cách phân biệt các cộng đồng. Nhưng theo các nhà xã hội họ có độc đáo hay và độc đáo dở, độc đáo đáng triển khai tiếp tục và độc đáo như một cục bướu đáng cắt bỏ đi. Chỉ khi đằng sau cái bản sắc đó, thấy toát lên ý nghĩa phổ biến, người ta mới cảm thấy gần gũi, và coi đó là cái bản sắc chân chính. 

       Một điều quan trọng nữa là tự nó độc đáo trong bản sắc sẽ đến chứ không cần đi tìm. Để tự nó đến thì nó sẽ tự nhiên. Lấy nó là mục đích, tìm sai, tìm nhầm, rồi lại tô vẽ cho nó, thì sẽ gây nhiều phản cảm.

        Không thể nói rằng chỉ cần độc đáo là có giá trị. Trong việc này dân văn chương bọn tôi cũng có một ít kỷ niệm. Hồi đó là vào khoảng đầu những năm sáu mươi, ở Hà Nội, một số bạn trẻ mới tập viết, trong khao khát muốn tự khẳng định, cũng có cái lối đi tìm bằng được sự độc đáo để gây ấn tượng và coi đó là sáng tạo. May mà các bậc đàn anh đã sớm nhắc nhở. Nhà thơ Xuân Diệu “đả” mạnh nhất. Với lối nói riết gióng vốn có, ông bảo nên nhớ là hai con lợn khác nhau cũng mỗi con một cá tính, nghĩa là chẳng con nào giống con nào; vậy đừng có lẫn cá tính với cá tật … Sự độc đáo chỉ đến qua con đường học hỏi khổ luyện hòa nhập với chung quanh, rút ra từ kẻ khác những điều tinh túy và phù hợp để tự làm giàu thêm bản thân. 

     Nói cho vui, không chừng cái làng Cự Phách trong chương trình Hội ơi là hội! đã ăn phải đũa bọn tập tọng học nghề chúng tôi mấy chục năm trước. Nhưng hồi ấy chúng tôi làm thế vì sống trong một xã hội khép kín, tìm tòi không có đường ra nên phải tự mình lừa mình. Nay đã sang một thời buổi khác, cuộc sống lúc nào cũng trình ra trước mắt bạn bè xa gần, chẳng lẽ chúng ta không rút được ít kinh nghiệm? 

       Đọc tin du lịch, thấy có hiện tượng khách nước ngoài vào Việt Nam, một số bỏ cuộc sớm và hầu hết không tính chuyện quay lại. Lúc đầu thắc mắc, nay thì tôi đã hiểu. Không chỉ bị kéo vào đám hội tương tự như trong chương trình truyền hình nọ, mà họ còn vấp phải cả một cách nghĩ ấu trĩ, xuất hiện ở bất cứ nơi nào có thể. Ra họ có cái lý của họ! 









HỌC NGƯỜI LÀ MỘT CHUYỆN KHÓ 


     Nhà văn Bùi Ngọc Tấn từng kể, hồi kháng chiến chống Pháp, có lần Xuân Diệu đến trường văn nghệ các anh nói chuyện thời sự:

   -- Các đồng chí có biết bên ấy chúng nó mặc quần áo bằng gì không? Bằng ny lông! Quần áo ny-lông.  

     Bùi Ngọc Tấn và bè bạn ngồi nghe hết sức xúc động. Họ nghĩ: Thật là một lũ điên loạn trụy lạc. Mặc quần áo như vậy có khác gì cởi truồng.

    Xuân Diệu bồi thêm – vẫn theo Bùi Ngọc Tấn trong Một thời để mất:

    -- Còn quần áo may bằng vải thường các đồng chí có biết nó in gì lên đấy không? Không phải in hoa! Nó in cả một tờ Nữu ước thời báo với đầy đủ ảnh, măng sét, tít lớn tít nhỏ tin ngắn tin dài lên mặt vải. Còn tổng thống ở bên Mỹ hết nhiệm kỳ không còn làm tổng thống nữa các đồng chí có biết nó đi làm gì không? Đi quảng cáo cho các hãng buôn kiếm tiền!      

    Và phản ứng lần này của người nghe như Bùi Ngọc Tấn là “Chúng tôi lại ồ lên. Cái bọn người quái đản ấy cần được cải tạo”.             

      Nhắc lại những chuyện này để thấy những ngày xưa chúng ta quá ấu trĩ và ngày nay đã hiểu biết thêm rất nhiều.

      Thế nhưng cũng phải nhận rằng tình trạng ngây thơ hôm qua, dưới những hình thức khi tinh vi hơn khi thô thiển hơn, còn kéo khá dài, không phải chỉ trong thời kỳ từ 1954 trở về trước mà tới cả thời gian 1965 - 1975 ở miền bắc và và sau 1975 trên phạm vi toàn quốc.

      Những chuyển biến hôm nay - những biến chuyển mà công cuộc hội nhập diễn ra hai chục năm nay và được đánh dấu bằng việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO mang lại --- do vậy nổi lên như một bước ngoặt trong tâm trí mỗi người bình thường. Theo tôi phải xem đây như một nét mới của người Việt hiện đại.

      Một lần vào mùa hè, tôi ra đường Hàm Long ở Hà Nội chọn mua cho gia đình mấy cái ghế loại nửa nằm nửa ngồi. Người bán hàng chỉ vào một dãy ghế ngổn ngang, nói với tôi: 

      -- Cái thứ khung nhôm và thân đan bằng sợi nhựa kia là ta mới học theo kiểu nước ngoài. Nhưng chính đám mấy người Âu họ lại thích thứ hàng thuần gỗ này hơn. 

      Trong một lời chào hàng như thế, tôi nhận ra một điều: nay là lúc cái gì người ta cũng tính tới các tiêu chuẩn nước ngoài. Tốp thanh niên nọ hết truyền tay nhau các băng nhạc lại ngồi bàn nhau các mốt quần áo mới. Các ông già bà già rủ nhau đi du lịch. Phong trào viết blog lan sang đến đám thiếu niên 13-14. Một lần về chợ Vinh tôi thấy người ta bày bán cả cuốn hồi ký của Beckham như bán đôi giày, cái mũ.

       Từ chuyện làm ăn kinh tế xuất khẩu, nhập khẩu sang chuyện sinh hoạt đời thường, hội nhập đang diễn ra theo quy trình phổ biến như thế. 

        Và từ sinh hoạt đời thường, sẽ ngấm cả sang cách nói cách nghĩ, quan niệm chung về đời sống nữa.    

        Trong tâm trí nhiều người, Hoài Thanh chỉ là nhà phê bình gọi ra phong cách của nhiều tác giả, nhất là những người trong phong trào Thơ mới. Cũng như nhiều người, lúc trẻ, tôi từng thuộc lòng mấy câu “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ. Ta phiêu lưu trong trường tình của Lưu Trọng Lư. Ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử Chế Lan Viên. Ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ, ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”. 

      Song giờ đây với tôi, Hoài Thanh trước tiên là một nhà nghiên cứu văn hóa sâu sắc, nhất là khi khắc họa cái phần giao thoa - ảnh hưởng - tiếp nhận của văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây đầu thế kỷ XX. 

       Đây là một đoạn trong bài Một thời đại trong thi ca ghi lại cái tình trạng nhân thế của xã hội Việt Nam hồi ấy: “Chúng ta ở nhà Tây đội mũ tây đi giày tây mặc áo tây. Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa, xe đạp. Nói làm sao cho xiết những thay đổi về vật chất phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta”.

      Nếu thay mấy chữ đồng hồ, ô tô, xe lửa…nói trên bằng ti-vi, tủ lạnh, mobil, email, thị trường chứng khoán, quota xuất khẩu v v…thì thấy sự chuyển biến ngày nay có khác gì ngày xưa? 

      Bởi vậy chúng ta hoàn toàn có thể kết luận như Hoài Thanh rằng “Cho đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình ngày trước”.

      Từ những chi tiết bé nhỏ, lặt vặt, tác giả Thi nhân Việt Nam 1932-1941 đi tới những khái quát mà đọc chểnh mảng thì thôi, chứ đọc chăm chú hẳn ta phải giật mình 

    “Một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh về vũ trụ, và có ngày ta sẽ thấy nó thay đổi cả quan niệm của phương Đông …

      Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong tâm hồn ta.”

       Liệu ai có thể cả quyết rằng những biến động mà Hoài Thanh đã ghi nhận ấy không phải là đang đến với chúng ta hôm nay?  

       Tuy nhiên, ngay ở đây phải nhận một điều: không phải muốn tiếp thu có nghĩa là đã biết tiếp thu. Đang phổ biến một thứ bệnh mà người ta gọi nó bằng nhiều cái tên: học mót, học lỏm, đua đòi, bắt chước không phải lối, người ác khẩu một chút thì gọi là rửng mỡ, đú đởn, mất nết, giẫm phải phân người khác.

       Với người ít được tiếp xúc thì sự choáng ngợp trước những cái lạ không phải là một cái gì khó hiểu. 

        Một người bạn Nga của tôi mới sang Việt Nam kể, bên ấy cũng đang thịnh hành cái mốt bắt chước phương Tây lố bịch lắm. 

       Bởi không tiêu hóa được nguyên mẫu nên bệ nguyên xi cách làm của người ta, rồi không làm nổi, sinh ra nửa đời nửa đoạn trông rất buồn cười.

      Đến một nước có nền văn hóa lớn như Nga mà bệnh học đòi cũng không tránh khỏi, nữa là người mình.

     Có điều, cùng với thời gian, rồi cái hay cái dở sẽ được sàng lọc. Muốn bắt chước tức còn muốn tự mình khác đi.

     Bắt chước một cách lố bịch chẳng qua là bản lĩnh ta còn non nớt quá. Dẫu sao còn hơn đóng cửa cam phận nghèo hèn mãi mãi rồi lại tự lừa mình tự cho là mình hoàn chỉnh rồi, mình hay ho tuyệt vời lắm, thiên hạ không ai ra gì và không cần ngó ngàng đến ai cả.

     Hội nhập để làm giàu, hội nhập để “vươn ra biển lớn”, nhưng hội nhập cũng là để làm cho mình khác đi, làm cho mình tốt đẹp hơn sang trọng hơn hòa hợp hơn với thế giới hiện đại.

     Muốn hội nhập không đủ, mà còn phải luôn luôn trao đổi bàn bạc với nhau để tìm ra cách hội nhập phù hợp với chính mình, hội nhập một cách tối ưu.

     Tự động tự phát hội nhập là việc của những người dân thường. Nghiên cứu và giúp xã hội có định hướng đúng đắn trong hội nhập là điều người ta trông chờ ở các nhà hoạt động văn hóa, các trí thức.















NGHĨ KHÁC THÌ SẼ HỌC ĐƯỢC


Tiền lệ từng có  

    Từ chiến tranh trở về, những người viết văn thuộc lớp chống Mỹ chúng tôi lòng đầy háo hức. Trong số những việc liên quan tới việc lập nghiệp, có việc học ngoại ngữ …Ồ, cái đó cần lắm chứ, phải lo học, phải đi quốc tế, phải trở thành những trí thức thật đàng hoàng – nhiều người gặp nhau ở ý nghĩ ấy. Nhưng chẳng bao lâu, không ai bảo ai mà đều ngấm ngầm nhận ra một sự thực: Học khó quá. Hình như kiến thức nó cố trốn chạy khỏi mình. Như trong chuyện ngoại ngữ, dù có kiên trì đến mấy, học cũng không vào. Nhà văn nọ, có lần, sau khi tuyên bố hùng hồn là mình học tiến bộ lắm, xoè ra cho mọi người thấy một quyển sách tiếng Anh mới mua được ở một hiệu sách cũ. Chung quanh nhìn kỹ, thì ra đó là một cuốn sách tiếng Pháp. Dĩ nhiên về sau, cái sự gọi là quyết tâm kia có giảm. Có thương nhau thì bảo nhau lo viết ngay đi; chứ còn việc học, mà nhất là việc đọc sách và xì xồ với nhau mấy câu bằng các thứ tiếng xa lạ -- một hai năm sau, mọi người nói nhỏ với nhau -- sao thấy nó phù phiếm quá (!).


Và những nguyên nhân tương tự  

     Những kỷ niệm trên lập tức trở lại trong tâm trí tôi, khi đọc một số bài báo gần đây than phiền về việc sinh viên kém ngoại ngữ và nhất là cái cách người ta giải thích về tình trạng bê bết đó. Dù là việc học đang bị các trường xem nhẹ và tổ chức rất kém, song nhìn rộng ra, phải thấy điều kiện học của các bạn trẻ bây giờ đã khá hơn trước rất nhiều. Lại càng không nên nghĩ đến chuyện ký tính, sức nhớ, khả năng thông minh của người mình … Vậy thì tại sao cái sự kém cỏi kia hiển nhiên đến mức người ta phải báo động (và trong thực tế còn thổi vào tai nhau những chuyện tệ hại hơn nhiều)? 

   Chính ở đây, tôi thấy phải nói tới những nguyên nhân tâm lý:

   Nhìn vào lớp nhà văn chống Mỹ vừa nói ở trên, trước tiên tôi nhớ tới hoàn cảnh mà bọn tôi lớn lên, trong đó có những chuyện mà ngày nay không ai tưởng tượng ra nổi. Có một hồi người Hà Nội được xác định là “ta chỉ nói chuyện với chính ta”. Đi đường thấy tây đầm hỏi đường không được chỉ. Nghĩ tới người nước ngoài là nghĩ chuyện phải cảnh giác. Xưa nay nghề dịch vốn đã èo uột, vậy mà hồi đó báo chí văn nghệ còn gần như cai hẳn cái mục được coi là rắc rối này. Vả chăng, muốn làm cũng chẳng có gì mà làm. Sách Anh Pháp không nhập, ngay sách Trung văn cũng không có, bên Bắc Kinh đang cách mạng văn hoá. Một số cuốn sách xô - viết loại như Chuyện núi đồi và thảo nguyên in xong bị phê phán và thu hồi.

    Quả thật trong một tình cảnh như thế, có ai còn bụng dạ nào mà nghĩ đến ngoại ngữ nữa. Điều đáng nói là lâu dần thành một thói quen, ngay cả khi những rào cản cụ thể hôm qua không còn, thì những rào cản trong tâm lý con người thì không phải bỗng chốc mà dỡ bỏ đi ngay. Nó đã ăn vào tư duy, chi phối tình cảm và ý chí của nhiều thế hệ. Vì thế mới có tình trạng sống giữa sách vở ê hề, tài liệu chồng chất và gần như không chịu một hạn chế nào như hiện nay, người ta vẫn không thể có một sự giao lưu và tiếp nhận tốt như đáng lẽ phải có. 


Một cách nhìn từ phía bên ngoài…  

     Mới đây thôi, một nhà văn Mỹ là S. Sontag qua đời. Tôi nhớ những năm chiến tranh, bà này có qua Hà Nội, và nghe nói nhận xét về người mình hay lắm, mà bọn tôi không được giới thiệu. Thì may quá, có hôm đọc thấy một nhà nghiên cứu văn học người Việt đang sống ở Melbourne kể rằng S. Sontag từng nhận xét người Việt Nam ít có thói quen tư duy trên một phạm vi địa lý rộng.

     Đó cũng là cái ý mà một người Nhật gần đây có sống mấy năm liền ở Hà Nội nhận xét: Người Việt ít khi đặt mình vào địa vị của người khác để suy xét.

    Tôi cho rằng chính những đặc tính trên đây cản trở việc học ngoại ngữ của ta hiện nay.    

    Nếu như câu chuyện trên đây còn hơi có vẻ xa xôi thì có những dẫn chứng gần gũi hơn: Hồi Phan Chu Trinh mới qua Nhật, ông có được gặp cả thủ tướng Nhật Bản lúc ấy mà phiên âm qua tiếng Hán Việt gọi là Đại Ôi. Câu đầu tiên mà Đại Ôi nói với Phan Chu Trinh: Tôi nghe nói người Việt Nam đã lâu, mà nay mới gặp, hoá ra người các ông ít đi nước ngoài thật. Tiếp đó, khi biết rằng người đối thoại với mình lúc ấy chưa biết tiếng Pháp, Đại Ôi tỏ vẻ ngạc nhiên: Sao lại thế, muốn đánh đuổi gì người ta cũng phải hiểu người ta đã, không học tiếng Pháp sao được?  

    

 Một sự so sánh nội bộ 

   Những anh em lên Sapa về thường kể, không hiểu tại sao tuy chỉ tích luỹ theo kiểu học lỏm khách du lịch mà nhiều thanh niên dân tộc H’mong trên đó nói tiếng Anh rất giỏi, trong khi nhiều người Kinh mình học có bài bản hẳn hoi mà nói vẫn rất quê. 

    Từ chuyện có vẻ ngược đời đó, vẫn trên cái mạch đi tìm những ảnh hưởng của văn hoá đối với việc học ngoại ngữ, tôi muốn nêu một giả thiết:

    Tuy không nói ra rành rọt, nhưng những thanh niên H’mong kia hiểu rằng ngoài cái thế giới mà họ đang sống, còn có thế giới rộng hơn, thế giới của người Kinh. Và muốn tồn tại họ phải hoà nhập với thế giới đó. Tức là ý thức về mình và kẻ khác của họ đã phát triển và nó ăn vào trong tâm thức họ, đời nọ truyền sang đời kia. Khi tiếp xúc với một thứ tiếng mới, họ có nhu cầu buộc mình cố bắt chước nói cho thật giống.

     Còn ngược lại, nhiều người vùng xuôi khi tiếp xúc với người nước ngoài, tuy ở ngay các đô thị lớn, song thường thiếu nghiêm túc, không coi là chuyện thiết yếu liên quan đến cuộc sống của mình. Sự xem thường đó là cả một thứ vô thức tập thể kéo dài và bền chắc, nó lưu cữu trong ta, và tha hồ tác oai tác quái.

 

Sự mệt mỏi …không nên có 

   Tôi đang công tác ở một nhà xuất bản. Thỉnh thoảng, cơ quan tôi cũng có khách nước ngoài và khi tiếp khách, ông giám đốc không quên mời một số nhân viên cùng dự. Nhưng sau một ít lần háo hức, những ngày gần đây, phải thú thực tôi rất ngại. Phần thì tiếng tăm không biết. Phần thì, trong những buổi gặp đó, thường chúng tôi hiện ra vô duyên thảm hại. Đại khái muốn trò chuyện về văn chương thì phải hiểu văn chương nước người ta ra sao, muốn bàn về xuất bản phải hiểu tình hình xuất bản bên họ thế nào. Đằng này chúng tôi mù tịt. Một anh bạn tôi, đầu óc cũng rất tỉnh, là Vũ Quần Phương, kể: Nhiều cuộc gặp gỡ của các nhà văn ta với nhà văn nước ngoài bí chuyện trao đổi với thảo luận quá, rút lại chỉ còn nói tiếu lâm và bàn chuyện ăn uống, đại khái hỏi họ bên nước ông ăn thìa hay ăn đũa, rồi tán dần ra. 

    Vài lần chầu rìa và ngồi nói tào lao như thế qua đi, giờ đây “nhỡ” được gọi tiếp khách là tôi xin kiếu. Một số bạn bè cùng lứa cũng có tâm trạng như trên. Chúng tôi muốn các bạn trẻ biết cho chuyện này và đừng lặp lại. Dẫu sao, khi vào đời, một sinh viên cũng phải có được một ngoại ngữ. Đó là dấu hiệu để có thể nói rằng mình và thế hệ mình đã đi ra và làm bạn với thế giới. Mà cũng chính là phương tiện để đạt tới cái đích tự nhiên đó.


HÀNG HIỆU VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN 


Bạn Trương Anh Ngọc, trong mục Thư châu Âu trên Thể Thao& Văn Hóa một số cuối 10/2014 viết:

Một nhà báo Italy mới trở về từ Việt Nam kể rằng một trong những ấn tượng mạnh nhất với ông chính là việc không ít phụ nữ Hà Nội đeo túi... Louis Vuitton đi ngoài phố. 

Nhà báo Italy tỏ ra thông cảm. Ông bảo rằng, ông không tin là kinh tế Việt Nam có thể phát triển nhanh đến mức đồ hiệu nhan nhản ngoài phố như thế, nhưng nó thể hiện một điều: ước mơ đổi đời và giàu sang, đẳng cấp đã len lỏi vào cuộc sống của tất cả mọi người.

Ông giải thích thêm: Người ta thậm chí sẵn sàng dùng những thứ hàng nhái chỉ để có cảm giác rằng họ sang trọng và theo kịp với thời thượng. 

Đấy là một thứ giấc mơ thực sự, vì với thu nhập khiêm tốn của mình, họ không biết đến bao giờ mới có cơ hội được dùng những đồ thứ thiệt vốn có thể lên tới hàng nghìn, hàng chục nghìn USD. 

Ông, một người rất hay quan sát, bảo rằng, những đồ nhái như thế có mặt ở khắp mọi nơi ông đi qua. 

Ông đặt một câu hỏi: phải chăng, người Việt sính ngoại đến mức sẵn sàng mua tất cả những thứ đó, bất kể đó là đồ ăn cắp mẫu mã và thương hiệu cũng như không ai biết chất lượng của chúng ra sao?

        Tôi muốn bổ sung vào cách giải thích của ông nhà báo ngoại quốc:

Nay là lúc khao khát hưởng thụ trong chúng ta mạnh mẽ hơn bao giờ hết. 

Đồng thời, nay cũng là lúc chúng ta đã mất hết tự tin. Người dân Việt hiểu rằng cứ như trình độ làm ăn hiện nay, thì không bao giờ ta đuổi kịp thế giới cả.

Nảy sinh nhu cầu tự lừa dối, tức dùng hàng giả. Sự tự lừa dối có mặt trong tất cả mọi hoạt động của guồng máy xã hội và lan tràn cả trong lĩnh vực tinh thần thiêng liêng như tín ngưỡng, văn hóa giáo dục. Không mấy ai còn thấy kiếp người là thiêng liêng nữa.

Mà khi đã trở thành đại trà thì sự tự lừa dối ở ta diễn ra một cách rất cẩu thả và dễ dãi. Chỉ cần biết rằng chung quanh ta mọi người cũng đang như ta là người ta dám sống một cách trâng tráo, không còn kiêng nể quỷ thần gì hết.



BIỆN HỘ CHO SỰ VÔ CẢM


Những biểu hiện tế nhị

     Từ dưới bãi một em nhỏ lên cầu Long Biên, cất tiếng chào khi tôi dắt xe từ cầu đi xuống. Lẽ ra tôi phải sung sướng vì gặp được một đứa trẻ ngoan mới phải. Sao lần này cứ thấy gờn gợn. Mãi mới nghĩ ra. Đứa trẻ chỉ chào lấy lệ. Em chẳng hề quan tâm tới tôi, chả đặt một thoáng tình cảm nào vào lời chào của em. Và có vẻ đó không phải là một đứa trẻ ngoan nữa, một ấn tượng bao trùm đọng lại trong tôi.

    Mặc dù biết vậy, tôi vẫn không khỏi… tủi thân. Nhất là buồn cho một con người mà mình vừa gặp.

    Muốn gọi đó là sự vô cảm.

    Tự nhủ chung quanh mình đang có một sự vô cảm thường trực. Bận bịu quá, nhiều thứ thu hút quá, con người hiện nay không còn những xúc cảm bình thường mà con người các thế hệ trước 1945 thường trải nghiệm.

    Khi nói tới sự vô cảm, dư luận hôm nay chủ yếu muốn kêu gọi lòng trắc ẩn, tức là thương xót cảm thông với những bất hạnh.

    Nhưng tôi cho là lẽ ra phải nói rõ đấy là việc con người không còn đặt tình cảm suy nghĩ vào những người quanh; trừ những việc liên quan đến quyền lợi thiết thân còn không muốn biết một cái gì khác; không còn phân biệt tốt xấu theo nghĩa nhân bản; và không còn nghĩ nhiều tới tương lai. Họ rơi vào tình trạng đã bao lần tôi không thực là tôi (Lê Đạt).

     Không chỉ vô cảm trước tai họa mà còn không được vô cảm trước các tài năng, trước vẻ đẹp, trước sự cao quý của con người. Cái đó ngày càng thấy rõ là cần trong một xã hội bị thống trị bởi chủ nghĩa bình quân và tràn ngập những yếu tố vật chất. 


Nguồn gốc chiến tranh

      1427. Trong khi vây thành Đông Quan, theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Lê Lợi không quên đặt pháp luật để trị quân cũng như quản dân.

       Mười điều kỷ luật được đặt ra để răn dạy cho tướng sĩ. Ngoài những điều như phải tiến thoái theo hiệu lệnh, giữ vững hàng ngũ… đặc biệt có thêm ba điều cấm sau đây.

       Điều 2 (Cấm) Không có việc gì mà đặt chuyện ra để làm cho mọi người sợ hãi

       Điều 8 (Cấm) Tha binh đinh (trai tráng bị động viên đi lính – VTN) về để lấy tiền; sổ sách mập mờ.

       Điều 9 (Cấm) Theo bụng yêu ghét của mình mà làm lòa mất công quả của người khác

(sđd, bản của nhà Tân Việt, 1951, tr 218)

       

      Tình hình thực tế phải thế nào thì mới có lệnh cấm đó chứ?!

       Điều thú vị là có những căn bệnh của người xưa lại có sắc thái khá hiện đại.

      Cũng trang sách trên có ghi:

     Vương, tức Lê Lợi đặt ra ba điều để răn các quan:

      1/Không được vô tình

      2/không được khi mạn (coi rẻ xem thường mọi người -VTN)

      3/không được gian dâm

     Chỗ đáng chú ý ở đây là thói vô tình (cũng tức là vô cảm, thờ ơ…) được đặt lên hàng đầu.

      Hóa ra chiến tranh thời nào cũng vậy.


Một hình thức tự vệ

      Tuy nhiên cũng đã đến lúc phải biện hộ cho sự vô cảm theo nghĩa thông thường.

       Hãy bắt đầu bằng một sự thực -- con người hôm nay đang chịu những áp lực rất lớn. Họ không hề được chuẩn bị để đón nhận. Muốn tồn tại họ phải giữ được thần kinh cho vững, nói như các cụ xưa, phải đắp tai cài trốc, mới có cơ may giữ được sự an nhiên tự tại bình tâm mà sống cái đời sống thông thường.

       Không vô cảm thì sẽ ngớ ngẩn, sẽ phát điên. Vô cảm đã thành hình thức tự vệ.

       Ví dụ như trong chiến tranh, làm sao một người bình thường có thể bình thản trước việc con em mình đi vào chiến trường với cái chết cầm như chắc chắn, chỉ may mắn lắm mới sống sót, rồi có trở về thì cũng sẽ gia nhập vào hàng ngũ của cái thế hệ vứt đi (lost generation – cái chữ mà Hemingway có công đưa vào lịch sử văn học).

       Nhưng người ta vẫn phải gạt nước mắt cho con ra đi.

       Có khi lại còn phải tỏ ra vui vẻ nữa.

       Người ta đã trở nên vô cảm.

       Sang thời phát triển nhố nhăng kỳ cục hiện nay, chứng kiến bao chuyện chướng ta gai mắt, người ta vẫn phải im lặng quay đi coi như không biết. Thấy kẻ cắp trên xe bus mà kêu lên ấy ư, anh sẽ bị trả giá ngay. Tố cáo cấp trên tham nhũng là đồng nghĩa với việc chuẩn bị sớm muộn sẽ nhận lệnh đuổi việc. Còn khi có ý định tham gia vào những vụ cứu trợ cho các vùng bị tai nạn, thì có một nguyên tắc là anh phải không được theo dõi xem các loại hàng cứu trợ đó sẽ được sử dụng ra sao.


Một vấn đề của đời sống hiện đại

       Vô cảm không chỉ là chuyện của người Việt mà còn là chuyện của thế giới hiện đại.

    -- Nhớ lại hồi còn thời chuyên chế, nhiều nhà văn Liên xô cũ kể là nhiều khi đối diện xã hội, họ thấy mà không dám nhìn kỹ, nghĩ mà không dám ghi lại, và ghi lại thì lại xé đi ngay, chỉ sợ táy máy gửi tới một tờ báo nào đó thì không những không được in ra mà còn bị các biên tập viên ở đó trình lên cấp trên và tên tuổi sẽ vào sổ đen của KGB.

    -- Và đây, một cách diễn đạt về sự đầu hàng của con người hiện nay, nó đặt thái độ chấp nhận vô cảm trong xu thế không dám làm người – ngay cả ở mỗi cá nhân có suy nghĩ; và nó đúng với con người hiện đại nói chung chứ không phải người của phe nọ hay phe kia:

     Thời đại chúng ta cốt yếu là một thời đại bi thảm, bởi thế chúng ta từ chối cảm nhận nó một cách bi thảm. Cuộc đại biến động đã xảy ra, chúng ta ở giữa những đổ nát, chúng ta bắt đầu xây dựng những túp lều trú ngụ tạm bợ và dấy lên chút hy vọng nhỏ bé mới. Đó là một công việc khá nhọc nhằn. Bây giờ không có một con đường bằng phẳng nào dẫn tới tương lai, nhưng chúng ta sẽ đi vòng quanh hoặc bò qua những trở ngại. Chúng ta phải sống thây kệ bao nhiêu bầu trời đã sụp. (D.H.Lawrence, nhà văn Anh, 1885-1930 tác giả Người tình của Chatteley phu nhân).

       Thây kệ ở đây chính là thói vô cảm chúng ta đang nói.

       Cố nhiên vô cảm, nói theo nghĩa khá đa dạng, có phần giống như một loài thuốc đặc trị. Nếu dùng quá liều, sẽ gây chết người như chơi.

       Công thức cần theo là làm sao giữ được thế bình quân giữa thái độ thản nhiên trước mọi biểu hiện tạp nham hàng ngày và cảm xúc nhạy bén thường trực trước những vấn đề lớn của cộng đồng của dân tộc. Đây là cả một thách thức với những con người luôn luôn coi các vấn đề xã hội là chuyện của bản thân, cả chuyện lớn lẫn chuyện nhỏ.













CON NGƯỜI SUY THOÁI?

        

        Trời sinh vua để làm vua 

        Và thi sĩ để làm thơ ru đời 

        Một ông vua trái luật trời 

       Việc vua thì nhác, lại đòi… làm thơ.

        Trên đây là đoạn mở đầu của bài thơ Nhà vua và nhà thơ của Tú Mỡ, in trên báo Ngày nay ở Hà Nội năm 1939, tức gần bẩy chục năm trước.

       Câu chuyện tiếp tục như sau: Làm thơ xong, vua lại thích đưa cho các cận thần đọc để kiếm lời khen. Một vị quan kiêm thi sĩ -- quan ngày xưa người nào cũng làm thơ và thạo thơ -- mới nói toẹt ra rằng thứ thơ đó chả ra gì. Thế là vua cho ông ta vào nhà pha (tiếng ngày xưa chỉ nhà tù).

        Sau vua có ý hối, cho người đến nói với nhà thi sĩ chân chính nọ là sẽ thả ông ta ra, miễn ông ta nói rằng thơ vua hay. Tức là tiếp tục buộc ông ta nói dối. Trong cảnh tù đày, ông này phải nghĩ một lúc. Tú Mỡ viết:

        Phân vân bên tội bên tình 

        Nhà thơ tỏ vẻ bực mình băn khoăn 

        Cắn môi mắt nhíu mày nhăn 

        Trong đầu như nổi mấy lần phong ba

        Ngập ngừng lời chẳng nói ra 

       Nói hư? nói thực? biết là làm sao?”

   Bài thơ kết lại bằng hai câu bất ngờ 

          Khổ tâm thi sĩ cúi chào 

         Muôn tâu thần lại trở vào nhà pha”   

     Tôi thường nhớ tới bài thơ này (đúng hơn là một thứ vè vui vui) để nhắc mình một sự thực: là con người ngày xưa tốt quá. Tôi tin không phải ở đây Tú Mỡ chỉ muốn nêu một tấm gương cốt dạy dỗ thiên hạ (kiểu các đồng nghiệp của tôi đương thời). 

      Mà ông chỉ miêu tả một sự việc có thực, hơn nữa một sự việc điển hình. 

     Tức là người xưa phần lớn cư xử như viên quan kiêm nhà thi sĩ ở đây đã làm.

     Thế thì sao lại bảo bài thơ có cái kết bất ngờ? Đó là đặt vào tâm lý của người hôm nay. 

      Vào những trường hợp tương tự, tôi ngờ phần lớn con người hôm nay sẽ cư xử kiểu khác. Để khỏi vào nhà pha thì bảo làm gì cũng làm. Mà chẳng đợi đến cuộc mặc cả cuối cùng; trước đó, bởi thừa biết rằng nếu khen vung cả lên sẽ thủ lợi, người ta tranh nhau khen từ đầu cả rồi.

    Nói tốt quá còn chung chung. Cái chính là người xưa, hơn bù kém, tốt hơn so với con người hôm nay. Vả chăng nhìn rộng ra thì thấy con người hồi ấy, cả giàu lẫn nghèo, cả ông to lẫn ông nhỏ, chẳng những không nói dối nịnh bợ mà còn giữ được nhiều phẩm chất cao đẹp. Tôi nhớ tới nhiều trường hợp khác. Các nhân vật của Thạch Lam như mẹ Lê nghèo khổ, như cô hàng xén đảm đang đều đồng thời là người tự trọng và cứng cỏi. Lão Hạc của Nam Cao thì “trên cả tuyệt vời”, thà chết chứ không ăn vào vốn của con cái.  Cũng liên quan đến Nam Cao là trường hợp của Chí Phèo. Trong một cuộc hội thảo, một nhà nghiên cứu đã nhận định “Chí Phèo tỉnh, Chí Phèo không say”.

      Bởi chỉ một người sáng suốt trong giây phút hệ trọng của đời mình mới biết hỏi “nhưng ai cho tao lương thiện?”

    Xuân tóc đỏ thường được xếp vào loại nhân vật loại xấu xa bạc nhất trong văn học tiền chiến. Nhưng đọc kỹ thì thấy chính ra Xuân khá thông minh, lại chịu học hỏi để thích ứng với thời đại. Và biết điều. Và tự trọng: Lúc được Văn Minh hứa gả cô Tuyết, Xuân nói thẳng cái nguồn gốc xuất thân hèn hạ của mình. Ở chỗ này Xuân biết mình biết người, và sòng phẳng nữa! 

     Trở lên chỉ là một vài phẩm chất mà con người ngày nay đánh mất.  

      Không khó khăn gì lắm để tìm ra lý do khiến chúng ta có nhiều thói xấu như vậy. Tôi xin tạm kể khía cạnh rõ nhất. Là cuộc chiến tranh kéo quá dài.

       Trong Câu chuyện triết học, phần viết về H.Spencer, W. Durant cho rằng “xã hội chiến tranh thường ca ngợi một vài đức tính (= nguyên tắc ứng xử VTN chú) và dung túng những việc mà các dân tộc khác xem là có tội”. 

      Nếu nơi không chiến tranh, con người quảng đại và nhân đạo, thì nơi chiến tranh kéo dài, người ta quen với cướp bóc phản bội. 

      Đây là luật phổ biến song ta thường quên và tự cho mình là một ngoại lệ. Con người hôm nay lao vào cuộc làm ăn kinh tế, mà thói quen sống kiểu chiến tranh còn nguyên vẹn. Kinh tế thị trường rút lại được hiểu là thói cạnh tranh không lành mạnh, nói nôm na là chúa đã chết, ai muốn làm gì thì làm. Thành thử có xảy ra lộn xộn hỗn hào thì cũng là điều dễ hiểu. Từ chỗ chăm chăm chửi bới kẻ giàu cho rằng kẻ giàu là xấu, nay người ta lao vào làm giàu để rồi lãnh đủ những xấu xa bỉ ổi đó, và đưa cái ác lên một trình độ hiện đại đáng sợ!     

       Trong một cuốn sách mang tên Miền đất huyền ảo, có phụ đề Các dân tộc miền núi nam Đông Dương (tác giả Jacques Dournes, Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội nhà văn in năm 2003), ở trang 13, tôi đọc được một lời cảnh cáo: 

     Định mệnh của con người là vươn tới tiến bộ; nhưng mọi sự tìm tòi sẽ là vô nghĩa và kết quả sẽ là tai họa nếu vận động đó lại dẫn đến sự suy thoái về nhân cách. Có nghĩa gì một sự tiến bộ kỹ thuật nếu nó giết chết tinh thần?   






















ĐÂU DỄ LÀM NGƯỜI BÌNH THƯỜNG


    -- Hà Nội đẹp lắm nhưng cứ mãi mãi là tiềm năng. 

    -- Chơi Hà Nội nửa ngày là hết.

    -- Khách nước ngoài qua đây chỉ để đến Sapa, Vịnh Hạ Long, chứ nếu có thể đến thẳng các nơi kia thì họ cũng chẳng cần ghé Hà Nội làm gì.

    Đọc những dòng thư bàn về du lịch Hà Nội mà chua xót. Lượng khách nước ngoài không giảm đi thì cũng không tăng lên. Hoặc nếu có tăng, cũng còn lâu mới tương xứng với khả năng ta có. Mà làm sao ư, làm sao họ ở lâu được, khi cách tổ chức hết sức luộm thuộm, người hướng dẫn kém cỏi, giao thông đầy hiểm họa, người dân chỉ tìm cách xoay tiền của họ chứ không phải là đón họ như quý khách. Khi phải ngồi xích lô mà tham quan phố phường – chứ làm gì còn vỉa hè mà đi --- và miệng thì bịt chặt trong chiếc khẩu trang che bụi, chắc nhiều du khách không khỏi tự nhủ thầm là chỉ đến một lần chứ không quay lại nữa! 

    Đón người đã vậy mà đi ra với người thì cũng chẳng khá gì hơn. Chẳng hạn sang xứ người ta ít ngày, dân du lịch người Việt như chim sổ lồng, bay loạn xạ, chẳng chịu đi theo hướng dẫn, chỉ quẩn vào với nhau rượu chè, có khi đái ngay cả trên xe ô tô. Đi làm thuê thì bỏ hợp đồng, trốn xưởng ra ngoài làm ăn chui nhủi, đến mức cả những thị trường đầy tiềm năng cũng “lạy cả nón”, chịu không dám nhận lao động Việt Nam nữa. Lại có tin nhiều nước có biển cấm không cho tàu Việt Nam vào cảng. Lý do: tàu mình bé con con, trang bị cũ kỹ, xả ngay chất thải xuống biển; thủy thủ lên bờ tiếng không biết, luật pháp không hay, dễ làm càn làm bậy. Nghe cũng có lý, giá địa vị mình, mình cũng làm thế!

    Thời gian 1986-1989, tôi làm chuyên gia xuất bản ở Moskva, cũng là thời gian người Việt sang Nga như trảy hội. Sân bay Seremetsevo, vào những giờ có chuyến bay về Hà Nội, nhìn đâu cũng thấy lớp lớp đầu đen mải miết kéo hàng và chen bật cả người ta đi. Vì qua nhiều hàng cấm chỉ sợ vào không lọt. Vì làm thủ tục lâu, chỉ sợ lỡ thời gian. Dân các nước khác, có chuyến bay chênh lệch mười lăm hai mươi phút, -- nghĩa là cùng thời điểm làm thủ tục --, ớn đến cổ, và chịu không nổi, phải đề nghị xếp riêng giờ cho các chuyến bay về Việt Nam. Miễn không phải vào cửa kiểm soát cùng với dân mình, còn họ đi trước hay đi sau cũng được.

    Nhân chuyện này tôi mới hiểu tại sao, người ta kể là dân Việt ở nhiều nước bên châu Âu, chỉ biết sống túm tụm với nhau thành những ghetto, chứ không sao hòa hợp được với người bản xứ. Cái sự sống “vón cục” lại và chỉ “trơ khấc” với nhau như thế này, từ vài chục năm nay cản trở ta rất nhiều. Nhưng mải kiếm ăn, mấy ai để ý. 

     Trên báo Người Hà Nội, nhà văn Tô Hoài từng có bài viết nhắc lại chuyện mươi năm nay, từ Đồng Tháp Mười trong nam đến chung quanh Hà Nội, người ta dùng băng cát-xét để bẫy các loài chim và mang từng xâu bán ra sao. Rồi ở Tam Đảo, người ta tận diệt bướm. Cũng ở Tam Đảo Ba Vì, dân tứ chiếng mang thang dây và cưa máy đi tróc nã những cụm phong lan tự nhiên. 

   Tác giả Dế mèn khép lại bài bằng câu hỏi. “Rồi một ngày kia trên mặt đất, trên bầu trời, sẽ hết chim hết hoa, thì con người ở với ai?”. Chuyện hôm nay của tôi không phải là chuyện chim chuyện hoa, mà là chuyện người. Lời cảnh tỉnh của Tô Hoài là cả một dự báo về sức tàn phá của người Việt với quê hương xứ sở mình. 

   Sau khi đã tách khỏi thế giới để làm một cuộc chiến tranh khủng khiếp, chúng ta gần như đã quên mất khả năng làm người bình thường. Khách quan mà nhìn, trong sự phát triển hôm nay, có vẻ như chúng ta đang đi ngược với cách phát triển của thế giới. Vậy thì hội nhập làm sao bây giờ? Đấy là một số ý nghĩ tiếp theo của tôi, xuất phát từ sự gợi ý của Tô Hoài. Nên tôi chép lại ở đây để bạn đọc cùng chia sẻ. Hàng ngày tôi thường nhớ tới nó, cái tinh thần của nó, mỗi khi nghe mọi người hào hứng bàn chuyện Việt Nam gia nhập WTO.






SỰ CỐ TRƯỜNG DIỄN

                                                                           

     “Nắng, nắng rất dữ, cái nắng cháy da làm mất đi vẻ đẹp riêng của những con người xứ lạnh.” 

     “Bình minh không còn màn sương phảng phất bay qua cành cây ngọn cỏ.”

      “Những dải hoa hồng hoang sơ, đẹp một vẻ đẹp kiêu sa, trước kia bốn mùa khoe sắc trên nhiều con đường ngõ xóm, nay không còn nữa.” 

     “Những cây thông cổ thụ bị dọn sạch.”

      “Trong các mảnh vườn riêng của từng gia đình ở đây, các loại sâu bọ lỳ lạ xuất hiện.” 

    “Nhiều người vào đây từ sau 1975 bắt đầu nhớ lại Đà Lạt ngày họ mới vào, nhớ tới Đà Lạt ngày xưa mà họ mơ ước.”  

    Trên đây là sự thay đổi môi trường Đà Lạt được bạn đọcTuổi trẻ viết trong số báo ra 7-3 - 07. 

      Sự thay đổi ở đây vậy là gây ấn tượng đậm và thật đáng lo ngại: đó là những biến động ở tận bề sâu của môi sinh, biến đổi về mặt khí hậu.  

      Đọc lên ai mà chẳng thấy đau lòng.

     So với Đà Lạt, tình hình thay đổi các thành phố trong cả nước chưa nguy hiểm bằng. Có vẻ tình trạng ô nhiễm và sự biến đổi cảnh quan ở đấy là chấp nhận được. Ta dễ bỏ qua. 

     Nhưng chúng ta đã nhầm.

     Đọc một tài liệu nghiên cứu về môi trường, tôi thấy một nhà khoa học bảo rằng cái đáng sợ nhất là những sự cố trường diễn, tức là những thay đổi theo hướng thoái hóa, tác động rất lớn, song rỉ rả mỗi ngày một chút, nên dễ lọt lưới, và khi nghĩ ra thì đã muộn. 

      Ví dụ như ở Hà Nội. Hà Nội rãnh nước đen ngòm chảy bên lề đường phố cổ và chuột chết vứt cho xe kẹp. Hà Nội nhà xây cái cao cái thấp, cái lai tàu cái lai tây, lô nhô loạn xị và cây xanh bị triệt hại để lấy chỗ bán hàng. Hà Nội nắng hanh đường quẩn đất bụi. Hà Nội những tầng nước ngầm trong lòng đất bị tàn phá, một số giếng đào lên nước không dùng được. Hà Nội người ném rác hàng ngày xuống sông Hồng. Hà Nội không còn vỉa hè và thanh niên không biết thế nào là niềm vui đi bộ. 

      Chỉ cần so với Hà Nội 1954, hoặc Hà Nội trước 1975 thôi thì đã có bao điều tốt đẹp mất đi mà nếu thành tâm yêu Hà Nội người ta phải lấy làm tiếc. Và lo lắng nữa.

       Báo chí gần đây có nhiều bài đả động đến những biến động nho nhỏ. Hoặc là rầy nâu tấn công Cao Lãnh, thị xã của tỉnh Đồng Tháp. “Rầy bay đầy đường như trấu, rầy bu đen kín các bức tường. Rầy đi thành từng đám như một lớp sương, người đi đường không thể đi được nên tấp vào quán để trốn rầy”. Hoặc là muỗi ở huyện Bình Thạnh TP Hồ Chí Minh “cứ khi trời sập tối là muỗi dày ken đặc, 10 phút quơ được một muỗng canh muỗi” (Nông thôn ngày nay 19-3-07).

      Đó chính là dấu hiệu của những sự cố trường diễn. Sự thay đổi của khí hậu – như ta thấy bộc lộ ở Đà Lạt --chính là kết quả của những đổi thay ngấm ngầm như vậy.

      Nhìn rộng ra, người ta còn nói rằng tình hình ô nhiễm khói bụi ở khu vực Thái Bình Dương khiến cho nơi đây ngày càng xuất hiện nhiều hơn những cơn bão lớn... 

      Từ chuyện môi trường cây cối sâu bọ, tôi còn nghĩ đến những biến động sâu xa ở con người. Tình trạng trường lớp tồi tàn, bàn ghế không hợp lứa tuổi khiến cho tỉ lệ học sinh cận thị ngày mỗi cao. Xe máy chen chúc trên đường, phố xá ồn ào, khiến con người giờ đây “ăn sóng nói gió” hơn bao giờ hết. Những khó khăn trong cuộc sống gậm nhấm mỗi ngày một ít, sự bươn trái kéo dài, giờ đây chả thấy ai nhường ai, nghĩ mãi về người quen không biết ai đáng gọi là dịu dàng hiền hậu.

       Thậm chí nét mặt con người nữa.

       Những khi đang đi gặp phải đèn đỏ, tôi nhìn chung quanh, sao thấy mặt mũi người nào trên đường cũng căng thẳng và đầy chất sát phạt. Tham vọng ghê gớm. Khao khát khẳng định. Ham hố sống, hưởng thụ…Tôi chưa tìm ra được chữ nghĩa cho chính xác, nhưng hình như có tất cả những cái đó trên nhiều khuôn mặt tôi gặp hàng ngày, quen cũng như lạ.

       Lại nhớ những con người của cái thời tiền chiến đọc được trong những truyện ngắn Thạch Lam, Thanh Tịnh, hoặc hiện lên trong tranh Nguyễn Phan Chánh. Lại nhớ những bức ảnh chân dung tập thể bày ở các bảo tàng hoặc trong một số sưu tầm ảnh đây đó. Có phải là chúng ta đã thay đổi đến khó ngờ? Thời gian mang lại cho con người rất nhiều nhưng cũng lấy đi rất nhiều. Không thể luyến tiếc, nhưng phải nhớ rằng khá nhiều cái tốt đẹp đã bị đánh mất.  


THIÊN NHIÊN ĐIÊU ĐỨNG…

         So với những đoạn đường Trường Sơn thì con đường chúng tôi đi hôm ấy từ Phú Thọ qua Thanh Sơn về Trung Hà không phải là xấu, và đất bụi chưa lấy gì làm nhiều. Nhưng đoạn đường trong liên tưởng là thuộc thời chiến tranh, còn hôm nay chúng tôi đi trên con đường thời bình.

        Bởi vậy tôi nghĩ mình có quyền sốt sáy không yên, và cả một chút xót xa, khi nhìn những cây nhỏ lúp xúp bên đường. Lá nào lá nấy phủ đầy bụi, bụi dày đặc; nhiều chỗ một vài giọt mưa xuân để lại những vết loang lổ chỉ tố thêm cho người ta biết rằng không phải một mà là nhiều lớp bụi đã chồng lên nhau, để xóa đi màu xanh và làm cho không một cây nào còn là cây nữa.

     Đến cả cây cối thiên nhiên cũng vì người mà phải sống vạ vật thế này ư? – nhiều sự liên tưởng dồn dập kéo đến trong tâm trí tôi. Có lúc nghĩ đến những hàng cây bị biến thành chỗ treo hàng hóa nhiều vỉa hè Hà Nội. Lại có lúc nghĩ đến một mẩu tin trên báo về giống tê giác. Trong khi ở Malaysia, tê giác đẻ rất đều kỳ thì ở một vườn quốc gia Việt Nam, giống này tịt đẻ, chỉ vì người ta vừa làm một con đường băng qua khu rừng nó sống.

        Nhưng thiên nhiên không phải chỉ khổ lây với người.

         Tệ hại hơn, trong nhiều trường hợp khác, nó còn là đối tượng bị chúng ta hủy hoại.

        Ở nhiều nước trên thế giới, người ta cấm đánh bắt cá nhỏ, ai trót câu được mà không thả chúng về nguồn sẽ bị phạt nặng. Còn ở ta, ngay giữa Hà Nội, ngoài sông Hồng, người ta dùng cả điện ắc quy để diệt cá.

         Trong Nam Hoa kinh, một triết gia nhiều chất hư vô là Trang Tử từng nêu ra một nhận xét, những cây gỗ vô dụng có cái lợi, không ai thích đẵn nó, vì thế nó sống mãi, trong khi những cây hữu dụng lại sớm bị nhăm nhe khai thác.

         Cây cối ở ta đang làm chứng cho nhận xét đó của Trang Tử. Mấy năm trước đã có chuyện mấy cây sưa trong công viên nhà nước bị chặt bán. Còn đây là chuyện ở Quảng Bình dịp Tết Canh Dần vừa qua: hàng loạt cây bên các ngân hàng và các tiệm vàng bị tàn phá. Vì người ta tin rằng cây ở đó có mang theo lộc. Thật đúng là “cháy thành vạ lây”. Bỗng dưng tàn đời không có lý do nào cả.

          Động vật hoang dã cũng nếm đủ nỗi khổ đúng theo kiểu mà Trang Tử đã cảnh báo. Chỉ vì thịt chúng ngon, lạ, các bộ phận của chúng là những vị thuốc chữa bệnh, mà các loài vật tuyệt vời đó bị săn đuổi đến cạn kiệt.

         Riêng loài gấu ở ta lại còn rơi vào cái bi kịch thê thảm là bị hành hình dần dà theo nhịp điệu của cái cưa cùn. Bị nuôi trong hoàn cảnh giả tạo, hơn nữa luôn luôn bị rút mật một cách tàn bạo, không biết bao nhiêu chú gấu lực lưỡng biến thành một giống lờ đờ chậm chạp, kéo lê cuộc đời sống dở chết dở. Còn sống đó mà chúng không còn là mình, đến nỗi khi có người đến giải thoát thì không thể trở về rừng tìm lại cuộc sống bình thường được nữa.

        Giở trang tin các mạng dễ dàng tìm thấy tin những con hổ ở Hà Nội bị bức tử.

      Một người nước ngoài nhiều lần đi dọc từ Nam ra Bắc bảo rằng các bạn có thấy không, nhiều ngọn núi đá của các bạn ven đường một mạn từ Ninh Bình đến Hà Nam đang vẹt đi mòn đi, một số đang biến mất.

       Rồi đến cả sông nữa. Chẳng phải là nhiều con sông của chúng ta đang bị xúc phạm, kể từ làm bẩn đến gây ô nhiễm, và trước khi được tuyên bố như Thị Vải (tên một bài báo trên SGTT 5-12-2009 Thị Vải là dòng sông đã chết) thì chúng đang trở nên thân tàn ma dại?!

       Vâng, trước khi được chính thức khai tử, tôi đoán hẳn Thị Vải đã trải qua tình trạng sống lê lết trong bệnh tật. Sông bốc mùi dơ. Sắc nước ngả màu. Tôm cá trong lòng nổi lềnh bềnh vì hóa chất độc hại. Tức là một tình trạng sống dở chết dở của loài gấu mà trên đây tôi vừa nói. Và đến ngày hôm nay con sông chết vẫn nằm đó. Liệu đến bao giờ người ta mới quên nổi? Chắc không bao giờ!

        Rồi với các thế hệ sau, thời của chúng ta sẽ được ghi nhận như là thời của những con bạc triệu đô, vụ PMU18… Và thời có những con sông chết như sông Thị Vải!

       Hiếm khi thấy báo chí ta đưa tin về cuộc sống của một ngọn núi, một con sông. Bởi vậy cái tin Thị Vải đã chết dẫu sao cũng là một đặc ân. Chỉ lạ một nỗi là cái tin đau đớn đó không gây nên chút dư ba nào cả. Người ta chỉ nhắc đến nó khi đặt vấn đề bồi thường. Ngoài ra, chả thấy ai viết về chính cái chết của sông lấy ít dòng cảm động.

       Tôi nói điều này từ góc độ một người làm công tác văn học.

        Trong văn chương ta, sông là sức sống, sông là vẻ đẹp. “Đẹp đẽ thay tiếng hát của dòng sông”. Mở đầu tùy bút Sông Đà, Nguyễn Tuân từng đưa lên làm đề từ câu thơ đó của W.Whitman. “Đầu xuân gió mát tựa hè – Nở bung hoa gạo bốn bề trăng xuân – Sông là người đẹp khỏa thân – Non xanh mơn mởn bước gần bước xa…”. Huy Cận đã viết như thế trong một bài thơ làm hồi miền Bắc một thời thịnh trị trước chiến tranh.    

       Lúc này đây, những người còn nhớ đến Thị Vải và những con sông đang chết đang cần đến những lời thiết tha tương tự của các thi sĩ. Liệu có ai đáp lại không?   







MỘT THỨ TỰ DO HOANG DẠI

 

     Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây. Ví dụ, phải có diện tích đất bao nhiêu mới được làm nhà; còn về kiểu cách, trong khi bắt buộc mỗi nhà phải khác các nhà chung quanh (để tạo cảm giác độc đáo), thì anh lại vẫn phải kết hợp với cảnh quan sẵn có một cách nhịp nhàng. Nhìn Đà Lạt hồi trước, ai cũng thấy là không chỉ có nhiều nhà đẹp mà thú vị hơn là cả một thành phố đẹp.

     Còn như các khu phố mới được xây dựng ở các đô thị thời nay thì hoàn toàn ngược lại. Rất nhiều quy định chung chung, nhưng những quy định quan trọng nhất liên quan đến việc đóng góp của ngôi nhà vào vẻ đẹp của thành phố lại không có, bởi không ai có ý niệm gì về vấn đề này. Không thiếu nhà đẹp, từng cái rất đẹp, nhưng toàn bộ lại xấu.

     Ở Hà Nội hiện nay có những căn nhà chiều ngang mỏng dính, rồi những căn nhà học đòi kiểu cách nước ngoài trông thật kỳ cục, đến mức một nhà báo đã phải trương lên cái tiêu đề cho một bài báo: Eo ôi Hà Nội phố! (nhại tên bài hát Em ơi Hà Nội phố! của Phú Quang).

      Hỏi các chủ nhà thì cái câu trả lời thường nhận được là: “Nhưng mà tôi thích vậy”.

     Quá lên một chút nữa, người ta lại giở giọng “Tùy tôi muốn sống thế nào thì sống, không ai được dí mũi vào việc riêng của tôi cả”.

    Vừa phóng xe vừa hút thuốc. Vào rạp chiếu phim vẫn nói điện thoại di động oang oang. Phô bày những cái xấu xa ngay giữa nơi công cộng. Xả rác ngay dưới chân cái bàn ngồi ăn. Đánh vợ chửi con ầm ĩ hàng xóm láng giềng. Hành hạ ô sin lấy cớ tôi đã thuê mướn thì dày vò thế nào cũng phải chịu… Cái khác của người thời nay so với thời xưa là làm những trò ngang ngược ấy một cách trâng tráo. Người ta viện dẫn cái gì chưa có luật cấm thì cứ làm. Đến lúc có luật cấm - như chuyện hút thuốc thời nay - thì lại bảo quen nết rồi bỏ sao nổi.

     Một nét thời đại nữa là trong đầu óc những người làm cái việc hơn đời ấy luôn có sẵn một mớ lý sự để sẵn sàng bảo vệ cho cách sống của mình.

     Họ vận dụng một khái niệm triết học - tự do để giải thích.

     Nghe có lý quá!

     Mang sách ra mà tra, thường tôi thấy những cuốn phổ thông nhất cũng đã ghi cái ý tự do là không bị ràng buộc gì hết, tự do là để con người làm theo ý muốn. 

     Chỉ có điều nếu đọc kỹ hơn thì thấy khi bàn về tự do, các nhà xã hội học đã lưu ý ngay là không được đẩy nó lên cực đoan.

     Thứ nhất, do con người sống trong xã hội nên cái đi kèm với tự do là sự kiểm soát xã hội. Tự do của người này không thể cản trở tự do của người khác. Nói “điều kiện đầu tiên để có tự do là tự do phải bị hạn chế” là với nghĩa đó.

     Thứ hai, tự do ở đây phải có tính nhân văn, với nghĩa con người chỉ có quyền tự do để sống cận nhân tình hơn, tốt đẹp hơn chứ không phải để hư hỏng, xấu xa đi.

     Theo một nhà triết học Trung Quốc cận đại là Lương Khải Siêu, thứ tự do bừa bãi kia nên gọi là tự do hoang dại, và đó là dấu hiệu của một xã hội phát triển thấp. 

      Ông và các đồng sự như Nghiêm Phục đã băn khoăn mãi khi tìm một chữ gì trong tiếng Hán để tương ứng với chữ liberty trong tiếng Anh. 

      Tính toán mãi các ông đành dùng chữ tự do.

      Theo nghĩa đen, tự do nghĩa là từ mình mà ra đồng thời là trở về với mình. 

      Nhưng mà con người ta phải là cái gì trí tuệ, hiểu biết, tự làm chủ được mình thì mới có quyền trở về mình chứ?        Để cho thứ tự do hoang dại kia lôi cuốn là làm rối loạn xã hội! 

      Chính vì hiểu thế, Lương đặt vấn đề là các nhà quản lý xã hội không chỉ thân dân, gần gũi dân mà còn phải tân dân, làm cho dân ngày một tốt hơn.

      Ngoài nghĩa thông thường, tự do còn là một phạm trù thu hút không biết bao nhiêu giấy mực của các nhà triết học.

      Như tên gọi của nó đã chỉ rõ, Bàn về tự do của John Stuard Mill in năm 1859 - nhà xuất bản Tri thức đã cho in bản dịch - là cuốn sách kinh điển viết về khái niệm này, ở đó tác giả bàn kỹ về ý nghĩa xã hội của tự do như tự do tư tưởng, tự do về đời sống tinh thần. 

     Những ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề phải có quyền tồn tại ngang nhau, không ai được lấy cớ gì để ngăn cấm.

     Những khía cạnh đó cũng đang thành chuyện thời sự ở ta. Cái khó là ở chỗ trong khi thứ tự do theo nghĩa thiêng liêng đang là chuyện mỗi người hiểu một cách và phải gỡ dần dần, thì ý niệm tự do theo nghĩa phàm tục lại chiếm lĩnh tâm trí nhiều người.

      Tầm thường dung tục trong quan niệm và học đòi những cái nhố nhăng, những hành xử kiểu đó kéo người ta thấp xuống. 

      Nó chỉ làm cho một xã hội trở nên nhộn nhạo thậm chí đầy tai vạ, chứ không phải là dấu hiệu của một khao khát tự do nào hết. 

      Nó đóng vai trò một thứ van xì hơi, giúp người ta xả bớt những bức xúc trong lòng nhưng lại làm lãng quên cái quyền tự do cơ bản là tự do nâng cao chất nhân văn trong mỗi con người để mở đường đi tới xã hội văn minh.

*

TIẾP TỤC CÂU CHUYỆN 

TỰ DO HOANG DẠI

     Bác sĩ Zhivago nhân vật trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của Boris Pasternak có lần nói với bạn gái:

    “Cô thử nghĩ xem cái thời đại chúng ta thật là lạ lùng. Và cô với tôi đang phải sống trong đó. Thật ngàn năm một thuở mới lại xẩy ra những chuyện điên rồ như thế này. Cô có thấy cả nước Nga như mất nóc -- tôi và cô, tất cả những người như chúng ta đang sống ngoài trời. Không còn ai kiểm soát chúng ta. Tự do! Đúng là tự do thực chứ không phải những lời rỗng tuếch, nhưng đó là một thứ tự do ngoài mọi sự chờ đợi của chúng ta, tự do vì tình cờ vì ngộ nhận.”

    Tôi ngờ rằng lẽ ra ở đây, tác giả muốn viết thêm … “tự do vô chính phủ, tự do làm khổ nhau hành hạ nhau.”

    Giá biết trước câu này, tôi sẽ dẫn vào bài Một thứ tự do hoang dại mới viết.

     Hóa ra ở đâu khái niệm tự do cũng là khó hiểu nhất!

    Từ những biến thiên kiểu ấy, nay nước Nga rơi vào tình cảnh thế nào? Có hai chi tiết đáng nhớ nhất từ các bài báo mà rải rác tôi đã đọc. 

    Một là về các vùng quê, thấy rất nhiều người đàn ông say rượu, có khi tất cả đàn ông trong làng say rượu. Còn đàn bà thì dạy nhau để làm sao bán được thân mình cho những người giầu có.

     Và thứ hai, nếu ngày xưa, các phương tiện truyền thông chuyên môn đóng vai giảng đạo thì nay ngược lại. Xem ti-vi, dân không phải nghe dậy bảo là hãy sống như thế này thế nọ nữa. Trong khi tha hồ lê lết trong cực khổ, giờ đây họ toàn được nghe những điều họ muốn nghe, những lời nịnh nọt rằng nước Nga thuộc loại cường quốc dắt dẫn thế giới, người dân Nga đang sống cực kỳ hạnh phúc.

     Nhưng đấy còn là ở một dân tộc có niềm tin tôn giáo.

     Người bình dân VN trong quá khứ - và còn kéo dài cho đến hôm nay – cũng quen và rất thích thú thu hẹp khái niệm tự do vào nghĩa tự do hoang dại, nhưng thường bao hàm cái nghĩa chả có gì là nghiêm chỉnh cả.  Câu tục ngữ sau tôi thường được nghe với tâm lý sảng khoái và vẻ mặt bất cần đời “thứ nhất quận công thứ nhì ỉa đồng”



PHẦN 4



DÂN NHẬP CƯ

TRONG VĂN CHƯƠNG VÀ BÁO CHÍ

  

       Người ta thường coi Nguyễn Bính như một nhà thơ có tâm hồn đồng ruộng và tha thiết kêu gọi trở về với chân quê. Thật ra nhà thơ đã bị hiểu nhầm. Tác giả Lỡ bước sang ngang chỉ gợi lại những kỷ niệm về quê hương trong lòng người. Chứ trong thâm tâm ông thừa biết rằng cây đa bến nước hoăc mối tình của cô hàng xóm chỉ còn là kỷ niệm trong tâm trí. Nó thuộc hẳn về quá khứ. Một đi là ông không trở về với nó nữa, trừ phi bị bắt buộc. Nhìn từ góc độ xã hội học, Nguyễn Bính là một hồn thơ của dân di cư. Từ nông thôn ra thành thị, họ như cái cây bị mang từ mảnh đất này sang trồng ở mảnh đất khác và cuộc đời họ phải chấp nhận nhiều bi kịch tiêu biểu cho số phận con người trong xã hội hiện đại.

         Suốt thế kỷ XX, làn sóng người dân quê Việt Nam rời bỏ làng xóm ra thành thị chia thành nhiều đợt dồn dập. Chiến tranh khiến cho người ta không còn có thể tự do lựa chọn. Hết chiến tranh thì lại nhu cầu tái thiết kinh tế. Số dân quá đông. Kỹ thuật làm ăn cũ kỹ. Tình trạng lạc hậu không phải bỗng chốc mà được cải thiện. Dù không muốn đi, dù biết rời quê là trăm cay ngàn đắng trên phương diện tình cảm, họ cứ phải theo nhau mà đi. Một nhà văn như Nguyễn Minh Châu đã thông cảm với cái nỗi niềm ấy ở họ. Trong thiên truyện Chợ tết in đầu 1986, nông thôn trì trệ được ông miêu tả dưới con mắt một người xa quê đã lâu. Hàng mấy chục năm cả con người lẫn cách sống vùng quê này không đổi. Bởi vậy ở cuối thiên truyện rất hay nhưng lại ít người biết này, nhân vật của Nguyễn Minh Châu sau cuộc trò chuyện với một thanh niên tên Kim đã thầm kêu lên đâu đớn “Kim, Kim, Kim. Đời cháu mai ngày sẽ ra sao nếu gắn chặt với những làng xóm quê nhà yêu dấu!”

      Mấy chục năm nay, dù đã dặn dò nhau rất nhiều song các vấn đề nông thôn chưa được chúng ta đề cập tới đúng như nó cần phải có. Nông thôn ta đã thay đổi ra sao trong hiện đại hóa? Khi tìm cách trả lời cho câu hỏi này, nhìn vào văn chương, người ta không khỏi lúng túng.

      May mà gần đây còn có Cánh đồng bất tận. Tác phẩm này đã đáp ứng được sự chờ đợi của nhiều người. 

     Nhưng những sáng tác như của Nguyễn Ngọc Tư mới nói về cái bộ phận nông dân ở lại chính mảnh đất cũ. Còn các vấn đề của cái bộ phận “nông thôn ra đi” -- “nông thôn từ bỏ chính mình”, vẫn ít được văn chương báo chí nhắc nhở tới. Một con số thống kê cho biết hàng ngày có khoảng nửa triệu dân nhập cư sống làm việc ở một đô thị như Hà Nội. Có người sáng đi tối lại quay về với làng xóm của họ. Có người lên theo mùa. Ngày càng có những người lên một thời gian dài và năm chỉ lai vãng về quê vài lần. Song họ mới là dân đô thị một nửa. Sinh hoạt của họ có cái gì chắp nối vá víu tạm bợ. 

     Họ cần có một Nguyễn Ngọc Tư của họ.

     Và trước mắt họ cần được thông cảm của toàn xã hội, được nhắc tới và chia sẻ trong các phương tiện thông tin đại chúng.

      Những ý nghĩ trên lâu nay vốn đã lởn vởn trong đầu óc tôi, càng dội lên như ám ảnh trong những ngày tết. Lúc này, Hà Nội như vắng đi, tàu xe khó khăn vì người về quê. Còn sau tết, có tin nhiều khu công nghiệp ở các tỉnh phía nam, công nhân không chịu lên làm việc tiếp. Thế là người ta lại nháo lên bàn bạc. Chính sách cần thay đổi thế nào, ngoài lương thì còn phải lo cho đời sống hàng ngày của họ ra sao, trong câu chuyện bên bữa cơm ở các gia đình, nhiều người đã có nhắc nhở.

      Nhưng so với chuyện thị trường chứng khoán chuyện cúm gà cúm vịt, thì các câu chuyện tương tự rộ lên được ít ngày rồi lại lọt thỏm đi.

       Có lần, tôi đọc được một mẩu tin ngắn trên mạng: Việt Nam cần giải quyết tình trạng di cư gia tăng. Đó là khuyến nghị của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) tại Việt Nam đưa ra trong hội thảo về vấn đề di cư tổ chức hôm nay ở Hà Nội.

       Cho là chủ đề quan trọng, tôi đi tìm tiếp. Nhưng tìm suốt lượt các tờ báo chính chỉ thấy có một ít tờ đưa tin này, và cách đưa thì hết sức sơ lược, chẳng hề nói hội thảo đã diễn ra với sự tham dự của những ai, có báo cáo nào xuất sắc, đâu là vấn đề tiếp theo cần khai thác. Tóm lại là tin đưa không mấy mặn mà như những tin về cô ca sĩ này có bầu hoặc hoa hậu kia thay mốt ăn mặc.

       Nghĩ mà thấy cám cảnh quá!    












DI DÂN TỰ PHÁT

NHÌN TỪ HAI PHÍA


Nỗi đau khổ không của riêng ai 

     Nhiều truyện ngắn Nguyễn Công Hoan được mở đầu bằng một nhận xét ngược đời. Truyện ngắn mang tên Thằng quýt (viết năm 1937) cũng vậy. Nhà văn kể rằng một số người đi giúp việc có lối vô tâm làm cho chủ nhà rất khó xử: họ thường không nhận tiền công ngay mà lại chỉ rình lúc chủ đang túng bấn là đòi tiền công, “có khi tích luỹ đến hàng ba bốn chục, đến nỗi trả được xong xuôi, nhiều ông chủ ngồi bó giò, thuỗn mặt ra mà tiếc ngơ tiếc ngẩn”.  Nguyễn Công Hoan khái quát: Chính cánh giúp việc ấy là đám chúa ác. 

    (Đây chẳng qua là một cách nói. Sau đoạn mở đầu ngược đời này, cả thiên truyện Thằng quýt rút lại là chuyện một người chủ ăn cắp ngay của đầy tớ.)

     Tôi thường nhớ tới cái câu lạ tai này trong nhiều buổi chuyện trò đấu hót với anh em trong cơ quan và bạn bè xa gần. 

     Chả là thời nay, không ít nhà bọn tôi do vợ chồng cùng đi làm cả, phải có người giúp việc, gọi chung là ô-sin. 

     Một đặc điểm mà chúng tôi thường không biết kêu ai: Ấy là nhiều khi các ô - sin làm khổ chủ nhà bằng cái lớ ngớ của người không quen với cuộc sống đô thị. Cáu giận không được, các gia chủ chỉ còn có cách kêu trời!


 Không trách được người chưa biết 

      Sau ngày 30-4-75, nhiều cán bộ miền bắc được phân công vào miền nam, và bên cạnh một số thạo việc, thì một số hiện ra như những người quê mùa, thiển cận, không hiểu biết và do đó không thích ứng được với một Sài Gòn năng động. Chẳng những thế, một số khác sa đà trong cảnh ăn chơi hưởng thụ.

      Có nhiều cách giải thích về chuyện này nhưng tôi nhớ hơn cả cái ý của nhà khoa học Trần Đại Nghĩa từng nói trong một buổi nói chuyện ở Thư viện quốc gia ở Hà Nội: 

  -- Có gì lạ đâu. Hãy hình dung xã hội miền Nam như một cỗ máy, nhiều anh em vào đấy mà không được chỉ dẫn trước rằng cỗ máy đó hoạt động ra sao, thành ra nhiều khi họ cho cả tay vào, vừa hỏng máy vừa hỏng người, nhưng khách quan mà xét không trách họ được.

    Đối với người nông dân lên đô thị làm ăn -- ở đây là các ô sin -- cũng vậy.

 

 Tự phát và được quản lý chặt chẽ 

    Khi đến Nam Ninh (Quảng Tây) Trung quốc, tôi thấy đám đánh giày có hẳn một loại trang phục riêng. Và nghe nói cái hòm đồ nghề của họ cũng phải thống nhất một theo một kích thước đã quy định. Hỏi ra mới biết, từ nông thôn lên họ có được huấn luyện cẩn thận rồi mới được cấp phép hành nghề. Đó là quá trình đô thị hoá có ý thức, đô thị hoá có kiểm soát.

     Còn ở ta thì sao? Tôi muốn dùng lại cái từ tự phát. Nói nôm na là gặp đâu làm đấy, bất cứ ai muốn lên thành phố khi nào thì lên làm gì thì làm, thành phố như miếng mồi ngon ai liều lĩnh và biết cách xoay sở, người đó được.


 Sự ra đi bất đắc dĩ    

     Sống giữa làng quê là cách sống tự nhiên của con người. Đô thị chỉ hình thành khi cuộc sống tự nhiên ấy, người ta cảm thấy không đủ nữa, và muốn sống khác đi. Trên nguyên tắc, cuộc sống đô thị là cuộc sống được tổ chức. Con người phải tập cho mình những thói quen mới.

     Thế nhưng ở ta nhiều người có một quan niệm khác. Vì miếng cơm manh áo mà phải lên đô thị kiếm ăn nhưng bụng dạ hình như vẫn để cả ở chốn quê hương, xem những ngày xưa là cái mẫu mực tuyệt vời mà con người hôm nay không với tới được. Và sự tạm bợ cứ thế kéo dài cả một đời người cả mấy thế hệ.  

 Trở lại với lịch sử 

     Thời nào thì việc Hà Nội được bổ sung bằng người các tỉnh cũng là chuyện thường xảy ra.  Nhưng xưa nay vẫn có chỗ khác:

    Ngày trước người các tỉnh lẻ lên Hà Nội phần lớn là thông qua các nhà trường. Từ các tỉnh vào các trường học rồi do học giỏi mà ở lại Hà Nội làm việc luôn. Hoặc những người làm nghề gì đấy, nhưng tài hoa khéo léo, có tay nghề cao, chỉ Hà Nội mới tiêu hoá hết khả năng nghề nghiệp của họ. Cũng có những người lên theo lối tắt. Nhưng dù bằng cách nào thì người ta cũng nhìn Hà Nội với sự tôn kính: nơi đó, người ta sống ở trình độ cao hơn mình, mình phải kín đáo học hỏi để cho người ta khỏi nghĩ mình ngây ngô vụng dại.  

  Còn ngày nay, nhiều người lên thành phố với ý nghĩ trên ấy cũng chả hơn gì mình, chẳng việc gì phải giữ gìn khép nép cho thêm mệt. Tha hồ ăn vận lôi thôi. Hoặc có học theo được ít mốt mới, song chỉ là chuyện may mặc đắp điếm cho dễ coi. Ngoài ra hàng ngày vẫn nói tục, nói ngọng. Giữ nguyên cái lối gặp đâu hay đấy tuỳ tiện của một nếp sống đơn giản. Xem cả thành phố là một cái làng lớn, bệ nguyên xi những mối quan hệ họ hàng gia đình vào công việc. Thành thử giữa đôi bên, hỏi rằng ai làm khổ ai, thật cũng khó nói cho được rành mạch.    

    

Cái khổ theo mãi

     Nói cho vui thôi, phải nhận cái việc người nông thôn tràn lên thành thị một cách bừa bãi “xâm lược” thành thị là chuyện chỉ có ở ta hôm nay. Trong hoàn cảnh đất nước hậu chiến, quá trình di dân tự phát ấy chỉ làm cho sự phát triển đô thị bị kéo chậm lại và chúng ta sẽ luôn luôn ở trong tình trạng dang dở, không thể nào có được những đô thị đúng chuẩn mực. Đến lượt mình quá trình đô thị hóa méo mó, bệnh tật tác động tới sự phát triển chung. Trước mắt nông thôn mất đi một sự trợ giúp thiết yếu để phát triển. Cái khổ nói ở đây sẽ cứ bám theo chúng ta mãi.     












TỘI LÀM HƯ DÂN


     Đại Đường Tây vực ký của nhà sư Huyền Trang vừa được dịch ra tiếng Việt (NXB Phương Đông, 2007). Trong thiên bút ký này, Đường Tăng ghi lại ấn tượng sau khi đi qua 138 nước nằm giữa Trung Hoa và Ấn Độ (có thời gộp chung là Tây vực). Đoạn tổng thuật về địa khu Tốt Lợi kể “Người Tốt Lợi phong tục kiêu ngoa, chuyên môn lừa đảo, tham lam hám lợi, giữa cha con với nhau cũng tính toán hơn thua chẳng cần người tốt kẻ xấu, cứ nhiều tiền là được quý trọng…Cư dân một nửa làm ruộng, một nửa chuyên đi trục lợi”.

     Tôi ghi lại đoạn này bởi lẽ nó góp phần gạt đi trong đầu một phân vân khi nhận thức. Từ nhỏ bọn tôi đã được học rằng chỉ có các cá nhân xấu, chứ nhân dân lao động nơi đâu cũng tốt. Hóa ra không phải vậy! Tùy hoàn cảnh mà con người biến đổi. Và là biến đổi trên diện rộng. Tục ngữ ta xưa cũng có câu “bạc như dân bất nhân như lính”. Đọc lại lịch sử thấy nhận xét chua chát đó không hoàn toàn sai. 

     Thế còn bây giờ? Một lần, chập choạng tối, tôi đang đi trên đoạn đường gần ngã tư Hàng Chiếu – Đồng Xuân Hà Nội thì gặp mưa, đành tính chuyện lánh tạm vào một mái hiên. Bất ngờ nghe người ở trong nhà nói hắt ra:

   -- Biến đi cho người ta còn bán hàng.

     Trời ơi! Con người đô thị bây giờ càn rỡ và bất nhân ngoài sức tưởng tượng!

     Ở các tỉnh xa, các vùng kinh tế, thì sự hư hỏng lại mang sắc thái khác. Có lần trên một tờ báo, đọc thấy tin ở huyện Tam Nông Đồng Tháp nhiều người lấn chiếm đất công rừng công, bất tuân pháp luật. Lần khác xem ti vi, lại thấy dân một xã của Quảng Trạch Quảng Bình đua nhau chặt rừng phòng hộ ven biển bán cho tư thương, huyện xã đã tìm cách ngăn chặn nhưng không nổi. Đủ chuyện đã xảy ra, dân ăn cướp, dân ăn cắp, dân ăn vạ, dân xà xẻo của công và tiếp tay cho kẻ xấu, dân làm hại lẫn nhau…thiên hình vạn trạng không xếp loại được.

       Không phải chỉ trong sách vở nhà trường mới có lối khái quát vậy, mà sự thực là suốt thời chiến tranh, nhân dân lao động đã là những con người thuần hậu, chịu thương chịu khó, hướng về điều thiện và muốn sống theo pháp luật. Chắc chắn sự thay đổi diễn ra thời hậu chiến thuộc diện “không thuộc về bản chất”. Vấn đề còn lại chỉ là cắt nghĩa tại sao lại xảy ra cái chuyện chẳng ai muốn đó?

     Trở lại việc dân ở huyện Tam Nông Đồng Tháp nói trên. Đọc kỹ các bài viết liên quan thì thấy trước khi dân hư, có chuyện ông phó chủ tịch huyện phá rừng. Người dân chung quanh thấy ông cán bộ to hành xử như trên (chặt tràm đào ao làm thành lãnh địa riêng), bảo nhau ùa vào làm bậy.  

      Đây cũng là diễn biến thấy ở nhiều nơi khác. Trong phần lớn trường hợp, tình trạng dân hư liên quan tới hiện tượng nhức nhối là chuyện cán bộ kiếm chác vô nguyên tắc, tư lợi vô cảm, gộp chung là thoái hóa biến chất. Đáng lẽ phải gương mẫu tuân thủ pháp luật thì họ lại tự đặt mình cao hơn luật, phá luật để trục lợi.

      Trước mặt người dân lúc ấy, lý tưởng như bị xúc phạm. Người ta không thể thờ ơ và dễ bảo mãi. Về mặt triết học có thể bảo con người bắt đầu rơi vào hư vô. Chúa đã chết rồi! Ai muốn làm gì thì làm! Bởi cảm thấy trên đời này không còn cái gì là thiêng liêng, họ rơi vào liều lĩnh phá phách một cách hung hãn. Những cái xấu sẵn có mà bấy lâu họ kìm nén, được lúc vùng lên quẫy lộn. Tự cho phép mình hư! Nhìn nhau để yên tâm mà hư! Khuyến khích nhau hư thêm, càng đông người hư càng thích! Sự bùng nổ lúc này là theo lối dây chuyền, không gì có thể giữ con người lại nữa. 

     Ta chưa có thói quen đánh giá bộ máy quan chức nên tưởng việc này là khó. Sự thực khá đơn giản. Muốn biết giới quan chức một địa phương ra sao, cứ xem dân ở đấy thì biết. Dân ngoan làm ăn tử tế tức là bộ máy làm việc tạm gọi là chấp nhận được, người ta còn tin. Còn dân hư, nhất định là những người quản lý họ có vấn đề, không tham nhũng thì cũng kém cỏi trong quản lý. Chỉ cần chịu tìm sẽ thấy ai có lỗi.

     Tòa án thường chỉ xét những tội cụ thể. Nhưng tôi tưởng tất cả các quan chức một khi hư hỏng, ngoài hành vi phạm pháp, còn phải xét thêm một tội nữa: Tội ngấm ngầm thúc đẩy và dung túng dân làm bậy. Tội làm hư dân.

      Nhà xuất bản Tri thức từng cho in một cuốn sách thuộc loại kinh điển. Đó là cuốn Chính thể đại diện của John Stuard Mill (nguyên bản được viết từ năm 1861). Ở trang 82, tôi đọc được một câu khái quát như sau “Người ta phán xét một chính thể thông qua tác động của nó lên con người. Cụ thể là có thể và nên xét xem nó tạo nên những công dân như thế nào, nó làm cho dân tốt lên hay xấu đi”. Đúng là có liên quan tới vấn đề chúng ta đang bàn.  











ĂN LẬN VÀO TƯƠNG LAI

CỦA CON CHÁU!


       Nhân đi tập thể dục, tôi thường kiêm thêm việc mua quà sáng cho cả nhà (các thứ bánh mì, xôi, khoai sắn…). Chợt một lần, nẩy ra cái ý định vui vui là thử đếm số túi ny - lông mà chỉ một buổi sáng thôi, gia đình tôi mang từ chợ về. Khoảng độ một chục chiếc, vâng, không bao nhiêu. Cố nhiên là sau khi lấy thức ăn ra, tất cả đã được vợ tôi vo viên vứt vào thùng rác. Nhưng mãi mà không quen, nhiều lần tôi vẫn cứ nẩy ra cái ý nghĩ mà nhiều người cho là kỳ quặc. Câu hỏi tôi tự đặt ra đơn giản như sau: Riêng buổi sáng nhà mình đã vứt độ một chục chiếc. Vậy cả ngày, nhà mình đóng góp cho môi trường bao nhiêu túi? Và cả cái phường mình ở, cả cái thành phố này, mỗi ngày góp cho lòng đất thủ đô bao nhiêu mét khối, bao nhiêu tấn cái nhân tố tàn hại ấy – bảo là tàn hại vì dù được chôn lấp, ny –lông rất khó phân hủy, nên sẽ làm hỏng môi trường làm hại đất đai cho đến vài chục năm hoặc kéo dài hơn nữa.

     Từ lâu, đã nghe nói là các nước họ có chính sách bảo vệ môi trường rất chi tiết. Họ buộc mọi người phân loại rác ra làm hai thứ riêng. Thứ rác hữu cơ, dồn lại làm phân bón. Rác từ các hóa chất thì đưa vào máy móc xử lý. Riêng các thứ túi ny - lông, họ chỉ cho sản xuất thứ dễ phân hủy, giá thành có đội lên nhiều lần, nhưng đấy là chính sách cần thiết để người dân đừng phóng tay dùng nó một cách vô tội vạ.

        Nghe thấy hay quá. Nhưng không biết bao giờ nước mình học theo được! 

        Không cần là người trong cuộc mà chỉ qua đồn đại thì cũng biết rằng nước mình có cách “nối ruột” với thế giới rất độc đáo. Những loại ô tô mới đắt tiền. Các loại mỹ phẩm. Các loại rượu quý. Ngay cả thức ăn và các loại thuốc cũng vậy. Thời buổi hội nhập, cái gì thế giới họ có, mình cũng có khá nhanh. Hễ có nhu cầu thì có người tìm ngay phương thức thỏa mãn. Nhưng cũng có những thứ sao khó học đến vậy. Như là cách làm ăn nghiêm túc, bảo đảm quy trình và chất lượng. Như là tinh thần tự trọng và hết mình với việc công của các quan chức. Như là thái độ sống hiểu biết, lịch sự mà vẫn hiện đại của lớp trẻ...Thậm chí như là cách đối xử với rác tôi nói ở đây. Mãi ta không học nổi.

      Tóm tắt một câu: cái tử tế khó vào; cái hư hỏng thì đến tự nhiên và cắm rễ cũng một cách tự nhiên, như là chính ta phát minh ra vậy.

      Có mấy hiện tượng dạo này thấy nói nhiều trên mặt báo. Các khu rừng đầu nguồn bị phá hoại. Tình trạng khai thác bừa bãi diễn ra ngay ở các mỏ lớn như mỏ cơ-rôm ở Thanh Hóa, mỏ sắt ở Trại Cau Thái Nguyên. Nhiều mỏ đồng mỏ than nhỏ ở các vùng xa được dân thổ phỉ ngày đêm đeo bám “tùng xẻo”. Tình trạng thương mại hóa lễ hội khiến cho đền chùa miếu mạo biến dạng rõ rệt. Việc công nhận Hạ Long là Khu di sản thiên nhiên thế giới có thể bị thu hồi, bởi vì để đủ các loại ô nhiễm xuất hiện. 

     Cũng giống như chuyện rác, đó đều là các vấn đề liên quan tới môi trường. Khốn nỗi, những gì có dính dáng tới môi trường cũng tức là dính tới tương lai, người dân thường ở ta chỉ nói miệng thôi, chứ ít chú ý lắm. Nhân danh việc kiếm sống thiêng liêng, thôi thì không hành động bừa bãi nào người ta không dám làm! Nhìn vào cách phá rừng, cách nuôi tôm, cách khai thác di sản văn hóa…hiện nay, hoàn toàn có thể nói là trong “cơn điên” lo làm sang làm giàu, ta đang ăn lận cả vào tương lai của con cháu.      

                                 











CÁI NGHÈO DAI DẲNG

   

      Người ta thường chỉ nhớ tới là các đầu lĩnh cai quản PMU 18 như những quái kiệt vung tiền nhà nước làm bậy và đua nhau ăn chơi hưởng thụ. Lẽ ra, tôi nghĩ, phải kết tội họ, -- cũng như các đồng nghiệp hư hỏng của họ trong ngành giao thông vận tải -- ở một khía cạnh quan trọng hơn: vì sự kém cỏi và thiếu hiệu quả của toàn ngành mà khi gia nhập WTO (= hòa mạng với nền thương mại toàn cầu), chúng ta đang có một hệ thống giao thông thuộc loại cổ lỗ nhất thế giới. Hậu quả xảy ra trông thấy nhãn tiền. Các vùng sâu vùng xa vẫn sống như những hoang đảo. Các công ty nước ngoài không thể lên đó đầu tư. Thế mạnh của kinh tế thị trường không phát huy tác dụng. Nông thổ sản của từng vùng dừng lại ở dạng tự cung tự cấp. Mà người dân vùng đó đại khái xưa thế nào nay vẫn thế. Họ đã bị tước đi cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh lành mạnh trong phạm vi cả nước.

       Những suy nghĩ đó đến với tôi, khi đọc lại bài tạp bút Cái cốc ba mươi năm trong tập Giấc mơ ông thợ dìu của Tô Hoài do nhà xuất bản Hội nhà văn cho in, 2006.

       Trong bài viết này, Tô Hoài kể chuyện, có lần đến một vùng núi, vùng đất quá nghèo, có mỗi chuyện lo nước ăn ở sinh hoạt cũng chật vật, mấy lần tỉnh huyện về giúp cũng không làm nổi. Ghé vào một gia đình xin nước, Tô Hoài đưa cho ông cụ chủ nhà một đôi cốc thô, loại cốc thủy tinh cầm đi từ một cửa hàng bia. Vậy mà ba chục năm sau, đi qua thì đó vẫn là một vùng thiếu nước. Tại các chợ vẫn thấy bán loại chậu gỗ, các gia đình mua về, vo gạo rửa thịt khô, rửa chân cũng chậu nước ấy. Gia đình thay đổi, ông cụ già xưa đã chết, người con trai ngồi đấy trông cũng nhang nhác như ông bố ngày trước, và giữa đống gọi là tài sản gia đình vẫn đôi cốc xưa, như một của gia bảo.

       Hai mốc thời gian mà Tô Hoài kể là những năm sáu mươi và chín mươi của thế kỷ trước. Giờ đây thì sao? Bản tin VTV1 tối 24-4-07 cho thấy: dân Mèo Vạc thiếu nước. Các bể nước do Unicef tài trợ đã bé tí mà vẫn cạn khô. Dân cả tuần mới được tắm một lần. Học sinh phải bỏ học đi gùi nước. Quý cô giáo lắm thi xan xẻ cho cô mấy bát.

       Còn bao nhiêu bản miền núi phải sống trong cảnh tương tương tự, chứ đâu phải riêng Mèo Vạc?

       Tưởng như có buông bao nhiêu lời oán trách đối với những người tham nhũng trong giao thông cũng là không đủ. Vì họ một phần mà trong xã hội sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo, giữa các vùng đô thị ngày càng tăng lên. Và đứng ngoài mà nói thì cả xã hội có lỗi. Nếu chưa đến nỗi vô cảm dửng dưng thì chúng ta cũng đang bất lực trước mọi đau khổ tưởng như không còn trong thời đại hiện nay.

       Thế là lan man lại nhớ sang những đợt làm từ thiện xã hội vẫn phát động. Không phải đợi đến những kỳ lũ lụt mà hàng ngày chúng ta vẫn nghe có sự kêu gọi giúp đỡ người nghèo. Cái cảnh người đứng xếp hàng bỏ phong bì vào hòm kính để quyên góp đã thành quen thuộc trên các chương trình truyền hình. Mấy tháng trước, còn nghe có chính sách cho các hộ nghèo được vay với mức lãi 0%, điều kiện được vay là phải thật nghèo, tổng giá trị tài sản không quá ba triệu đồng, cố nhiên phải có họp hành bình tuyển xác minh trước khi cho vay chính thức.     

       Thế nhưng thử hỏi chúng ta đã có thể an tâm với cái việc đó chưa? Đáng lẽ phải lo đường xá cho đàng hoàng để đưa khoa học kỹ thuật và nền nếp làm ăn mới tới những vùng đó. Đáng lẽ phải lo mở trường đưa con em đồng bào đi học. Đáng lẽ phải giúp để người dân địa phương có thể tự trưởng thành lên, tự lo lấy đời sống của mình và với thế mạnh tiềm tàng, đóng góp vào hoạt động chung của đất nước...Đáng lẽ phải như thế! Đó là trách nhiệm chung mà chính đó mới là sự giúp đỡ nhau thiết thực. Những việc cơ bản đó, ta đã làm được bao nhiêu?

       Nếu xem xét sự việc theo kiểu ấy thì chắc chắn còn lâu chúng ta mới có thể an tâm với lòng từ thiện mà chúng ta đang tự hào, một thứ từ thiện đắp điếm tạm thời hơn là có ý nghĩa lâu dài. Đài báo lại còn tố cáo nhiều nơi quỹ từ thiện quản lý lỏng lẻo, người ta xà xẻo ngay vào số tiền thu được từ quỹ, trước khi đưa nó tới các địa chỉ cần tới. Liệu có phải các sáng kiến loại đó chỉ có tăng lên chứ không giảm? Rồi còn trường hợp các công ti tham gia quyên góp cốt để quảng cáo tiếp thị nữa chứ. Nghĩa là họ chỉ lấy cớ làm từ thiện để trục lợi. Từ hồi 1936-1939, trong tiểu thuyết Vỡ đê, Vũ Trọng Phụng đã nói tới cảnh mỗi lần làm từ thiện là một dịp để con cái các ông quan huyện quan tỉnh trưng diện, lăng –xê những mốt quần áo mới, và khoe khoang về một nếp sống tài hoa son trẻ vừa du nhập từ nước ngoài về. Sáu bảy chục năm qua đi mà lòng người có khác được bao nhiêu?


CẢM GIÁC CÓ LỖI

                                                                 

       Khiêm tốn biết điều có vẻ như là một cái gì xa lạ trong tâm lý dân mình đương thời.  Có thể bạn cho rằng tôi đã quá lời ư? Hãy thử lướt qua báo chí và các chương trình TV hàng ngày. Có phải nhìn đâu chúng ta cũng bắt gặp những nụ cười tự mãn, những lời hoa mỹ khoe tài khoe giỏi. Con người chỉ quen phô ra với nhau nào là cái phần đóng góp của mình thật là lớn lao, nào là thành tích làm được vô cùng vĩ đại. Bần cùng phải nói về những yếu kém thì chỉ nhắc tới qua loa trong mấy câu chiếu lệ vuốt đuôi. Cứ làm như chúng ta là những thiên thần tuyệt với tài giỏi cả!

        Bởi vậy tôi hơi ngạc nhiên khi đọc các bản tin về Đại hội kiến trúc lần thứ VIII tháng 4-2010) “Thư Đại hội VIII gửi giới kiến trúc sư cả nước nhận định: Kiến trúc Việt Nam phát triển chưa có bản sắc và còn một khoảng cách với trình độ kiến trúc quốc tế. Chúng ta xây dựng nhiều, nhưng còn ít thành công về sáng tạo nghệ thuật, lực lượng kiến trúc sư đông nhưng không mạnh, tổ chức hành nghề chưa chuyên nghiệp, còn manh mún, nhỏ lẻ; không đủ tài và sức để giải quyết yêu cầu lớn và phức tạp của xã hội.”

        Cái chuyện hiện thời chúng ta chỉ có những làng quê và những đô thị xấu xí thì lâu nay ai cũng biết. Các kiến trúc sư thường biện hộ: “Tôi có quyền gì đâu? Tôi đã vẽ cho các nhà chủ mấy cái mẫu đẹp nhưng họ đâu có nghe?”. Đấy là nói chuyện từng ngôi nhà cụ thể. Còn hình ảnh toàn cảnh của một khu phố hay một đô thị mới xây dựng, tại sao nó xấu ư? Cái đó thì họ bảo tại ông trời, trời cho mỗi người một ý định và tập hợp một trăm căn nhà đẹp nhiều khi lại tạo nên một quần thể hẩu lốn, cái nọ làm hại cái kia.

         Khi cuộc sống đã rút lại ở hai chữ làm ăn, người ta chỉ quan tâm tới số lượng, đẹp xấu không cần biết. Và nhỡ gặp ai máy mồm chê kém chê xấu thì quay ra đổ lỗi cho người khác. 

          Trong hoàn cảnh ấy, sự khiêm tốn biết điều và hơn thế nữa, một cảm giác xót xa nhận lỗi đứng đằng sau những lời lẽ chính thức của cả giới kiến trúc dẫn ra ở trên giống như một ngoại lệ. Nó vang lên quá đơn độc trên cái nền của một đời sống tinh thần xã hội nhiều phần yếu kém. 

          Ta thường hay nói đang thiếu những người làm chủ, những người dám chịu trách nhiệm. Cụ thể hơn, có lẽ trước tiên nên nói là thiếu những con người muốn nhìn thẳng vào tình hình cụ thể và thấy có lỗi trước dư luận.

          Xã hôi chuyển từ tiểu nông lên làm ăn theo kiểu hiện đại. Ý muốn vượt quá khả năng thực hiện.  Công cuộc phát triển mang tính cách chụp giật vội vàng. Trong tình hình đó, hư hỏng đỗ vỡ làm sao thoát được. 

        Thế nhưng không biết tự bao giờ đã hình thành cả một thứ “văn hóa” chối tội, trốn lỗi. Bắt đầu thấp thoáng có vẻ như có chuỵện ư? Phải bịt đầu mối cho nhanh. Khi đã bung ra ai cũng biết ư? Hãy lấp liếm làm mờ làm nhòe mọi chuyện. Khi một cây cầu hay một ngôi nhà bị sập thì việc đầu tiên của những người bảo vệ là cấm không cho các nhà báo tiếp cận hoặc quay phim. Những người phụ trách nông nghiệp không muốn báo cáo rằng khu vực mình đang có dịch bệnh. Cô giáo không thích báo cáo lên phòng và sở giáo dục về việc trong lớp mình học sinh đánh nhau hay có hiện tượng quay cóp... Sự tự vệ kiểu này đang hiện ra với tất cả sự khôn ngoan tế nhị chỉ có ở con người hiện đại.

       Khi nghe có một sự cố nào đó, cái mà dư luận chờ đợi chỉ là mọi việc được mang ra thanh thiên bạch nhật phân tích để có sự phán xét quy trách nhiệm rõ ràng. Và trước tiên mong chờ được thấy thiện chí của những người trong cuộc. 

        Nhưng có vẻ như càng ngày cái thiện chí đó càng hiếm gặp.

        Xin nói thêm là mấy chữ người trong cuộc ở đây xin được hiểu theo nghĩa rộng.

        Thời xưa mỗi khi xẩy ra mất mùa hay dịch bệnh, các bậc vua chúa thường tự nhận là do đức của mình mỏng, phải lập đàn cầu trời nhận tội và mong trời đừng vì mình mà làm khổ dân chúng. Trong các giờ sử, bọn tôi được dạy đó là một lối nghĩ duy tâm buồn cười. Nay nghĩ lại thấy đằng sau đó có “hạt nhân hợp lý” của nó. Đúng là lỗi của vua chúa thật, trong trường hợp này các vị tự xưng là cha mẹ dân có lỗi vì đã không biết tổ chức đời sống cho dân. 

       Cũng trong thời phong kiến ấy, khi có những viên quan mắc lỗi thì ông thầy dạy người đó từ nhỏ đứng ra tự nhận lỗi là tại mình.

         Tôi cho rằng có thể học lối nghĩ đó để nhìn tình hình hôm nay. Tai nạn xẩy ra hàng ngày không chỉ do dân thiếu ý thức mà còn nằm trong lỗi của những người giao thông, đang để đường xá thiếu thốn hư hỏng. Khi xử một cán bộ thoái hóa, đáng lẽ phải lần về tận gốc, xem ai đã đăt anh ta vào bệ phóng của con đường hoạn lộ. Cũng như bàn về bạo lực học đường, chỉ nói tới lỗi của các thầy giáo cô giáo là không đủ, ở đây có lỗi của cả những người viết sách giáo khoa những người xác định chương trình giáo dục đạo đức cho lớp trẻ.  Rút dây động rừng, chẳng có ai là vô can trong sự đi xuống của tình trạng nhân thế hiện thời. Có nghĩa là ở tất cả chúng ta, cảm giác có lỗi cần được đánh thức.


 HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT


      Đường phố Hà Nội trước toàn xe đạp nay toàn xe máy -- nhiều khách nước ngoài từng qua thăm Việt Nam nhiều lần có nhận xét như vậy. Cái việc Việt Nam trở thành một “xe máy quốc”, thì dân ta ai cũng biết rồi. Điều phát hiện gần đây của nhiều người chỉ là chúng ta thường đi xe máy bằng chính cái tâm lý từng đi xe đạp hôm qua. Khi rú lên phóng thật nhanh, khi đận đà làm dáng điệu bộ trên đường. Hoặc nếu gặp đoạn tắc mà các nhà gần đấy không chiếm dụng vỉa hè làm chỗ bán hàng, thì sẵn sàng lao lên luồn lách cho mau. Lại còn những kiện hàng tướng người ta thường buộc sau xe nữa, nó khiến cho những con đường nhựa cũ kỹ ở Hà Nội hiện ra chẳng khác nhau bao nhiêu so với những con đường làng mấp mô. Và đó chính là đặc điểm của giao thông ở các đô thị hiện nay.

       Vào những năm tháng cuối thế kỷ hai mươi này con đê ven sông Hồng mà ngày nào tôi cũng đi qua vốn là con đường để hàng hóa ngoại tỉnh tràn về Hà Nội. Ngoài rau cỏ, trong các thứ hàng mang lên bao giờ cũng có gà vịt. Và trong số những kỷ niệm vui vui, tôi nhớ thường có cảnh những xe đạp chở vịt đang đi bỗng dừng lại. Một ít bánh đúc được lôi ra. Người ta dang rộng mỏ vịt để nhồi mớ bánh đúc ấy vào cho chúng thật đầy diều, nhồi cho đến “lòi tù và” mới thôi. Rồi sang chợ Long Biên cân kẹo với nhau, số cân con vịt sẽ gồm cả cái đống bánh đúc mới tọng đó. Có lần thấy tôi ngạc nhiên, các bà bán vịt cười xòa, nghề của chúng tôi nó thế, từ đời các cụ xưa đã truyền lại, ai cũng phải làm, ngồi tọng bánh đúc cho vịt thế này còn hơn chốc nữa lên mặc cả với đám lái ngồi sẵn trên chợ. 

      Cùng với việc buôn bán ngày một phát đạt, chuyện nhồi bánh đúc hôm qua không còn nữa. Đám lái các tỉnh mang vịt lên Hà Nội đã chuyển qua đi xe máy cả. Song cái tâm lý làm ăn kiểu ấy vẫn đang hiện ra thiên hình vạn trạng. Ngay trong các lô hàng xuất đi các nước, dân mình cũng có nhiều chiêu thức tương tự, khiến người ta khó chịu, có khi bị giả về vì không đạt tiêu chuẩn. Trong tôm có dư thừa lượng kháng sinh không được phép. Hàng thủ công chất lượng kém. Sức mạnh của thói quen thật ghê gớm. Tôi chợt tưởng tượng giá có ai đến tận các cơ sở sản xuất mà hỏi, thì chắc cũng thấy mấy người phụ trách cười xòa, các cụ xưa đã truyền lại, ai cũng phải làm, nhiều khi đã biết là sai mà không bỏ được. Vậy là cái tâm lý của người quen nhồi vịt vẫn đang chi phối những người làm hàng xuất khẩu.

     Nhiều huyện cũ của Hà Nội nay lên quận, các xã được gọi là phường. Cũng như ở các tỉnh, nhiều huyện lỵ nhỏ trở thành thị trấn, thị xã thành ra thành phố. Một qúa trình đô thị hóa cũng đến với chúng ta, như ở nhiều nước khác. Chỉ có điều ở những đô thị mới ấy, phố xá thường vẫn cong queo xệch xạc – chẳng qua nó là con đường làng được đô bê tông mà thành. So với các khu phố cũ thì lượng xe ở các “phố làng” này có ít hơn, và suốt ngày thấy có nhiều người đi bộ hơn. Quan sát kỹ hơn thì thấy người ta -- cả trẻ con lẫn người lớn -- thường vẫn đi bộ nghênh ngang ra tận giữa đường. Tại xưa nay vẫn đi vậy một phần. Nhưng cũng tại những căn phố mới này phần lớn không có vỉa hè, muốn trở thành người thành phố đi theo vỉa hè cũng không có chỗ mà đi.

      Những thói quen cũ còn có mặt trong mọi sinh hoạt gia đình. Bên Gia Lâm tôi, hồi sốt đất, nhiều nhà có vài trăm mét tự nhiên thành tỷ phú, xây nhà ba tầng bốn tầng, nhà cũng chia làm nhiều phòng kiểu cách như các biệt thự. Nhưng tối tối nhìn vào nhiều nhà, thấy người ta chỉ quanh quẩn phòng khách dưới nhà. Ở đó, con cái học bài, bố mẹ xem tivi hoặc trò chuyện với hàng xóm. Cả nhà cứ phải sống bên cạnh nhau, chứ không ai tính chuyện về phòng riêng làm việc một mình. Vỏ là dân thành phố, nhưng ruột vẫn là người nông dân thời cũ, ngay trong nếp sống.   

      Thời nào thì trong con người cũng có cài chen cả mới lẫn cũ. Anh Trương Ba chết, nhưng hồn không chịu chết, cứ tồn tại trong cái vỏ anh hàng thịt. 

      Bi kịch riêng của con người hiện đại chúng ta chỉ bắt đầu từ chỗ nhập nhèm sau đây:

      -- Bởi biết rằng cái cũ không bao giờ thay đổi nổi, nên mặc dầu đã ngán ngẩm nó lắm rồi, song lại quay ra lý tưởng hóa nó. 

      -- Còn với cái mới, biết rằng không bao giờ đạt tới, liền lờ đi coi như không có, chỉ cốt sao có cái danh hão là được rồi.

      Cũ mới nhập nhèm, trông cũng buồn cười. Nhưng vì ai cũng thế, cả mình cũng thế, nên không dám cười nữa. 


MẤY CÂY SI VÀ ĐÔI VOI ĐÁ

     

       Đền chùa ở các tỉnh xa thường được đặt trong một cảnh quan rộng rãi thoáng đãng nên đi dạo ở ngoài khuôn viên cũng đã là một niềm vui. 

       Chùa Côn Sơn mấy năm gần đây lại được tu sửa nên khá khang trang.

       Chỉ hiềm một nỗi ra về tôi cứ thấy thương cho mấy cây đại vốn rất điển hình cho các chùa chiền phương đông được trồng ngoài sân. 

       Còn nhớ trong những lần đến thăm một số thắng cảnh ở Trung quốc   thấy các cây cổ thụ loại quý đều có gắn một tấm biển ghi rõ cây đã bao nhiêu tuổi. 

       Ngay ở Bách thảo Hà Nội trước năm 1954 nhiều cây cũng có biển ghi tính danh cùng niên đại đính ngay vào thân.

       Còn trước mấy cây đại ở Côn Sơn, bọn tôi chỉ có cách đứng nhìn rồi đoán già đoán non về tuổi của chúng.

       Khổ một nỗi nữa là cảnh chèn ép diễn ra trước mắt.

       Không hiểu từ đâu lạc vào mà mấy thân si tầm thường có mặt ngay giữa sân chùa. Lá si xanh tốt, rễ si khô cứng lùm loà tranh cướp cả không gian sinh sống, thành thử mấy cây đại kia trở nên côi cút lạc lõng ngay trên mảnh đất vốn dành cho chúng.

       Từ Côn Sơn sang đền Kiếp Bạc không xa, và ở đây chúng tôi lại xót xa vì một chuỵện khác. 

       Vào nhiều đền chùa bây giờ người ta không khỏi bực mình vì những bức hoành phi câu đối được tu sửa. Màu sắc không phải thứ màu nền nã vẫn thấy ở các đền chùa xưa nay.   

       Mà màu mới tô, khi thì quá xỉn, khi quá loè loẹt, không hợp với khung cảnh chung. Chữ viết lại xấu, chắc không tìm đâu ra các cụ thạo chữ Hán nên cứ viết đại cho xong, cốt có chữ vuông là được. 

       Đền Kiếp Bạc cũng không ra ngoài thông lệ đó.

       Đến như đôi voi đá đặt ở sân đền đhì lại càng khiến người ta ngao ngán. 

       Chúng trắng phếch như vừa được làm vội. Và thô thiển như một thứ hàng tầm tầm ta quen gọi là hàng chợ. Chắc do ai đó mới đặt để công đức cho đền.

       Di tích là của mọi người, ai cúng vào cái gì mà chẳng thấy quý? Song, trí nhớ tôi mách bảo một cách nghĩ khác: xưa, phải thứ chữ như thế nào mới được mang khắc ở đền chùa, cũng như đồ cung tiến nói chung phải tinh xảo sang trọng như thế nào mới được phép đặt vào những nơi tôn nghiêm. 

       Chỉ có tiền và mong muốn đóng góp chưa đủ.

       Người xưa hay gọi những nhà có của mà kém về khiếu thẩm mỹ là mấy anh trọc phú đâu có phải oan?   

       Ta hay tự hào nay là lúc việc thăm thú di sản đã trở thành một thuần phong mỹ tục. 

       Song sau những chuyến đi, tôi cứ thấy ấm ức thế nào.

       Hồi các di tích đang trong tình trạng tiêu điều còn thấy dễ chịu một phần, trong bụng nghĩ rồi sẽ có lúc mọi người chung lưng làm cho nó đẹp hơn, thiêng liêng hơn, nhiều ý nghĩa hơn. 

       Giờ đây hoạt động trùng tu diễn ra khắp nơi nhưng hình như bàn tay của con người chỉ còn đồng nghĩa với một sự can thiệp thô lỗ hoặc những đắp điếm giả tạo.

       Nhiều người cho rằng quản lý một danh lam thắng cảnh chẳng có gì khó, ai mà chẳng biết làm, và làm thế nào cũng được, trong khi thực ra công việc ở đây đòi hỏi người ta phải có nghiệp vụ riêng và, đằng sau cái chuyện nghiệp vụ đó, là sự hiểu biết kỹ càng về lịch sử cũng như một quan niệm chắc chắn về văn hoá. Càng đi càng thấy đấy là cái chúng ta đang thiếu và bởi nó, -- sự thiếu văn hóa ấy -- là quá phổ biến nên lại chỉ còn có cách tự nhủ rằng ao ước mà làm gì cho thêm tội nghiệp!

       Riêng trường hợp mấy cây đại, cùng đôi voi đá còn khiến cho tôi vân vi ra nhiều chuyện khác. 

       Mang hai hiện tượng đặt cạnh nhau, người ta thấy chẳng qua chúng là hai biểu hiện của cùng một quan niệm nó cũng là cách xử sự phổ biến hiện nay: 

+ không tách nổi cái ưu tú khỏi cái tạp nhạp làng nhàng; 

+ với cái thực có giá trị thì rẻ rúng chẳng coi là gì, còn với những cái tầm thường thì lại quá rộng rãi, để chúng tha hồ lấn lướt và leo lên cả những chỗ chúng không xứng đáng. 

       Ở đâu thì cách xử sự đó cũng là dở, song trong việc quản lý di sản nó càng tỏ ra bất cập. Bởi sau những tuỳ tiện như vậy, bao nhiêu thiện chí của người ta dù có cao vời đến đâu chăng nữa rồi cũng chỉ mang lại một hiệu quả...lùn tịt.


TẠI SAO CÓ NẠN CHÙA GIẢ?

                                                                                                              

        Khoảng từ những năm tám mươi lăm, tám mươi sáu trở đi, những người có dịp lên Đà Lạt đều biết một trong những địa điểm dạo chơi thú vị là Trúc Lâm thiền viện. Đó là một ngôi chùa mới dựng, song được đặt giữa một không gian thoáng đãng, có đồi cao, có khe nước rộng, bản thân kiến trúc ngôi chùa cũng được tính toán công phu, có cốt cách riêng. Hiện đại mà vẫn cổ kính, đáng được liệt vào danh mục các địa điểm phải ghé thăm khi đến Đà Lạt.

        Mỗi lần nhớ tới ngôi chùa này, tôi thường nghĩ: Thời đại chúng ta rồi cũng phải làm thêm ra nhiều công trình văn hoá mới, góp phần riêng của mình vào kho tàng danh lam thắng cảnh của đất nước. Chùa là một dạng công trình nên được nghĩ tới đầu tiên. 

       Điều trớ trêu là trong khi những ngôi chùa có giá trị văn hoá như thế chưa thấy đâu, thì nạn làm bừa làm ẩu đã hoành hành, nhiều “công trình” vừa xuất hiện, đã được gọi đích danh là hàng giả, mà một số chùa giả, động giả ở khu vực Chùa Hương chỉ là ví dụ.

      Ngay khi nghe nói đến nạn di tích giả, nhiều người đã lập tức lên án kẻ bất lương lợi dụng lòng hướng thiện chính đáng của mọi người để kiếm lời. Sự phản ứng đó là cần thiết và tự nhiên. Ở đây, tôi chỉ muốn đặt thêm ra vài câu hỏi.  Bên cạnh cái lỗi của những người làm chùa giả, động giả đó, đâu là cái lỗi của mỗi chúng ta? Đằng sau công việc thô thiển của người dân sở tại, đâu là cái quan niệm chung mà nhiều người chúng ta đã ngấm ngầm tán đồng và khuyến khích nó phát triển? Và tại sao việc đấu tranh để xoá bỏ các loại di tích rởm đó sẽ còn là vất vả trầy trật?


Trước sau rồi sẽ xảy ra!

    Không chỉ những người chuyên lo theo dõi việc bảo tồn và phục hồi di tích mà gần như mọi người đều biết rằng hiện đang có phong trào dân các địa phương thi nhau xin công nhận di tích, đưa chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ... nơi mình ở vào danh sách được Nhà nước xếp hạng.

   Ngoài miệng, hoặc trên giấy tờ, ai cũng lưu ý tới ý nghĩa văn hoá: khi các di tích mang lại cho địa phương một vầng hào quang vinh dự, nó chứng tỏ đây là đất địa linh nhân kiệt và người dân biết giữ gìn nếp cũ. Nhưng trong bụng thì từ các cấp có thẩm quyền đến người dân thường đều ngầm hiểu với nhau rằng khi một khu di tích đi vào hoạt động, tức là một địa điểm du lịch được khai trương, khách thập phương sẽ đổ về thăm thú, và một cơ may làm ăn sẽ đến với nhiều người. Không có báo chí nào điều tra, song ai cũng biết một bộ phận dân các vùng có di tích ít năm nay giàu hẳn lên, thu nhập từ việc chạy chợ bên cạnh di tích chắc chắn là cao hơn nhiều so với làm ruộng. Một khi “hơi đồng” đã bén, mấy ai còn nghĩ đến di tích như một địa điểm văn hoá nữa, mà chỉ còn biết xem nó như một mỏ tiền khai thác không bao giờ cạn kiệt (!).

     Nhưng như thế tức là ở đây, ngay từ đầu, trong việc đưa di tích đến với xã hội, yếu tố lập lờ nước đôi, nói một đằng hiểu ngầm với nhau một nẻo đã xuất hiện, và cái sự đi đêm ấy mở đường cho nhiều hoạt động giả dối tiếp tục nảy nở. Một quy luật của thị trường (nhất là thị trường ở Việt Nam, tồn tại theo kiểu Việt Nam) là dễ nảy sinh hàng giả. Những người có đi chùa Hương đều biết rằng có một món quà lưu niệm dân ở đây hay mang bán là phong lan. Như bản thân tôi, mấy lần mua phong lan ở đây về thì từng ấy lần bị lừa, cành nọ buộc tạm vào cành kia, đi một quãng là các mối buộc rời ra hết. Quà lưu niệm đã giả còn nói chi đến nước giải khát giả, kẹo bánh giả, rồi lá số giả, tờ sớ giả vẫn bán với giá cắt cổ.

     Cho qua mọi thứ của giả “lặt vặt” như thế, người ta có biết đâu mình đã góp phần nuôi dưỡng ý đồ làm chùa giả, động giả nó chín dần trong đầu óc những kẻ muốn “làm ăn lớn”.


Có sự góp sức từ cả hai phía

    Sự thiêng liêng bị pha tạp - có thể không sợ hàm hồ mà nói về phong trào đi hội hiện đang rầm rộ như vậy. Bên cạnh những người đến với lễ hội với tình cảm tôn nghiêm và có suy nghĩ, thì còn không ít người đi theo kiểu đua đả, hoặc ngấm ngầm tính chuyện cầu lợi, đặt việc cúng bái cao hơn mục đích tham quan và hiểu biết. Đã gọi đua đả tức ăn theo, học đòi, không có hiểu biết gì chắc chắn về mảnh đất mà mình bỏ công thăm viếng. Còn đi để xin lộc thì chỉ cần có chỗ thắp hương, và trình ra món lễ vật hậu hĩnh, còn chùa chiền hang động thế nào cũng được! Cả hai loại người này gặp nhau ở sự dễ dãi vô nguyên tắc. Bằng cách đó, họ trở thành miếng mồi ngon cho những kẻ kinh doanh đồ giả. Với tính nhạy cảm của kẻ sống bám vào di tích, đám người chuyên đứng ra làm công việc gọi là phục vụ người đi hội này hiểu rằng đối tác của mình chẳng có gì đáng trọng, đứng trước di tích, họ chỉ thuộc loại gà mờ, dễ bị bịp. Nói ra thì hơi quá, song suy cho cùng, phải thấy sự dễ dãi và kém hiểu biết của dân đi hội đã là một sự mở đường, sự tiếp tay để một số người ở địa phương đi xa mãi trong hành động giả dối trục lợi.


Tìm đâu khả năng từ chối  

    Thế nhưng, trước việc một niềm tin thiêng liêng bị xúc phạm, một số người lại có thái độ hờ hững đến khó hiểu. Đại khái, chúng ta chỉ hiện ra như một kẻ nhẹ dạ và vô trách nhiệm: lơ đãng nghe bằng nửa tai. Mỉm cười, chẳng ra vẻ tán thành mà cũng chẳng phản đối. Coi như chuyện “bình thường”, chuyện không có gì phải làm ồn lên. Tiếp tục tò mò vào xem thứ hàng giả ấy ra sao rồi cười thầm và khuyên người khác cũng nên vào xem cho vui. 

     Đến như cái chuyện cúng bái thì cách giải quyết mới lại thật giản dị: nghĩa là nghĩ bụng đã mang đồ lễ đến đây thì chẳng nhẽ mang về, âu là gặp chỗ thanh vắng, ít người chen chúc, hãy hoá giải như đã định, biết đâu gặp giờ thiêng, trời phật lại phù hộ! Thế là khôn ngoan ở những đâu, đến đây người ta chỉ còn là những kẻ lành hiền, nhẫn nhịn. 

     Khỏi phải nói, sự thờ ơ cũng như việc thiếu khả năng từ chối như thế của khách thập phương chỉ làm cho việc triệt phá hàng giả và lập lại trật tự khốn khó bội phần, thậm chí, đã có người dự đoán “để lâu... hoá bùn”, không biết chừng rồi ra có lúc hàng giả lại thành hàng thật!

     Điều đáng nói thêm ở đây là cái cách phản ứng nhẹ nhàng như trên chẳng qua chỉ là dấu hiệu của một căn bệnh nặng nề hơn: tình yêu của chúng ta với di tích chùa chiền hang động... chưa phải là thứ tình yêu bền chặt dựa trên một sự hiểu biết sâu sắc. Nhất là ta chưa có yêu cầu cao về tính thuần khiết, tính nguyên bản của chúng. Ta dễ dãi với người bởi ta dễ dãi với mình. Sự thờ ơ với cái giả chỉ là một biến tướng của sự thờ ơ với cái thực mà hàng ngày chúng ta giấu kín và che phủ bên ngoài bằng những lời lẽ hoa mỹ.











 HÀNG GIẢ VẪN ĐƯỢC ƯA THÍCH


        Ngay giữa phố phường Hà Nội, nếu để ý thỉnh thoảng người ta vẫn bắt gặp những ngôi đền nhỏ. Từ 1986 về trước, loại đền này thường coi như bị bỏ quên và thoi thóp sống trong cái vỏ mốc meo. Gần đây, nhiều đền miếu loại đó được sang sửa. Tường quét vôi vàng. Hàng chữ trên cổng được tô lại cẩn thận. Bạn có biết người ta viết gì không: Toàn những tối linh từ (Ngôi đền linh thiêng hạng nhất) với lại thượng đẳng từ (ngôi đền loại cao cấp).

         Lại nhớ có lần xem TV thấy nhà đài đưa máy đến quay một ngôi đền lâu ngày đã hoang vắng và chỉ vừa mới được tu sửa lại. Máy quay cảnh phóng viên trò chuyện với người dân địa phương. Hỏi đền xây tự bao giờ? Không ai biết. Hỏi đền thờ ai? Cũng không biết nốt. Chỉ có điều hai vị lão nông suýt soa, với giọng có vẻ bí hiểm:

     --- Nhưng mà đền chỗ chúng tôi linh thiêng lắm, từ bao đời nay các cụ chúng tôi vẫn truyền tụng lại như vậy. 

       Tôi cứ nhớ mãi chuyện này vì nó đang là một cách nghĩ phổ biến: Nhiều người bị cái danh vị nó ám. Tức là trước một sự việc ta thường chỉ thạo cái khoản ý nghĩa. Còn như chính cái việc ấy ra sao thì ta không biết và giá biết rằng nó hoàn toàn không tương xứng với cái danh kia thì cũng lập tức đánh cho hai chữ đại xá. 

        Đọc lại tạp chí Tri tân, in ra khoảng 1940-1945, có lần tôi bắt gặp một bàì viết, cũng liên quan đến thói ưa tiếng hão của dân mình. Thay cho chữ hiếu danh, nhà nghiên cứu Hoa Bằng gọi đó là cái óc hiếu thượng.

        Ông viết “Cái hiếu thượng của số đông người mình đã lộ rõ ở từ ngôn ngữ đến cử chỉ, từ hành vi trong gia đình đến động tác ngoài xã hội. Người ta chơi câu đối? Phần đông không phải vì thích chữ tốt yêu văn hay, nhưng vì muốn sĩ diện ở mấy cái lạc khoản có chức tước. Người ta in danh thiếp? Không phải vì cốt thông tính danh, tỏ địa chỉ, song hình như chỉ cốt trưng những chức sắc, tước trật, và phẩm hàm. Người ta đăng cáo phó? Có lẽ ít vì cốt để báo tang, nhưng phần nhiều cốt để lợi dụng cái chết của ông bà cha mẹ mà quảng cáo cái danh phận của con cháu…”

        Thế mới biết cái tiếng hão nó tác oai tác quái ở mọi nơi mọi chỗ! 

        Trong sinh hoạt hàng ngày thì thói ưa tiếng hão có vẻ là một căn bệnh dễ tha thứ. Người ưa tiếng hão vốn hiểu mình chẳng ra sao, nên phải bịa ra một tí danh tiếng cho cuộc sống đỡ tủi. 

        Điều đáng buồn là đã có những lúc nó ăn vào trong tâm lý của những con người chịu trách nhiệm cả những việc phải gọi là đại sự. 

        Dư luận gần đây bàn tán nhiều về cái đề án đào tạo 20.000 tiến sĩ của ngành giáo dục. Đề án được tung ra trong hoàn cảnh cả xã hội đang phát sốt về tình trạng lạm phát tiến sĩ rởm thời gian qua. Người ta tìm thấy ở đó một kết luận khái quát rằng chắc chắn năng lực của ngành không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của hội nhập và phát triển trong thời gian tới.

        Tại sao đã biết không thể làm rồi mà vẫn tính chuyện chạy theo mục đích quá cao như vậy? Thật dễ thông cảm với tâm lý người trong cuộc. Phải trình ra cho mọi người thấy mình có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ. Phải chứng tỏ là tình hình ngày mỗi sáng sủa hơn. Rồi lại còn nhu cầu đối ngoại nữa chứ. Thời buổi hội nhập này lúc nào chẳng phải đón đủ các loại khách quốc tế. Phải làm thế để cho thiên hạ thấy mình cũng đang rất bảnh. Anh có tiến sĩ ư, tôi cũng tiến sĩ, kém cạnh gì đâu? Ở chỗ riêng tư nhiều người hẳn biết cái tiếng hão này cũng hấp dẫn lắm và do đó khó cưỡng lắm!

        Có điều hãy thử cùng nhau nghĩ lại: Thế tức là nhân danh những mục đích tốt đẹp, chúng ta bằng lòng với việc làm hàng giả, và mở đường cho những sự giả mạo khác tiếp tục phát triển.

        Đến đây thì cái sự ham tiếng hão không vô can và đáng thông cảm nữa!     


         CHỐNG THAM NHŨNG KIỂU CHÍ PHÈO


        Trong các chương trình địa lý mà bọn tôi học hồi còn quàng khăn đỏ thường có câu đất nước mình rừng vàng bể bạc. Những năm sau hòa bình, tin tức về các mỏ than thường in trang nhất trên các cột báo. Còn hiện nay, nhớ đến các vùng mỏ là tôi nhớ tới khai thác theo lối thổ phỉ. Vài cái lều như lều vịt được dựng lên. Rồi từng bao tải con con được buộc sau xe đạp và chuyền tay từ xe nọ sang xe kia. Trên nền của một vùng đất hoang sơ, con người sao mà bé nhỏ thảm hại! 

        Đó là những tin tức đúng với cả các mỏ thiếc măng gan ở Cao Bằng, mỏ cơ- rôm ở Thanh Hóa cho đến các mỏ sắt ở Trại Cau Thái Nguyên.

       Mùa hè 2004, có dịp nghỉ ở Sầm Sơn, tôi được nghe một cậu xích lô giải thích về tình trạng đường xá ngổn ngang ổ gà khấp khểnh: “Có gì lạ hả bác, ban ngày giao thông vừa đổ cát sỏi ra đường, thì đêm dân họ ra họ hót về xây nhà xây sân, đâu mà còn vật liệu làm đường”.  

       Còn việc sau đây thì xảy ra ở Hải Phòng: một cây cầu mới xây ở bị bà con mình tháo nậy cả ốc vít, bù loong, để mang bán đồng nát.

       Những phản ứng này mang tính chất thách thức cả pháp luật như thế này rõ ràng cách phản ứng tự phát của người dân. 

      Điều đáng nói là ta hãy nghe họ lý sự:

  -- Không ăn thì mấy ông chính quyền cũng ăn.

  -- Các ông ấy ăn nhiều chứ mình được mấy

      Thì ra họ phản ứng. Họ chống tham nhũng và quản lý kém bằng cách thêm một tay đẩy nhanh cái quá trình tiêu cực ấy.

      Mà đây không phải chỉ là những phản ứng vặt.

      Có khi nó là phản ứng chi phối cả một cách sống.

      Vụ thi cử nào cũng kèm theo bao tai tiếng. Dẫu vậy, trong nhận thức của nhiều người tôi quen, so với những vụ PMU 18 hoặc Vietnam Airlines, hoặc Vedan...thì những bê bối trong ngành giáo dục thường được xem là chả thấm thía gì. Nói chung, người ta dễ thông cảm với chuyện mấy ông chính quyền địa phương dung dưỡng cho các trường “tùy nghi” trong thi cử; người ta lại càng dễ bỏ qua cái chuyện mấy bậc cha mẹ học sinh xông vào tận trường thuê người giải bài rồi ném đáp án cho thí sinh.  Đó là không kể những cuộc chạy đôn chạy đáo xoay sở chuẩn bị cho con vào đời. Hình như trong muôn vàn thứ tội hối lộ, cái chuyện hối lộ để con cái có được mảnh bằng là dễ tha thứ nhất.

     Tại sao lại có tâm lý như vậy? Ở đây lý do chủ yếu là chúng ta quen nghĩ gần, chỉ xem cái gì dính đến đồng tiền mới đáng bàn và chỉ có việc trước mắt ai cũng trông thấy mới là việc lớn. Tuy nhiên, tôi nghĩ đến một lý do sâu xa hơn: với nhiều người dân thường, nay là lúc hiện tượng tham nhũng đầy rẫy ấy là bất khả kháng. Vậy thì chỉ có một cách tốt nhất để đỡ thiệt là họ cũng phải được tham dự vào cái bộ máy quan liêu đang hái ra tiền. Mà làm gì có phép màu nào khác, ngoài cách kiếm cho con cái các loại bằng cấp danh hiệu. Rồi chịu khó xuất ít vốn mua chức vụ, từ đó len dần vào bộ máy, để có cơ hội tham nhũng như ai. Tham nhũng rồi sẽ hoàn vốn, người ta ngấm ngầm rút kinh nghiệm. Và không hẹn mà nên nhiều người đã gặp nhau ở cái “ý tưởng lớn” đó. 

      Đọc trên một số tờ báo, thấy nói các cuộc đình công trên toàn quốc đã lên đến con số hàng ngàn. Và trên diễn đàn Quốc hội, khi bàn về luật lao động các đại biểu có xu hướng muốn xem việc đình công này là một phản ứng tự nhiên, có sự tranh chấp không thỏa đáng thì phải có đình công, không thể vì cớ “bảo đảm yêu cầu quản lý, yêu cầu ổn định” mà xem cuộc đình công nào cũng là bất hợp pháp.     

     So với cách phản ứng trực tiếp bằng đình công của công nhân, thì cái cách bà con “nhẫn nhục chung sống với bất công” “lấy tham nhũng nhỏ để chống tham nhũng lớn” mà tôi thử miêu tả trên đây rõ ràng mang tính cách tiêu cực. Nói nôm na tức là cách “chống tiêu cực” ấy có vẻ Chí Phèo và nó gây hại ngay đến cả người trong cuộc, nó hạ thấp người ta xuống -- hẳn có người sẽ phê phán. Vâng, tôi cũng biết vậy, chẳng qua ghi lại ở đây để muốn lưu ý rằng đạo đức và lối sống của toàn xã hội là có liên quan đến nhau. Nếu trước một việc xấu chúng ta xử phạt không nghiêm, thì không chỉ gây hại trước mắt mà còn để lại nhiều di lụy ngoài ý muốn. Cái tốt gọi cái tốt, còn như cái xấu lại gọi cái xấu bùng phát theo, xưa nay bao giờ chẳng vậy!





















NẾP SỐNG LÀNG QUÊ

GIỮA LÒNG PHỐ XÁ

                                                             

Thói quen khó bỏ 

Từ khoảng giữa những năm chín mươi, mỗi tối giao thừa, Hà Nội có đỡ ồn vì tiếng pháo. Nhưng vào dịp một năm cũ qua đi một năm mới bắt đầu, người đi quanh Hồ Gươm hái lộc vẫn tấp nập nhộn nhạo. Và sáng mồng một, ai có dịp đi vòng quanh hồ, vẫn nhận ra vài ngọn cây bị vặt trụi.

Vượt lên câu chuyện văn minh, lịch sự (và hơn nữa, chuyện vi phạm pháp luật), việc bẻ cây hái lộc còn nên xem như một biểu hiện của nếp sống nông thôn tồn tại dài dài trong tâm thức người Hà Nội. Tại sao nói vậy? 

So với văn hoá thành thị thì văn hoá nông thôn vốn có một đặc tính khác hẳn là gần tự nhiên. Ở đây, người ta mặc nhiên cho rằng thiên nhiên là một thứ của kho vô tận, khai thác không bao giờ cạn kiệt, nên không ai cần nghĩ tới việc giữ gìn. Chỉ ở thành thị, cây cối lớn lên do bàn tay con người vun xới, chuyện xâm phạm tới chúng - dù với bất cứ lý do gì - mới bị coi là câu chuyện đáng trách.

Nói cho thật tình, không phải nhiều người Hà Nội hôm nay không biết rằng cái căn cốt nông thôn vẫn còn chi phối suy nghĩ hành động nơi mình. Song phần thì cuộc sống nhiều khi quá túng bấn, nên tặc lưỡi làm liều; phần thì thói quen không thể khắc phục, nên biết làm thế là quê mùa đấy, cũ kỹ đấy, mà vẫn cứ làm.

 Người ta sóng đôi, sóng ba xe đạp nghênh ngang tận giữa lòng đường nói bô bô đủ chuyện riêng tư, bất chấp cạnh mình các loại xe cơ giới bóp còi inh ỏi. Người ta hồn nhiên biến vỉa hè thành địa điểm hành nghề, nhiều nhà dọn cả hoả lò ra để đun nấu và nói chung là sẵn sàng mặc các thứ quần áo đáng lẽ chỉ mặc trong nhà để qua đường, mua phở, mua thuốc. Rồi gì nữa? Rồi thấy đám quệt xe đâm đổ hoặc cãi nhau thì xúm đông xúm đỏ bàn tán, rồi chuyện gì cũng mang ra đồn thổi, vừa đồn vừa thêm dấm thêm ớt vào cho vui chuyện... Mọi chuyện diễn ra đều đều, ai có bực mình cũng ráng mà chịu. 


Một sự sùng bái kéo dài

Như các nhà nghiên cứu lịch sử từng khái quát “quá trình đô thị hoá ở nước Việt Nam đã diễn ra một cách khó khăn”, “các đô thị cổ không có sự phát triển liên tục”, chúng luôn luôn “chịu sự níu kéo đa dạng và dai dẳng của nông thôn”. Nói cách khác, “luôn luôn chịu số phận thua kém trong quan hệ cộng sinh với nông thôn” (sách Đô thị cổ Việt Nam, Viện Sử học xuất bản, Hà Nội 1989). Tóm lại, “một điểm nổi bật trong lịch sử đô thị Việt Nam là tất cả những đô thị kinh tế... đều hưng thịnh rồi lần lượt suy tàn và nông thôn hoá” (cũng sách trên, bài của Nguyễn Hồng Phong).

Bên cạnh chính sử, các tài liệu bổ trợ như hồi ký, du ký của người đương thời cũng cho biết: ngay đến thời vua Lê chúa Trịnh, nhiều dòng họ khi làm quan hay cần buôn bán, kéo nhau lên đô thị, song sống vẫn theo kiểu tạm bợ, và sẵn sàng quay về nông thôn một cách tự nguyện. Như vậy thì đô thị luôn luôn là một thứ điểm tụ cư tạm thời, khó hình thành được bản sắc rõ rệt, nếu không muốn nói đến cái bản sắc nhố nhăng hỗn tạp. Cực chẳng đã, nhiều dòng họ phải ở lại đô thị lâu dài, song vẫn không khỏi có chút mặc cảm. Xảy ra một tình trạng lưỡng phân: một mặt họ phải thích ứng với hoàn cảnh mới, phải tận dụng các tiện nghi sinh hoạt mới du nhập, nói chung là phải tự phát hình thành một nền nếp văn hoá mới; mặt khác, họ vẫn lưu luyến cội rễ, nhất là vẫn xem văn hoá nông thôn như một thứ mẫu mực. Với những lề thói sẵn có từ thời còn sống ở nơi chôn rau cắt rốn, người ta tự nguyện tuân theo, chỉ cái nào không thể giữ nổi mới từ bỏ. Và việc trút bỏ này dù liên tục xảy ra, thì vẫn là không bao giờ đi đến tận cùng; những nếp sống xa xưa được bảo trì và trở nên bền vững, di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Tình trạng dang dở nói trên ăn vào trong mọi mặt nếp sống của người đô thị cho đến hôm nay. Vào nhiều gia đình, không cần tinh ý lắm, người ta vẫn bắt gặp tình cảnh bố mẹ nói tiếng địa phương, còn con cái nói tiếng “kẻ chợ”. Tiếng nói thủ đô trở nên pha tạp, hỗn độn, như nói chung cung cách sống, khẩu vị ăn uống, cách đi lại, cách cư xử đã pha tạp và không thể hình thành nổi những chuẩn mực chắc chắn như những năm thanh bình ngày trước.

Công bằng mà nói, một thành phố như Hà Nội trước 1945 có thể trở thành một thủ đô đích thực về mặt tinh thần của cả xứ Đông Dương, lý do là vì nó luôn luôn thu hút được những tài năng ở vùng khác kéo tới. Nhìn vào số trí thức tiêu biểu ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20 như Tản Đà, Nguyễn Văn Tố, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Phan Chánh... người ta thấy phần lớn họ vốn quê ở “tứ tỉnh đàng trong, ngũ tỉnh đàng ngoài”, và một khi do hoàn cảnh xô đẩy mà lên lập nghiệp ở Hà Nội, một số trong họ sẽ diễn lại cái công thức Nguyễn Huệ - Ngọc Hân khi xưa, nghĩa là sẽ kén vợ trong đám người đẹp ở thủ đô, để rồi làm nên những gia đình Hà Nội lịch thiệp, sang trọng. Và như vậy, đã có một sự kết hợp tuyệt đẹp mà trong sự kết hợp này, vai trò chủ đạo vẫn thuộc về yếu tố sở tại. Người các địa phương lên Hà Nội lúc bấy giờ đã lấy Hà Nội - đúng hơn, lấy nếp sống thành thị - làm chuẩn, họ có ý thức uốn mình sống theo kiểu Hà Nội hơn là giữ lấy chất nông thôn sẵn có. Ngược lại, do chỗ xu thế này chưa trở thành yếu tố chủ đạo trong tâm thức những người lên Hà Nội thời gian gần đây -- và người ta còn có thể nói tới một cái gì gần như sự sùng bái nông thôn ngự trị tận trong tiềm thức cả người Hà Nội mới lẫn người Hà Nội cũ -- nên Hà Nội có trở thành như hôm nay, cũng không ai lấy làm lạ.


“Hãy đợi đấy!”

“Làm thế nào để nếp sống thủ đô trở nên nhuần nhị hơn và văn hoá Hà Nội thật sự là một thứ văn hoá đô thị với nghĩa tốt đẹp của nó?”. Cuối cùng thì ai cũng thấy câu trả lời chả có gì phức tạp, song muốn làm được ngay thì... hãy đợi đấy! Bởi một nếp sống văn hoá không chỉ hình thành trên cơ sở nhận thức - là điều nếu có, may ra có thể - mà còn phải biến thành tiềm thức, thói quen, đến mức không chút cố gắng, người ta cũng làm được. Muốn vậy, phải mất nhiều thời gian lắm.

Khổ một nỗi, trong khi người Hà Nội chưa đủ sức nâng mình lên, thì dân các vùng nông thôn chung quanh lại như là vẫn muốn kéo Hà Nội xuống, và đây mới thật là chuyện “hai lần thương khó”. Có một lẽ công bằng mà không luật pháp nào quy định, song ai cũng thấy phải, ấy là Hà Nội chỉ trở thành đô thị thực thụ nếu nó có thể góp phần giúp cho cuộc sống các vùng chung quanh ngày một ổn định, người dân nông thôn thu nhập khấm khá tới mức nhìn về bà con của mình ở thành thị với con mắt thiện cảm và yên tâm ở lại quê hương “phục vụ” Hà Nội. Nhưng “ốc chưa mang nổi ốc” thì “làm cọc cho rêu” sao được?! Trước mắt, người dân Hà Nội vẫn còn đương phải dựa vào cái ưu thế gần nông thôn của mình để cuộc sống đỡ nặng nề đôi chút, thế mới oái oăm khó gỡ. Lấy một ví dụ: từ lâu, Hà Nội vốn nổi tiếng với các loại hàng rong len lỏi khắp ba mươi sáu phố phường. Vào những ngày này, khi đoàn quân những xe Honda, Dream... hùng hậu nối đuôi nhau trên các ngả đường, thì đội quân hàng rong vẫn nhẫn nại dệt nên tấm võng khổng lồ ngày ngày chụp xuống mọi ngóc ngách Hà Nội. Không chỉ rau cỏ mắm muối mà cả chum vại, cây cảnh và hàng trăm mặt hàng lặt vặt khác đã đến với người dân thủ đô qua đôi vai (hoặc xe đẩy, xe đạp) của người bán rong, phần lớn là những người ven đô, và những người của các tỉnh xa đến kiếm sống. Nhìn mấy chị xe thồ hai bên hai cái sọt to bự nghênh ngang giữa đường, kể ai mà chẳng ngán. Nhưng bù lại, họ mang hàng đến tận nơi mời chào, và đôi khi giá lại rẻ nữa, hỏi tội gì không mua? Ấy đấy, trong khi luôn miệng ta thán rằng cái thành phố của mình chẳng khác làng quê, thì người dân Hà Nội vẫn từng ngày từng giờ góp phần làm cho cái nếp sống thôn quê bắt rễ sâu hơn trong đời sống hằng ngày, nên thay đổi nhanh làm sao nổi./.

             


                                                                                      

NHỮNG SỰ DANG DỞ

                                                                                  

      Xóm tôi đang ở còn vắng xe cơ giới qua lại, nên nghe rõ mỗi tiếng rao của từng người bán hàng rong. Mà người bán hàng đi đều lâu ngày thành quen, nghe giọng biết ngay đó là ai. Nên buổi trưa hôm ấy, cũng cái câu Ai bánh mì bánh chưng bánh giầy nóng đây nhiều người đã rao, mà nghe cứ thấy lướng vướng là lạ. Thì ra một giọng rao hàng mới. 

   -- Lại thêm một người mới bỏ quê lên Hà Nội để bổ sung vào đội quân nhập cư.

      Nhân đây lại ngồi nghĩ lan man về dân các tỉnh lên đô thị.

       Cho tới đầu thế kỷ XX, dân ta còn bị nhận xét là chỉ ru rú xó nhà. Người ở nông thôn ngại đi xa và đi đâu cũng mang bộ mặt “ngơ ngẩn như nhà quê ra tỉnh”. Trải qua Cách mạng và kháng chiến, đến thời làm ăn kinh tế hiện nay, người ta đã đến với các đô thị với một tâm thế khác. Họ cảm thấy mình có quyền có mặt ở đây. Buổi sáng nhìn các đoàn xe đạp rầm rập qua cầu Long Biên hoặc xe máy rú ga lên dốc cầu Chương Dương, có cảm tưởng đô thị là một con mồi lớn để họ tha hồ tung hoành kiếm ăn. Tự tin. Hào hứng... 


       Để công bằng, phải nói ngay là người từ nông thôn lên nhiều một phần là do yêu cầu của chính các đô thị. Kinh tế phát triển nghĩa là thiếu hụt sức lao động, nhất là các loại lao động đơn giản. Sự có mặt của đám nhân công rẻ đã thúc đẩy cho công cuộc làm ăn xây dựng của thủ đô thêm sôi động. Bao nhiêu gia đình Hà Nội đã dựa vào những ô- sin thuê với giá rẻ để làm ăn buôn bán. Bao gia đình có thêm người phục vụ cơm nước. 

      Có điều nếu như tự phát là đặc điểm lớn nhất của nhiều hoạt động ở ta hiện nay thì nó cũng là đặc điểm của quá trình đô thị hoá mà chúng ta thử tách mình ra quan sát. 

     Ở các nước khác, người nông thôn lên phần lớn để vào các nhà máy. Ở ta nông dân lên đô thị là để đổ ra đường buôn bán nhỏ. Những đôi quang gánh vẫn còn, nay lại được bổ sung bằng những chiếc xe thồ với hai sọt thồ lù lù trên đường làm cho Hà Nội có cái vẻ một phố huyện tấp nập nhưng lộn xộn.          

     Cái sự đô thị hoá tự phát, đô thị hoá dang dở không trọn vẹn này thật ra là một đặc điểm của lịch sử. Tôi nhớ tới một số làng ở vùng quanh Hà Nội. Dân không còn làm ruộng mà thường làm đủ các nghề. Mỗi nhà chỉ còn một khoảng diện tích rất hẹp. Chẳng còn là làng nhưng cũng chẳng ra phố. Con ngài không thoát khỏi cái vỏ dày để bay lên thành con bướm. Sự dang dở đó nay được nhân lên, nhưng cốt cách vẫn không khác.

      Nhìn những người dân với mớ cây cảnh sau xe đạp đi bán rong, tôi cảm thấy phải gọi họ là một thứ cây ghép nửa quê nửa tỉnh mới đúng. Vì chỉ tối họ mới quay về lấy hàng, còn như suốt ngày lang thang khắp mọi phố xá, xó xỉnh nào cũng biết. Giá có công nghiên cứu, có thể ngồi phân tích ra cái gọi là một quá trình biến chất xảy ra ở họ dần dà mỗi ngày một ít. 

        Nhiều người nông thôn lên đô thị đang là một thứ cây ghép như vậy!

        Nhưng chính đô thị cũng lại là một dạng lai ghép.

       ...Chúng tôi là cánh ít tiền, nên có rủ nhau đi ăn trưa, thường cũng chỉ vào các cửa hàng cơm bụi. Một đặc điểm của các cửa hàng loại này là không chỉ bàn ghế đồ đạc mà người phục vụ cũng xuềnh xoàng, trông qua biết ngay là dân các tỉnh lên Hà Nội làm ăn. Nhưng một anh bạn tôi bảo: 

      -- Ông nhầm. Cả các cửa hàng ăn xịn cũng vậy. Chẳng qua, người lên trước người lên sau, với lại bọn chủ có chịu chi tiền may mặc cho nhân viên hay không thôi. Chứ ngay như các cửa hàng đồng hồ với cửa hàng vải trên phố Hàng Đào thì dân đứng bán nhiều khi cũng là dân các tỉnh.

     Tôi cố gặng:

     -- Tức là chúng ta không bao giờ được người Hà Nội chính hiệu phục vụ.

     Anh bạn ra chiều thạo đời: 

     -- Tất nhiên rồi. Nay là thời không còn cái gì thuần nhất. Đến các giống lúa nổi tiếng ngày xưa cũng không còn thuần chủng, lấy đâu ra người thuần chủng. Nói vô phép nhé, chính đám người đi ăn cũng có phải Hà Nội chính hiệu đâu, mà đòi người Hà Nội chính cống phục vụ. 

     Thôi thì hãy tạm bằng lòng với một thứ đô thị nhôm nhoam, đô thị luôn luôn dang dở không bao giờ thuần nhất vậy! 












TƯƠNG TỰ NHƯ QUẤN LỐP XE



Ngoài việc thông báo tình hình nắng nóng lũ lụt, các bản tin thời tiết còn hay nói tới nạn cháy rừng.

      Với đám dân thành phố chúng tôi những lần chứng kiến các cảnh ấy quả thật thấy buồn. Đã buồn vì rừng bị cháy lại càng buồn vì những chậm trễ trong việc dẹp các đám cháy.

      Tôi không biết rõ lắm, nhưng vẫn nhớ là ở các nước công nghiệp, người ta có nhiều phương tiện khá hữu hiệu.

      Đằng này ở mình thì sao? Ngao ngán nhất là một lần trên màn ảnh thấy cái cảnh chữa cháy ở Kong Tum. Vòi rồng không có. Nước không có. Mấy ông bảo vệ tay chỉ có cành cây bẻ vội để xông vào với lửa.

      Thế thì còn kiềm với chế gì nữa!

      Có một câu tục ngữ khuyên răn về việc sử dụng công cụ để giải quyết sự cố: “Đừng dùng dao mổ trâu để cắt tiết gà”.

       Nó rất thích hợp trong nghề văn chương của tôi, nơi người ta hay thi nhau đao to búa lớn trong những cuộc tranh cãi lặt vặt.

      Đằng này trong đời sống, tôi cảm thấy một tình hình ngược lại: luôn luôn chúng ta phải dùng dao cắt tiết gà để mổ trâu.

     Việc sử dụng những công cụ chữa cháy trên những cánh rừng mênh mông như trên là ví dụ.

     Và cố nhiên là còn thấy ở nhiều lĩnh vực khác.

     - Thứ nhất là câu chuyện ứng phó trước các bệnh dịch, từ cúm gia cầm tới lợn tai xanh. Cơn dịch bùng phát như những cơn bão. Báo chí đưa tin ở huyện nọ heo chết mang trôi sông, cả quãng sông dài ba chục ki lô mét ngập xác lợn. Lúc bấy giờ huyện tỉnh mới biết và phát thông báo có dịch. Còn biện pháp để chạy chữa thì nhỏ giọt.

     - Thứ hai là tình hình lạm phát gần đây. Giá cả leo thang. Đến gói xôi bát phở ăn sáng giá cũng tăng, chứ đừng nói những thứ to lớn hơn. Mà cách kiềm chế xem ra cũng đơn sơ lắm.

     Theo sự tường thuật của báo Tiếng nói Việt Nam số ra ngày 29-3-05, tại một cuộc hội thảo, một nhà nghiên cứu tài chính cho rằng chúng ta thường chỉ biết giải quyết ở tầm vi mô, như khi cái chăn rách đi vá từng lỗ thủng một, chứ chưa tính được xa hơn.

     Nói chung chỉ thấy những cam kết duy ý chí, những quyết định hành chính, chứ các nhận thức ở tầm vĩ mô và các công cụ quan trọng kèm theo, thì chưa khởi động.

Bảo chẳng khác gì bẻ cây dập lửa cháy rừng, hoặc dùng dao cắt tiết gà để mổ trâu, e cũng không phải quá.


Con người cổ lỗ phương tiện cổ lỗ

     Khi bàn về cái sự kiềm chế lạm phát này, cũng ông tiến sĩ tài chính nói ở trên còn đưa ra một hình ảnh thú vị khác. Ông bảo cái cách ta xử lý nền kinh tế hiện nay là kiểu “quấn lốp xe đạp.”

      Chuyện này bây giờ các bạn trẻ ít người biết và đám người tuổi từ sáu mươi trở lên may ra mới nhớ, vậy tôi xin phép nhắc lại.

      Hồi chiến tranh ngay ở Hà Nội chứ đừng nói nông thôn hay tỉnh lẻ, cái gì cũng thiếu. Ví dụ như bút bi, ngay dân viết lách chúng tôi cũng dùng theo định mức, sau khi dùng hết một lượt ruột, chúng tôi phải nộp cơ quan cái ruột rỗng, thì mới được nhận ruột mới.

     Nếu dùng quá tốn, vượt mức cơ quan cung cấp thì phải ra phố bơm lấy. Có nhiều cửa hàng chuyên bơm mực như vậy.

     Hoặc như cái chuyện lốp xe. Phương tiện đi lại hồi ấy chủ yếu là xe đạp, mà săm lốp rất khó kiếm. Lốp phân phối về cơ quan. Vài chục người mới được một chiếc. Công đoàn đứng ra tổ chức bình bầu hoặc rút thăm.

     Khốn nỗi có phải lốp Sao Vàng lúc ấy cái nào cũng tốt như cái nào đâu. 

     Nhận lốp về có thấy cái cong cái vênh cũng bấm bụng chịu.

    Thế còn khi lốp xe quá hỏng, mà không được bình bầu, thì làm thế nào? 

    Có hai cách.

    Một là ra các cửa hàng chữa xe đạp, nhờ các bác ấy đắp lại.

    Hai là - trong những lúc vội và chưa có tiền - nhiều người phải có lối dùng những sợi dây cao su quấn chung quanh.

    Lốp được đắp lại cố nhiên khá hơn. Còn quấn tạm thì khổ lắm.

      Đi trên đường phẳng mà xe cứ giật giật như trên đường mấp mô. Tốc độ chậm một cách khó chịu.

     Nhưng thôi quấn lại lốp đi tạm còn hơn lẽo đẽo đi bộ, - không phải một người mà hầu như tất cả dân cán bộ èng èng cấp thấp ở Hà Nội lúc ấy đều tự nhủ như vậy.


Một chút dư vị

     Bây giờ bạn đọc hẳn đã có cách đánh giá của mình với cái hình ảnh mà vị chuyên gia tài chính kia đưa ra và từ đó hình dung cái khó của chúng ta trong việc chống lạm phát trên bề rộng.

    Nói mãi chuyện buồn tôi muốn tiếp tục câu chuyện bằng một chi tiết vui vui, liên quan đến cháy rừng.

    Lần ấy, một xã của huyện Tương Dương Nghệ An có rừng bị cháy. Xã mãi mới biết, và tổ chức cứu hộ cũng quá chậm. Huyện thì chỉ lo tin loang ra mang tiếng, dặn kỹ là đừng làm to chuyện. Bốn ngày mới dập tắt. 130 héc – ta rừng bị mất đứt. 

    Cụ già có lỗi ngồi hối hận. Đám thanh niên thì chỉ bàn nhau có đôi rắn chạy ra đường, chắc đã thành những cặp thịt chín vàng, giúp cho đám bợm rượu thêm khoái khẩu khi đánh chén.














KHEN THƯỞNG

CŨNG PHẢI TRỞ THÀNH VĂN HÓA


     Theo dõi những đợt thể thao Việt Nam thi đấu với nước ngoài, tôi thường buồn vui lẫn lộn. Mừng vì thấy mình có dịp cọ xát học hỏi. Nhưng buồn vì nhiều lẽ. 

     Buồn một phần vì trình độ của mình còn quá non so với khu vực và quốc tế. Mà còn buồn vì người mình đang bị tâm lý ăn thua chi phối và cái cách mình động viên nhau để đạt được ít thành tựu nhiều khi nó tầm thường thô thiển quá. 

     Nói cụ thể là đáng lẽ trước khi thi đấu phải lo đầu tư chuẩn bị kỹ lưỡng và đánh giá đúng thực chất của mình, thì với nhiều người, điều quan trọng nhất lại là chạy giải thưởng để tạo ra một cú đột phá. Họ ngầm bảo: cứ treo giải thật cao, rồi việc gì cũng làm được. 

    Trong một cách nghĩ như vậy, thấy có sự nông nổi, dễ dãi. Nhất là thấy có sự cầu may, thiếu tự tin, tự đặt cho mình những yêu cầu quá cao để rồi làm khổ mình, khi thất bại lại giãy giụa đau đớn. Riêng với những vận động viên thể thao thì đã nảy sinh tâm lý vòi vĩnh, mặc cả. Một hoạt động lành mạnh như thể thao, với nhiều người trở thành một cú làm ăn, một vụ đánh quả, chứ không phải nơi rèn luyện tài năng và ý chí. 

     Chẳng những thể thao lo thưởng mà ở đâu cũng thấy có chuyện giải thưởng. Đố vui. Mua hàng. Chọn bài hát. Đoán người trúng giải…Cứ muốn thu hút người ta vào một việc gì đó cho thật đông vui là thấy bày ra giải thưởng. 

     Và tôi cảm tưởng lúc nào một bộ phận xã hội cũng như trong cuộc đỏ đen cờ bạc. Lúc nào cũng chen chúc ồn ào, cũng í ới giục giã nhau đi thi cho mau, may ra được thưởng, không thi ngay chỉ có thiệt. 

     Lại còn nhiều đợt học tập tìm hiểu về vấn đề gì đó mà các địa phương và các đoàn thể vẫn làm nữa chứ! Làm ăn nghiêm túc thì dễ khô khan; phải thêm một tí giải thưởng vào như một chất xúc tác để cho hoạt động này thêm hấp dẫn – ban đầu người ta chỉ nghĩ đơn giản vậy. Nhưng rồi cứ đà ấy mà kéo, rút cục trước mắt chúng ta việc nghiêm túc biến thành một trò câu khách. Người ta thi, người ta làm việc, người ta bỏ ra bao nhiêu thời giờ, thậm chí người ta mưu mẹo kiếm chác nữa, tất cả chỉ vì giải thưởng. 

     Hàng ngày xem ti vi luôn thấy có chuyện các đơn vị, các ngành mừng công kỷ niệm. Rồi nhân dịp sáu tháng đầu năm, nhân dịp cuối năm, các cơ quan bước vào tổng kết. Không rõ trong thực tế, những buổi tổng này có rút ra được kết luận nào sâu sắc không, nhưng xem cách đưa tin trên mặt báo và các phương tiện truyền thanh truyền hình, thì thấy nhiều khi nó được làm theo lối chiếu lệ. Ở đó người ta nói với nhau quá nhiều những lời sáo rỗng. Và ở đó, đang hình thành một lối đánh giá nhau xem xét nhau hòa cả làng, giản đơn, dễ dãi. 

     Ý tôi muốn nói tới cái lối lôi nhau ra thưởng một cách… vô tội vạ. Thưởng tràn lan. Thưởng theo niên hạn. Cứ ai không có khuyết điểm gì lớn, là được thưởng. Tôi tin là mình không nói gì quá khi cho rằng lối thưởng như thế là một cách xúc phạm đối với những người làm việc tốt, họ nghĩ rằng có ai biết cho công lao đóng góp của mình đâu, cá mè một lứa cả, thế thì từ nay về sau, không tội gì phải cố cho thêm nhọc xác! 

     Thưởng nhau đại trà như thế chỉ là làm hỏng nhau thêm, cái hại này ai cũng thấy vậy mà cũng cứ nhắm mắt để mở rộng phong trào phát thưởng và lĩnh thưởng. 

    Một nhà nghiên cứu lịch sử trung đại kể với tôi rằng các vua triều Nguyễn có lối ban thưởng rất tế nhị. Thưởng cho một viên quan, chỉ báo cho ông ta biết rồi bảo cứ về, sẽ cho lính mang tới nhà. 

    Tại sao? Vì trước triều đình như thế là đã bố cáo cho mọi người thấy là ông ta có công lao rồi. Còn không làm công khai, vì biết thông thường ở những xã hội còn kém phát triển như xã hội ta, con người khi nhận phần thưởng thường bộc lộ những mặt không mấy dễ thương, ví dụ như quá hý hửng đến mức gần như là hèn hạ. Vua hiểu triều thần, không muốn cái phần xấu xí trong người bầy tôi tài năng của mình có dịp bộc lộ, nên tránh cho ông ta trước.

    Bồi dưỡng nhân tài lâu dài mới là một mục đích sâu xa của ban thưởng. Tự nhiên có lần đọc báo thấy những người tổ chức một cuộc thi nghệ thuật than thở rằng cái khó nhất của họ là tìm ra những ban giám khảo công bằng và làm việc hiệu quả, có sức thuyết phục với công chúng.

     Tôi đọc và cứ nhớ mãi: cuối cùng vấn đề là vậy – khen thưởng không chỉ quan hệ với số đông. Mà trước tiên nó cho thấy năng lực và tầm vóc thực sự của những người chủ trì hoạt động một ngành nào đó. Những người này định ra những chuẩn mực như thế nào, hiểu biết về ngành mình đến đâu? Có hiểu lao động của người dưới quyền và muốn trình độ họ ngày một nâng cao? Tức ở đây là chuyện tổ chức và định hướng công việc. Và đằng sau đó là quan niệm của nhà lãnh đạo về con người, cùng những cách tác động để kích thích con người. Gọi nó là một thứ văn hóa khen thưởng mới đúng, thứ văn hóa rất cần thiết cho những người có quyền.


SAN BẰNG CON NGƯỜI


       Trên đường Sài Gòn, một lần, tôi được nghe một người xe ôm kể rằng ông ta vừa về hưu, so với tuổi là hơi sớm.

Có hai điểm làm cho ông chán: 

       Giám đốc là người quá dốt, chỉ biết hô hào chung chung, không hiểu công việc chuyên môn.

      Trong xưởng, người chăm với người lười cũng như nhau, cuối năm ai cũng tiên tiến hết.

       Tôi đoán chính ra ông là một người thợ giỏi. Tiếp tục câu chuyện về nỗi đau của con người thời nay, tôi nghĩ rằng cái đau của ông thợ nói trên là ở chỗ phải sống trong một xưởng máy mà giỏi kém như nhau, vàng thau lẫn lộn.

Nhiều cuốn sách tôi mua là tập hợp hỗ lốn những bài báo hay lẫn với những bài dở, mỗi bài một kiểu đến mức có lần mua về tôi phải xé hết những bài nhảm nhí thì mới yên tâm đọc tiếp các bài giá trị trong tập sách.

       Các tuyển tập thơ thường sắp xếp một cách vô cảm, nghĩa là theo abc tên tác giả. Và nếu nhìn vào chất lượng thì người ta thấy nhiều bài chỉ được chọn là do vai vế tác giả của nó thế nọ, thế kia chứ không phải do chất lượng.

Từ hồi đi học, tôi đã cảm thấy, người học giỏi thì hay bị làm phiền. Các lớp tiểu học bây giờ có lối đưa cả những học sinh cá biệt vào, cá biệt theo nghĩa học kém, vì thế làm hỏng tiến bộ chung của cả lớp.

      Một khía cạnh khác của việc san bằng con người đang được kéo dài là thù ghét những phần tử ưu tú. 

      Xã hội chỉ có thể đi lên nếu những người ưu tú có vị trí xứng đáng làm mũi nhọn kéo cả cộng đồng đi theo. Nhưng ở Việt Nam nhiều khi có tình trạng ngược lại.

      Cái lỗi của cải cách ruộng đất không phải chỉ là khuyến khích người ta tố điêu, làm bậy. Mà cái chính còn là diệt những người giàu có, cho rằng những người giàu có là những người hư hỏng, gian ác. 

     Thật ra thì trừ một số cá biệt, còn phần lớn những người giàu có này, chính là những người biết tính toán công việc và giỏi sử dụng nhân công dưới quyền. 

     Cải cách ruộng đất qua đi, nhưng cách làm cách nghĩ của nó còn mãi với xã hội.

     Còn chiến tranh thì lại làm công việc san bằng con người giống như một cái máy gạt khổng lồ. 

     Sẵn lòng tự trọng, những người ưu tú thường xuất hiện ở hàng đầu và đã chết. Tới ngày chiến thắng, chỉ còn lại những người kế theo tiếp nhận chiến công của đám ưu tú vừa bị hy sinh, tận hưởng vinh quang và lợi lộc. 

     Thứ mất mát thường bị người ta lờ đi này thật ra không gì bù đắp nổi. 

      Sau những cuộc chiến tranh kéo dài quá sức chịu đựng của con người, các xã hội hậu chiến thường lụn bại một thời gian, một phần cũng vì lý do ấy.



PHẦN 5



CÁI VỘI CỦA NGƯỜI MÌNH

                                                        

        Năm 1982, Larry Dossey, một bác sĩ người Mỹ đã đặt ra thuật ngữ “căn bệnh thời gian” để mô tả một tín điều đang ám ảnh nhiều người. Những người này thường tự nhủ: “Thời gian đang trôi đi, không còn đủ thời gian, và bạn phải nhanh hơn, nhanh hơn nữa mới bắt kịp nó”.

       Sau khi dẫn lại một nhận xét tổng quát như thế, Carl Honoré (tác giả cuốn Ngợi ca sống chậm -- bản dịch của nhà xuất bản Phụ nữ) tự đặt cho mình một loạt câu hỏi: vì sao chúng ta luôn vội vã như vậy? Đâu là nguyên nhân tâm lý? Liệu có thể -- và có nên ao ước -- sống chậm lại?  

       Những căn bệnh được tác giả miêu tả đủ loại, ăn nhanh, đi vội, sống gấp, làm việc đến kiệt sức, hưởng thụ ngoài sức tưởng tượng. Bởi ở mọi nơi mọi chỗ, chúng ta khao khát tốc độ, nên đã tự làm hỏng cuộc đời đi, ông bảo vậy.

      “Thời đại của sự rồ dại” -- tinh thần của khái quát đó trở đi trở lại nhiều lần trong tác phẩm. 

      Từ đó, ông giới thiệu một giải pháp ngược lại, đã tự phát hình thành trong thực tế và ngày càng được tin theo, đó là sẵn sàng sống chậm, cốt tìm tới sự hài hòa. 

      Những biện pháp nêu ra, như bớt thời giờ xem tivi, để thêm thời gian đọc sách và làm vườn hoặc đan lát…chỉ là gợi ý. Trước tiên người ta phải nhận thức được rằng cố sao cho nhanh thường đồng nghĩa với vội vàng, hời hợt nôn nóng, đặt số lượng lên trên chất lượng. Đó là thứ tư duy đã lỗi thời. Còn chậm nghĩa là thư thái cẩn trọng, suy nghĩ thấu đáo. Nhanh và chậm chỉ là tương đối. Cái chính là mỗi người tìm cho mình một nhịp sống hợp lý.   

      Từ chuyện bên trời Tây quay về Việt Nam thấy chúng ta cũng đang bị cái vội cuốn đi thật. Một nhịp sống gấp gáp lôi cuốn. Gấp gáp đến liều lĩnh. Và vội vàng đến bất cẩn. Đường xá quay cuồng. Công việc cứ rối tung cả lên mà vẫn chẳng việc gì ra việc gì.  

      Một người bạn tôi mới đây dẫn ra nhận xét của một người dân Singapore có dịp sống ở vài thành phố lớn của ta:

     -- Người Việt các anh đã mất hết tính kiên nhẫn rồi hay sao? Nên biết là ngay ở Singapore, việc chờ tắc–xi mất nửa tiếng với chúng tôi cũng là chuyện thường.

    Vấn đề bây giờ chỉ còn là giải thích chúng ta lại sống vội như vậy và xem xem có phải là cái vội bộc lộ một cái gì to lớn hơn, cần phải gạt bỏ.

     Tôi sống trong nghề viết văn viết báo liên tục đã bốn chục năm nay và có dịp chứng kiến hai giai đoạn nghề nghiệp. Từ 1986 trở về trước, ở Hà Nội báo lom đom dăm bảy tờ, sách viết xong không chắc đã có giấy để in. Thế là không ai bảo ai, viết cái gì cũng đận đà chậm chạp, không thiếu nhà thơ để cả tuần tính một hai chữ trong thơ. Còn nay thì làm ăn như ăn cướp, vừa nghĩ ra cái đầu đề đã ngồi ngay vào bàn, bản thảo chưa hoàn thành (nói như ngày xưa chữ chưa ráo mực) đã giục Nhà xuất bản xin phép cho in. Lúc đầu tưởng phải viết cho nhanh mới giải phóng hết được sức sáng tạo. Sau nhìn lại cái đống viết ra hổ lốn hỗn tạp -- bằng chứng là bạn đọc ngày càng xa lánh - mới hiểu rằng mình đã rơi vào vòng tay của sự làm liều làm ẩu lúc nào không biết. 

    Chậm mới hợp với trình độ của mình. 

    Nhanh là ảo tưởng giả tạo, bỏ mồi bắt bóng.      

    Khốn khổ có riêng nghề của bọn tôi đâu, nghề nào bây giờ chẳng vậy!

    Xưa nay dân ta ít ai để ý tới chuyện cười cợt của người mình. Tới những thập niên đầu thế kỷ hai mươi, Nguyễn Văn Vĩnh mới đọc ra trong đó cả một triết lý sống. Trong bài Gì cũng cười, viết trên Đông dương tạp chí, nhà văn này giả định “Trong cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác; có cách láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà đã gièm trước ý tưởng người ta, không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta”.

     Học theo Nguyễn Văn Vĩnh, tôi cũng muốn nói rằng trong sự nóng vội người đời bây giờ có cái hạn hẹp trong tầm nghĩ, chỉ thấy đời sống trước mắt mà không thấy đời sống thâm nghiêm lâu dài; có cái tự ti, biết rằng mình đã quá lạc hậu với thế giới nên phải lo truy đuổi trong tuyệt vọng; có cái hỗn loạn trong cảm giác về giá trị, từ đó tạo nên ám ảnh lấy thịt đè người, chỉ có nhanh mới hốt được của thiên hạ. 

     Với một số người, vẻ vội vàng mà họ biểu hiện như vậy là cả một lời tố cáo. Rằng đời sống tinh thần họ tầm thường. Rằng họ không biết mình là ai trong thế giới này. Thậm chí ở một số trường hợp vội vàng đồng nghĩa với gian manh, cố tình tạo ra tình trạng hỗn loạn để đẩy đi thứ hàng kém cỏi mình làm, cái cuộc sống vớ vẩn mình muốn áp đặt cho kẻ khác. Vội trong trường hợp này là để lấp đi cái trống rỗng, mà cũng là cái bế tắc của tình thế. 

      Hồi còn thời bao cấp, tôi thường hình dung cái vội của dân mình như người có cái xe đạp đã tàng đã cũ, cứ phải rướn cổ cò mà đạp trên con đường quê gồ ghề. Còn ngày nay thường đến với tôi là hình ảnh những người xe máy rồ ga còi bóp inh ỏi đưa xe lên cả vỉa hè, nhưng chẳng để làm gì ngoài việc lăn từ đám tắc đường này sang đám tắc đường khác. Mà cả thành phố thì trì trệ ì ạch, dấu hiệu còn lại của thời buổi kinh tế thị trường chỉ là một sự nhốn nháo. 
























CÁI ĐÚNG HÔM QUA

NAY KHÔNG ĐÚNG NỮA!


     Một thời gió bụi (1991) là tên một truyện ngắn của Nguyễn Khải mà ít người biết, nhưng tôi lại rất thích. Ông Tú, nhân vật chính trong truyện ngắn này, là một cán bộ vốn sống ở thành phố, khi nhận sổ hưu, liền có ý định về sống hẳn ở quê. Song chỉ về quê thăm thú ít ngày, ông đã phải bật ra, quay trở lại làm chân phụ việc bán hàng cho vợ. Tại sao? 

    Theo cách miêu tả của tác giả, nhân vật tưởng đã rất từng trải ở đây đã thực sự bị sốc trước tình trạng xảy ra trên quê hương. Con người gian giảo lừa lọc. Niềm tin và sự bình thản trong tâm tư không còn. Mối quan hệ thuần hậu giữa người với người đã bị biến dạng. Chữ lợi làm mờ cả mắt. Người ta sẵn sàng làm bất cứ việc gì, kể cả đào trộm một ngôi mộ cổ của một bà thứ phi của chúa Trịnh Doanh, bẻ đầu bà ta, để kiếm vàng. Ấn tượng còn lại ở ông Tú là “một cái làng, một vùng quê không còn quá khứ, không còn lịch sử”. 

     Quay trở lại với gia đình nơi đô thị, ông nghe một đứa con hỏi “Về quê có vui không?”, đành đáp “Cuộc sống gay gắt lắm”.

     Lại khi nghe hỏi “Vùng ấy phong cảnh đẹp lắm hả bố”, ông chỉ còn cách trả lời “Bây giờ thì trần trụi tan hoang cả” (xem Tuyển tập Nguyễn Khải ba tập, tập III, NXB Văn học 1996, các trang 269 và 280.)

      Nguyễn Khải từng có nhiều thiên truyện viết về nông thôn miền Bắc những năm 60-70 thế kỷ trước, trong đó có truyện Tầm nhìn xa chế giễu ông Tuy Kiền, phó chủ nhiệm hợp tác chuyên xoay xở kiếm lợi. Văn xuôi Nguyễn Khải hồi ấy cho thấy một nông thôn hài hòa mà sôi động, con người đầy khao khát song rất tự chủ, và luôn tự chứng tỏ là có thể đứng vững trước bất cứ thay đổi nào của thời cuộc. 

      Nay với Một thời gió bụi, tác giả vẫn sắc sảo như xưa, nhưng lại hai lần đáng ca ngợi vì là một sắc sảo phát hiện ra những gì ngược với niềm tin của mình hồi trẻ. Trong phút xuất thần của ngòi bút, Nguyễn Khải thật đã dự cảm chính xác sự băng hoại của nông thôn cổ điển trước công cuộc hiện đại hóa tự phát có pha một chút dã man hôm nay.

      Thứ nữa, điều quan trọng không kém, nhà văn còn gọi ra được một lối phản ứng trước hoàn cảnh đang chi phối nhiều người chúng ta. Đó là một cái nhìn tĩnh, một nếp nghĩ trì trệ, chỉ biết mơ màng với những giáo điều cũ kỹ, lúc chạm vào thực tế thì sợ hãi lảng tránh. Trong khi vẽ ra một bức tranh thực tế xa lạ hẳn với thói quen cảm nhận của số đông, tác giả như thoáng có một chút chế giễu cái sự lãng mạn quá lâu của mọi người, và thầm đề nghị rằng mọi suy nghĩ về nông thôn phải thay đổi. 

      Cần nhấn mạnh cái khía cạnh thứ hai này của tác phẩm vì thời gian gần đây, -- ngót nghét hai chục năm sau khi Một thời gió bụi ra đời -- dường như vẫn đang có một lối nhìn, một mạch suy nghĩ cảm xúc ngự trị trong xã hội, chảy ngầm trong những câu chuyện và len lỏi trong tâm tư mỗi cá nhân lúc họ cô đơn. Đó là niềm lưu luyến khôn nguôi với nông thôn thời quá khứ, là việc lý tưởng hóa mối quan hệ giữa người với người hôm qua, tiếp đó lẽ tự nhiên là tiếng thở dài than vãn vì một cái gì tốt đẹp vừa bị đánh mất, và niềm ao ước thầm kín, giá kể đồng hồ có thể quay ngược, giá kể có thể trở về với những ngày xưa thân ái, tình làng nghĩa xóm, rau cháo có nhau, nghèo khổ nhưng mà đầm ấm. 

      Con người vốn yếu đuối. Trước những thay đổi quá chừng đột ngột, lại ngả sang dữ rằn ghê gớm của công cuộc hiện đại hóa ít nhiều phi nhân văn hiện nay, cái sự co lai trong hành động, sự mệt mỏi trong tâm tư là điều dễ hiểu. Nhưng tôi tưởng đây chính là lúc chúng ta cần một ít lý trí sáng suốt. Quay về làm sao nổi. Đúng là không thể làm giầu bằng bất cứ cách nào. Nhưng cũng không thể nghèo mãi như cũ. Chỉ có dấn bước đi tới với nghĩa nhìn thẳng vào thực tế, nhận ra những quy luật chi phối sự vận động của xã hội, người ta mới có cơ tìm ra cách ứng xử hợp lý nhất. 

       Trong việc này, số lượng những tác phẩm văn chương có cái nhìn tỉnh táo như của Nguyễn Khải còn ít, mà --- thường tình thay mà cũng đáng tiếc thay – phổ biến là lối nhìn nhận ngược lại.

       Trong một bài phiếm luận, nhà văn Nguyễn Quang Thân có tâm sự rằng thuở nhỏ sống với một bà mẹ rất tình cảm và nay mỗi lúc khó khăn trong cuộc đời, tác giả vẫn tìm thấy sự chỉ bảo nâng đỡ trong những lời mẹ dặn. Để sang một bên những trường hợp cụ thể, tôi chỉ nghĩ rằng nếu tính đại trà thì nay là lúc con người gặp phải những khó khăn mà các thế hệ trước chưa bao giờ gặp phải. Vậy nên kinh nghiệm sống và suy nghĩ của lớp người đi trước không đủ nữa. Trong cái việc tự mình cứu mình, có bao hàm cả cải việc chủ động tìm tòi để bứt phá khỏi cái vòng vây của những tư tưởng cũ. Những tư tưởng ấy vốn trước kia đã đúng, lại gắn liền với kỷ niệm của tuổi ấu thơ chúng ta, nên dễ lan truyền và làm tổ trong chúng ta. Dứt bỏ là chuyện đau đớn. Nhưng làm sao khác được! Đi tìm cho được những cái mình cần, đó là trách nhiệm mà cũng là số phận của con người hiện đại.



                      LẤY TƯƠNG LAI LÀM TIÊU CHUẨN 


       Có một dạo Đỗ Việt Khoa trở thành một trong những tên tuổi vào được nhắc nhở tương đối thường xuyên trên đài trên báo và cả nơi đầu miệng mọi người. Vâng, nổi tiếng thật bởi người thầy giáo đã làm cái việc người khác không dám làm. Đó là tố cáo những trò gian lận ở một hội đồng thi của tỉnh Hà Tây. Trong lá thư thầy Khoa nói với lớp trẻ có đoạn “Tôi kêu gọi các em học sinh và các thầy cô giáo: Hãy lên tiếng cùng tôi chấm dứt tiêu cực này. Đừng dối mình, hay im lặng mãi thế. Năm nay nếu các em trượt nhiều, đừng vội trách thầy. Các em hãy chịu thiệt một chút. Sang năm, các em sẽ được thi lại mà. Các em mất một hai năm thôi, quá ngắn ngủi so với cuộc đời một con người. Nhưng một hai năm đó rất quý: Hàng chục thế hệ sau sẽ không bị làm hỏng nữa. Nền giáo dục sẽ trở về đúng nghĩa của nó. Tính trung thực của thầy trò ta mới không bị đánh cắp nữa. Hãy ủng hộ thầy!” (Mạng Vietnamnet 24-6-06)

     Có thể đọc ra từ vụ thầy Khoa hôm nay nhiều chuyện, riêng tôi chú ý một điểm là những cách nghĩ cách ứng xử khác nhau đối với tương lai. 

     Cả nền giáo dục như một con bệnh trầm trọng, ở nhiều địa phương chưa đi thi mà cả thày lẫn trò đều thừa biết rằng nếu nghiêm ra thì trượt nhiều lắm, rút cuộc thi cử là một thứ thủ tục để kẻ có quyền thì bán bằng, kẻ cần tiến thân thì mua bằng.

     Trước cái thực tế ngổn ngang đó ta nên làm thế nào? 

      Nhiều người nghĩ, thôi đã hỏng thì cho hỏng luôn thể, thiên hạ đầy những hàng giả, thêm một ít bằng giả của bọn tôi có thấm thía gì? Trong tình cảnh hỗn loạn này, chúng tôi sẽ sống ra sao nếu thi trượt? 

      Tức là người ta chỉ nghĩ chuyện trước mắt, còn tương lai thế nào, tính sau. Thậm chí có thể hy sinh cả tương lai cho hiện tại cũng được. 

       Nhưng vẫn có một cách nghĩ khác. Hãy tính cả cuộc đời dài dặc của mỗi con người. Lẽ nào ta sẽ gian dối suốt đời sao?! Vậy hãy thử chịu đựng một phen. Dám trượt, dám thua. Trượt để quay về học cho ra học. Thua để thắng. Không những được cái bằng mà còn được những con người. Thày Khoa thuộc loại thứ hai. 

      Rồi đây không biết vụ thày Khoa này hiệu quả đến đâu song với riêng tôi, ít nhất cũng có một điểm đáng ghi nhận: Hóa ra lúc nào cũng còn người tốt, cụ thể là còn những người tin rằng chúng ta có thể sống tốt hơn, chứ không “cù nhầy” với nhau mãi thế này. Mà chỗ khác nhau giữa nhiều người hiện nay là ở tầm nghĩ. Do thiếu tự tin, do thiển cận mà một số người sẵn sàng làm việc xấu và ủng hộ cái xấu. Còn chỉ cần nghĩ xa ra một chút, ta sẽ thấy cuộc đời là ở trong tay ta, sống tốt không phải chỉ là ước ao mà hoàn toàn là chuyện có thể, nếu chúng ta muốn.     

    Nhà văn Nga Chekhov (1860-1904) -- tác giả của những thiên truyện Con hoạt đầu, Anh béo và anh gày, Người trong bao … -- đặc biệt dị ứng với cuộc sống tầm thường quanh mình. Với ông cả những kẻ chỉ có ước mơ tầm thường cũng đáng ghét. Có lần ông bảo các vị ơi, cứ sống thế này thì nhắm mắt sao nổi! Một ý tưởng lớn mà ông muốn làm lây truyền trong người đọc: cuộc sống là thiêng liêng lắm, cái chính là lòng tự trọng, là cái khát khao tốt đẹp ở mỗi con người bình thường; nếu còn giữ được cái đó thì một hai người có thể thua, nhưng cả xã hội sẽ thắng. 

     Lúc này tôi chỉ ước ao giá Chekhov được in lại thật rộng rãi để có thêm người đọc! 




BẢY BƯỚC TỚI THA HOÁ

Mỗi chúng ta đã tự

đánh mất bản thân như thế nào?


 Hồi nhỏ, tôi là đứa trẻ đãng trí, hay đánh mất những thứ lặt vặt: khi quyển truyện, cái thước kẻ khi cái chìa khoá, cái mùi xoa, thậm chí có đến mấy lần cả cái mũ cũng vô tâm để bay khỏi đầu lúc nào không biết. Thông thường bố mẹ ở nhà cho qua không mắng mỏ gì đáng kể. Nhưng đâu một hai lần, tôi nhớ không những bị đánh cho mấy roi cứ gọi là quắn đít, mà còn bị hỏi căn hỏi vặn:

- Từ lúc nào, con biết là con đánh mất?

- Chạy nhảy thế nào mà rơi rụng hết, kể lại xem nào!

- Thử nhớ kỹ đi, con đánh rơi ở đâu? Con đã để ý đi tìm chưa?...

Đến bây giờ tôi cũng không nhớ lần ấy đánh mất cái gì, chỉ đoán chắc là mấy thứ đắt tiền lắm, chứ không phải ba cái đồ vớ vẩn như mọi khi. Người ta chỉ phải suy nghĩ về sự mất mát khi cái bị đánh mất được coi là quan trọng.

Liên hệ tới chuyện ngày nay:

Niềm thiết tha với cái tốt cái đẹp vốn nằm trong tâm trí chúng ta từ thuở thiếu thời, khi đang còn cắp sách đến trường. Mấy chục năm nay, Nhà nước cách mạng cũng luôn luôn kêu gọi mỗi thành viên của xã hội gắng trau dồi đạo đức. Câu nói của Mạnh tử “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” thường được nhắc nhở, vì trong một hình thức cũ, nó lại diễn tả tốt nhất nội dung chủ yếu của đạo đức mới - sự vững vàng của nhân cách. Nhưng liệu có thể nói là mỗi người chúng ta đã làm được điều chúng ta mong mỏi?

Giả sử bây giờ, ra giữa buổi họp, tôi bảo ông nọ bà kia là thoái hoá biến chất, mọi người sẽ cho tôi là có hiềm khích gì đó với họ, nên mới ăn nói sỗ sàng như vậy. Nếu tôi lại mạnh mồm khái quát rằng nay là lúc không ít người trong chúng ta đang hư hỏng đi, thì người ta sẽ bảo tôi là liều lĩnh vô căn cứ, là không có cái nhìn toàn cục, không thấy “mặt tốt là chủ yếu”.

Nhưng nhiều lúc ngồi một mình tỉnh táo, đối diện với lương tâm, hẳn nhiều người phải công nhận là quanh mình số người hiền lành thánh thiện ngày một ít, số khôn ranh kiếm chác ngày một nhiều thêm. Và tự ta nữa, nghiêm khắc mà nói, ta cũng đang sống không phải như ta mong muốn. Ở đây không nói tới những tội lỗi đã thành danh mục quản lý của pháp luật, mà chỉ nói tới những thói xấu nho nhỏ, những thói xấu vẫn bị coi là không đáng kể, và dễ bị bỏ qua: Xoay xoả vụ lợi. Làm dở báo cáo hay. Qua loa vô trách nhiệm. Khéo léo tô vẽ mình trước cấp trên. Hùa theo đám đông, nói cho đám đông vừa lòng, chứ không dám nói sự thật...Có phải là không ít thì nhiều, hàng ngày chúng ta đã để cho những thói xấu đó lộng hành? So với con người lý tưởng mà ta muốn noi theo, khi bước vào đời, thì thật ra ta đang xa dần, thậm chí có những phẩm chất tốt mà ta có từ lúc còn trẻ và cứ tưởng giữ được mãi, bây giờ đã bị đánh mất.

Nay không còn là lúc sợ ai lục vấn mình như cậu bé năm xưa nữa. Nhưng có lẽ, với tư cách người có cắp sách đi học, sống nhiều bằng ý thức, cũng nên quan sát chính mình xem xem một quá trình tâm lý như thế nào đã xảy ra, khi ta tự đánh mất một phần tốt đẹp ở con người mình vậy.

Dưới đây là một vài nhận xét tôi rút ra từ kinh nghiệm bản thân và qua quan sát những gần gũi chung quanh.

1. Sự kiếm sống hàng ngày là một khái niệm lâu nay chúng ta hay lẩn tránh, và nó chỉ tồn tại như một giá trị ẩn, không được mang ta tính toán công khai. Nhưng phải nhận nó vẫn là nhu cầu có thực, hàng ngày gây sức ép với mọi người. Có nhiều việc ta biết là trái đạo lý song vẫn phải làm, chẳng qua chỉ là nhằm kiếm thêm ít tiền bạc, để cùng với đồng lương còm cõi, duy trì sự sống của bản thân và gia đình.

2. Các thói xấu lấn lướt ta mỗi ngày một ít. Thời gian đầu ta thường vừa làm vừa tự nhủ: chỉ chấp nhận đầu hàng lần này nữa thôi, sau sẽ không bao giờ tái diễn! Nhưng càng về sau, sự dằn vặt càng thưa thớt đi. Đời sống hàng ngày mang lại bao nhiêu căng thẳng mệt mỏi, khiến cho mỗi người chỉ có cách trượt theo thói quen và tránh nhất là gây thêm cho mình những phiền phức.

3. Có một điều thường viện ra để an ủi, ấy là khi thử đưa mắt quan sát thấy không phải chỉ có riêng mình làm bậy, mà chung quanh, cả những người có uy danh hơn, có trách nhiệm hơn, cũng đâu có giữ được lý tưởng - “hơi đâu gái goá lo việc triều đình” - đấy là lý lẽ của những cái đinh ốc bé nhỏ.

4. Khái quát hơn, quả thật có nhiều việc thấy trái với lương tâm ta vẫn cứ làm, vì xem ra chung quanh mình, mọi người đều hành động như vậy. Mà cảm giác sống theo tập thể ăn vào ta rất nặng. Ta sợ trở thành đơn độc, lại càng sợ mang tiếng là chơi trội, dám khác mọi người (!)

5. Người ta ai mà chẳng vừa sống vừa trông trước sau xem cách sống của mình được đánh giá ra sao, và được đền đáp ra sao. Đến lúc thấy bao nhiêu cố gắng của mình cũng vô ích, những người tốt như mình thường thua thiệt, còn những kẻ xấu cứ được đủ thứ, và lại leo cao mãi lên - thì đành ngán ngẩm buông xuôi (Sau khi phát hiện điều này, một số sẽ dãy dụa cốt vớt lại ít quyền lợi mà họ cho rằng họ đáng được hưởng. Từ ấy trở đi, họ dám sống rất tàn bạo)

6. Chắc chắn trong ta không bao giờ chết hẳn con người lý tưởng, con người tha thiết với sự nghiệp chung. Giả sử được xã hội dang tay dìu đỡ, thì sau những lầm lỡ ban đầu, cũng dễ tu tỉnh trở lại. Nhưng mọi chuyện quá ì ạch. Có vẻ như điều mà xã hội mong đợi hơn cả ở các thành viên chỉ là những câu khẩu hiệu chung chung. Cái phần suy thoái trong ta chớp ngay lấy cơ hội thuận lợi đó. Nảy sinh tình trạng phân thân, sống một đằng, nói một nẻo, và bởi lẽ, trước mặt bàn dân thiên hạ, giữa thanh thiên bạch nhật, ta vẫn luôn mồm nói điều tốt, nên càng yên tâm xoay xoả kiếm chác trong bóng tối.

7. Đến lúc nào đó, ta chợt nhận ra “rằng quen mất nết đi rồi”, có lẽ sẽ không bao giờ hoàn lương được. Sự lo sợ có tới (lo sợ chứ không phải hối hận), và để hoà giải, ta xoay sang cầu cúng, xin xỏ, hối lộ thánh thần. Mê tín chính là mắt xích cuối cùng của sự tự làm hỏng, nhờ có mê tín, các khâu hoạt động khác có thể diễn ra một cách êm đẹp. Đại khái giống như một thứ bảo hiểm!

Khi một đứa trẻ đánh mất của quý gì đó, sở dĩ người ta phải căn vặn hỏi han xem quá trình đánh mất diễn ra như thế nào bởi nghĩ rằng qua đó, giúp cho nó biết giữ gìn của cải và từ nay trở đi không đánh mất nữa.

Quá trình tha hoá, quá trình tự đánh mất mình ở chúng ta có chỗ khác. Ai cũng chỉ sống một lần trên đời, cái gì mất đi vĩnh viễn không lấy lại được nữa.

Vậy cần gì phải mang bản thân ra mà tra khảo cho thêm rách việc?!

Có thể có một số nguời đã nghĩ thế và họ có lý của họ.

Về phần mình, tôi muốn đề nghị một cách nghĩ khác: ít ra chúng ta cũng nên sòng phẳng với nhau. Sự đánh giá chính xác về bản thân nên được xem như một phần di sản của một lớp người đang sống để lại cho các lớp kế tiếp, và nếu như nhờ thế một phần, mà những người sau ta sáng suốt hơn, không còn đánh mất minh, tức là ta đã trở nên hữu ích.


 MỘT ÍT TRIẾT LÝ ẨN SÂU TRONG CÁCH KIẾM SỐNG 


Từ trường hợp của những ông già ném cá trong bài “Kiếm sống với bất cứ giá nào” in ở phần một cuốn sách này, xin thử nêu lên một vài đặc điểm làm nên cách kiếm sống dân ta xưa và nay:

1- Trong cuộc mưu sinh, dân ta còn đang dừng lại ở tư duy hái lượm tức là sẵn có cái gì của thiên nhiên thì nhặt lấy mang về. Năng lực của cộng đồng trong việc chủ động tổ chức ra một xã hội sản xuất, năng lực đó còn hạn chế... Con người trong xã hội ta đa số là vô nghề nghiệp và không đạt tới đỉnh cao trong việc làm nghề. Các ngành nghề không được chăm lo cải tiến nên chỉ có giậm chân tại chỗ.

Khi tiếp xúc với các nền kinh tế khác chúng ta lại không chịu học hỏi đàng hoàng kỹ lưỡng nên cứ kém mãi.

2- Chiến tranh là nhân tố chủ yếu chi phối khuôn mặt của xã hội Việt Nam trong suốt trường kỳ lịch sử. Trong các thế kỷ trước, nhất là hai thế kỷ XVII – XVIII sa vào nội chiến, ở ta, việc sản xuất nông nghiệp chỉ phát triển trong mức độ bảo đảm cho các cuộc chiến tranh giữa các phe phái được duy trì. Vậy mà nạn đói vẫn luôn luôn xảy ra. Còn sự phát triển các ngành công thương nghiệp là hết sức kém cỏi thì cũng là lẽ tự nhiên. 

Điều này càng rõ nếu xét tình hình từ 1945 tới nay. Trong chiến tranh bao nhiêu con người giỏi giang đổ hết cả ra mặt trận. Đến cả lương thực cho người dân miền Bắc cũng phải nhập của nước ngoài. Súng ống, đạn dược, xe pháo dùng trong chiến tranh là của ngoại nhập. Ở hậu phương mọi công việc như xây dựng nhà cửa hoàn toàn ngưng trệ. 

Sau chiến tranh hầu hết chúng ta là những kẻ vô nghề nghiệp. 

Các quan chức cũng hoàn toàn vô nghề nghiệp. Từ những người chỉ quen “đánh đồn diệt viện”, nay phải lo quản lý đủ mọi ngành nghề hiện đại, làm sao không dẫn tới tình trạng làm đâu hỏng đấy.

Sau khi đọc bài của tôi có bạn nói rằng giá ông già kia có đồng lương hàng tháng bốn năm triệu thì ông không phải làm thế. 

Tôi xin trả lời rằng đó là chỉ nhìn bề ngoài. 

Còn nhớ có lần trên mạng thấy loan tin các cơ quan khoa học người ta đánh giá rằng nước mình là một xứ mà việc quản lý các tài nguyên khoáng sản là loại đội sổ, kém nhất thế giới.

Không cần có mặt ở các loại mỏ, chỉ từ tình hình chung cũng đoán ra hết. 

Những người chủ trì công việc làm ăn ở các vùng tài nguyên đó, theo sự nhìn nhận của tôi thật cũng chẳng khác gì ông già ném cá hàng xóm của tôi bao nhiêu. 

Nghĩa là thấy của một đống trước mặt mình đấy thì bất chấp quy trình kỹ thuật cần thiết, cha con chỉ lo đào cho được rồi bán tống bán táng ra nước ngoài lấy tiền. Tiền này đi đâu thì ai cũng biết rồi - nộp cho ngân quỹ nhà nước thì ít, đút vào túi mình thì nhiều. 

Ta chỉ trách những quan chức này là họ tham nhũng.

Ta quên rằng họ cũng đang là những người kiếm sống không có nghề ngỗng gì hết, và kiếm sống với bất cứ giá nào. 

Trong khi khai thác tài nguyên theo kiểu thổ phỉ vậy, tự họ đã tước đi khả năng tồn tại và phát triển của cái nguồn lực đáng lẽ nuôi sống cộng đồng và chính họ trong một thời gian lâu dài. 

Họ cũng từ bỏ luôn cái cơ hội tốt để họ và con cháu họ tử tế nên người.

3- Nói tới một đặc điểm khác trong việc kiếm sống của người mình, nhất là con người hiện đại. 

Là ta có lối suy nghĩ rất thiển cận, trong khi phấn đấu để vượt lên số phận nghèo khó đã không chịu học, không chịu chuyên môn hóa…mà chỉ nhăm nhăm tính toán sao cho có thể đạt đến mọi mục đích tầm thường của mình bằng con đường nhanh nhất. 

Nhân danh nghèo khó, cho là mình có quyền làm mọi điều xấu xa và sẽ chẳng có thần phật nào trừng trị chúng ta cả. 

Tiếp đó là bày ra đủ thứ lý luận để cãi trắng cho sự hư hỏng của mình. Cả một đội quân tuyên truyền góp phần vào việc tự biện hộ này. Chúng ta đã đi tới sự tự lừa dối tự lúc nào không biết.

Đến lúc này thì người ta nói rằng con người đã vô phương cứu chữa.

Nhưng đây là một khía cạnh khác nó làm nên một xu hướng phát triển của con người thời nay là sự tha hóa.

Lâu nay ta chỉ nghĩ người giàu mới tha hóa.

Nhưng 40 năm sau chiến tranh, người nghèo cũng đang tha hóa. 

Cố nhiên, vì chạm đến đồng tiền và quyền lực nên quan chức thì tha hóa nhanh nhất.

Xưa ta hay có thói quen nói rằng giai cấp thống trị xấu xa là vua quan thời phong kiến có lẽ là người nước nào đó chứ không phải người Việt.

Nay thì chắc các quan chức - cả bộ phận tha hóa lẫn bộ phận còn đang chống chọi lại xu thế chung đó - cùng có lý do để nhận họ là những người Việt thứ thiệt.



























TÌM ĐÂU Ý CHÍ MẠNH MẼ


      Các giá trị đạo đức trong sự phát triển kinh tế, là tên bài viết của một nhà nghiên cứu nước ngoài, ông Harry D. Gideonse, trong đó ông đưa ra năm đức tính cần thiết cho một nước muốn đi vào công nghiệp hóa hiện đại hóa. Chú ý đây không phải lời khuyên nhủ hay mách mối làm ăn mà là nói chuyện đạo đức. 

      Đại khái bài viết cũng gồm mấy điểm nhiều người đã biết, như phải quý trọng tài sản vật chất và tinh thần, phải có tính sáng tạo chủ động đưa ra cái mới, phải có tinh thần trách nhiệm và tin tưởng vào tương lai. 

      Lạ nhất với tôi là cái điểm đầu tiên mà tác giả này nhấn mạnh: cả xã hội cũng như mỗi cá nhân phải “biết kiềm chế sự ham muốn của mình, hay nói cách khác, phải có một ý chí mạnh mẽ để sản xuất nhiều hơn là tiêu thụ” (Dẫn theo sách Tâm lý người Việt Nam nhìn từ nhiều góc độ, bản in năm 2000, tr.79).

      Những lời khuyên này là của chính nhứng người đã giàu nay rút kinh nghiệm về việc làm giàu của mình nên không thể xem thường.

      Ở một nước như Trung quốc – báo chí phương Tây gần đây phát hiện -- sở dĩ nền kinh tế phát triển như một kỳ tích, hệ thống ngân hàng không ngại tới chuyện đổ vỡ, một phần là vì tiết kiệm ở họ rất cao. Tính ra, có tới 40% thu nhập của các gia đình Trung quốc được dành để chuyển vào ngân hàng, từ đó đầu tư vào việc làm ăn chung.

      Quay về nhìn lại nước mình thì sao? Chắt bóp, kiềm chế, ăn tằn hà tiện, chín xu đổi lấy một hào vốn được coi là nền nếp đã có từ nhiều đời, không chỉ ở những người nghèo mà cả những người có máu mặt. Trong một bài điều trần về cải cách phong tục, viết năm 1871, Nguyễn Trường Tộ nhận xét “nhiều quan viên ăn uống sơ sài không bằng nhà trung sản trong dân gian”. Ông kể năm trước, tức là năm 1870, sứ bộ ta sang Tây, người Tây thấy sự ăn uống của sứ bộ quá đơn giản, họ bảo “ăn uống như thế mà có sức để bổ vào phần trí dũng, thật không sao hiểu được”. Hoặc về sự mặc, vẫn theo Nguyễn Trường Tộ, nhiều người thời ấy cố ý làm cho thô vụng xấu xa, và có tục ngăn cấm sự ham đồ tốt đẹp, từ quan đến dân đua nhau càng bớt chi tiêu càng tốt, làm cho những nghề tinh xảo ngày một tiêu mòn. 

     Trên đây là chuyện hơn một trăm năm trước. Đến thời tôi mới lớn lên tức là năm chục năm trước đây, vẫn còn đại khái như vậy. Luôn luôn tôi được nghe người trong gia đình kể là nhà nọ nhà kia hà tiện lắm, có tiền mà không chịu tiêu. Nhân vật Lão Hạc của Nam Cao chắc chắn không phải là trường hợp cá biệt; “thà nhịn ăn nhịn tiêu thậm chí thà chết chứ không ăn vào phần của người khác” --, cái tâm lý ấy khá phổ biến trong xã hội cũ.

     Nay thì cách sống cách tiêu pha của không ít người dân nhiều phần ngược lại. Làm bao nhiêu lo tiêu hết chứ không tiết kiệm làm gì, người ta hồn nhiên tự xác định như vậy. Thậm chí người ta đi vay để mua nhà, đi vay để sắm xe mới, đi vay để cho con đi học. Nhắm mắt mà vay, không cần biết sẽ trả ra sao cũng cứ vay. 

     Nhiều người sống gấp sống vội sống buông thả, hoặc như cách miêu tả của các cụ ngày xưa “vén tay áo xô, đốt nhà táng giấy”. Họ cho rằng thời nay nói chuyện tiết kiệm cũng như chuyện chính chuyên, nghe đều cổ lỗ lắm rồi. Vậy thì mo – phú hết, tận hưởng cái đã. Triết lý sống này âm thầm chi phối khiến cho hàng ngũ những người trưng diện khoác lác, khoe của một cách trắng trợn, ngày một đông đảo.

     Sự ham muốn không bị kiềm chế. Sự ham muốn đang được thả phanh để muốn đi tới đâu thì đi. Trong khi động cơ sống ở mỗi người được tăng cường, thì cái phanh đã rỉ!

     Kể ra điều này cũng có lý. Tinh thần hiện đại đã ảnh hưởng đến tâm lý số đông. Người ta có lý luận hẳn hoi: “Phải tiêu nhiều hơn làm rồi ra mới biết cách làm, chính vì cần tiêu mà làm”. “Chết có mang đi được đâu”. Người ta lấy ví dụ về sự ăn tiêu ngất trời ở bên Tây bên Tàu. Có biết đâu chính những Việt kiều ở nước ngoài về cũng phải bảo là sự lãng phí ở trong nước tiến nhanh quá. 

      Thử đi tìm nguyên nhân dẫn tới cách sống buông thả của con người hiện thời: Vì sau một thời gian quá khổ, nay mới được hưởng chút ít, người ta tranh thủ hưởng? Vì chưa có tiền bao giờ nên không biết tiêu tiền? Vì cảm thấy cuộc sống đầy những may rủi ngẫu nhiên không biết tin điều gì? Vì bi quan về tương lai? Vì một triết lý hư vô đang ngự trị? Tất cả những lý do ấy hợp lại chi phối cách sống chúng ta.

       Dư luận mới chỉ chú ý tới các tệ nạn xã hội. Những vụ đột nhập vũ trường, quán rượu cho thấy trình độ hưởng thụ ngày càng cao. Những vụ buôn lậu thuốc phiện và các chất ma túy có quy mô mỗi ngày một lớn hơn. Nhưng tôi cho rằng cái triết lý hưởng thụ thấm sâu trong những người dân thường mới đáng ngại, nó là một trong những yếu tố níu kéo chúng ta trên đường phát triển, mà lại chưa được chỉ mặt gọi tên một cách đúng mức. 













LÀM SAO ĐỂ CHỮA TẬN GỐC

                                                                                           

        Cáp quang dưới biển bị ăn cắp. Nước tương có chứa chất gây ung thư cũng được bày bán. Hàng hóa xuất ra nước ngoài kém phẩm chất bị trả về. Hơn hai ngàn học sinh bị đình chỉ trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông. Những sự việc ấy, nối tiếp vào các vụ việc tiêu cực bấy lâu chúng ta vẫn nghe --- như phá rừng, lấn biển bừa bãi, ăn cắp nguyên vật liệu trong xây dựng, gọi là cải tạo nhưng thực ra phá hoại môi trường và tàn phá di sản … --- khiến cho nhiều người phẫn nộ, và công thức chung để giải quyết vẫn là phải thật nghiêm khi xét xử cùng là tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức của con người. 

        Tôi cũng thấy thế, song trong bụng không khỏi thoáng qua một chút hoài nghi. Nhiều hiện tượng cứ nối tiếp theo kiểu “chém đầu này mọc đầu khác”. Muốn chữa tận gốc, cần đi tìm cỗi rễ của sự việc trong tâm lý xã hội và trong từng con người.

         Trong các hành động vừa kể, có cái coi như đã phạm pháp và sẽ bị truy tố, có cái có vẻ không sao, ta biết để rồi bảo nhau. Tuy nhiên nhìn chung thì nay là lúc kỷ cương lỏng lẻo và con người buông thả tùy tiện. 

         Trên đại thể có thể hình dung là trước khi hành động, người ta thường tự nhủ cuộc sống là một canh bạc. Được làm vua thua làm giặc. Thoát thì giàu to, thành người đàng hoàng, không thoát đành chịu. Không có luật pháp, không có lương tâm tự trọng gì hết. Việc gì kiếm ra tiền là có quyền làm.

         Tức là có cả một triết lý đứng đằng sau các hành động nói trên.     

         Theo cách hiểu thông thường thì triết lý là một thứ sợi chỉ xuyên suốt toát ra qua các hành động của con người. Việc hiểu triết lý rút ra trong trường hợp này sẽ giúp cho người ta hiểu thêm các trường hợp khác.

          Tuy nhiên điều đáng nói là ở ta hiện nay những triết lý đó chỉ xuất hiện dưới dạng một thứ “tập mờ”, một thứ cảm giác mông lung chứ không đề lên thành những luận thuyết chặt chẽ. Và ta lầm tưởng là ta chỉ sống theo bản năng tự nhiên chứ có “triết lý triết học” gì đâu, nên lại càng dễ bị cuốn theo nó.

         Tôi muốn kết nối những hiện tượng trên với những vấn đề căn bản của đời sống mấy chục năm nay ở một đất nước chiến tranh.       

         Còn nhớ hồi ấy, ở miền Bắc, nhu cầu động viên thanh niên đi bộ đội là rất cao. Nhiều học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường khi cần cũng được gọi đi. Và để giúp người đi thêm yên lòng, có hẳn một chủ trương là những thanh niên như vậy dù không học xong cấp III cũng cho tốt nghiệp. Hơn thế nữa dù trước đó họ có là những thanh niên càn quấy đi nữa thì việc họ tự nguyện ra đi đã xóa sạch tất cả. Họ được coi là những người có hạnh kiểm tốt. Sự có mặt ở chiến trường – nói rộng ra, sự đóng góp cho cuộc chiến đấu chung -- đã là cái tiêu chuẩn lớn nhất để đánh giá con người.

        Liên hệ với những trường hợp khác, tôi tạm rút ra một kết luận: chiến tranh cho phép làm tất cả miễn là chiến thắng. 

        Hơn ba chục năm nay, kinh tế đóng vai trò mặt trận chính. Nhu cầu của đất nước là phát triển sản xuất để thêm nhiều của cải hàng hóa, là xây dựng, là làm hàng xuất khẩu, là hội nhập…Trong hoàn cảnh một đất nước còn quá nghèo, hàng núi chi phí bầy ra trước mắt, thì tất cả các hoạt động đa dạng đó nói nôm na rút lại là làm sao để có tiền. Lý tưởng nhất là mỗi địa phương mỗi đơn vị cơ quan bớt ngửa tay xin trên mà tự làm thêm ra tiền để tự nuôi và nếu nộp cho nhà nước thì càng tốt.

       Khả năng sinh lợi được coi là khả năng lớn nhất mà cấp trên đòi hỏi ở cấp dưới, nhà nước đòi hỏi ở người dân. Nó là tư tưởng mà cũng là đạo lý trong thời đại mới.

       Một xu thế suy nghĩ đang thịnh hành, đóng vai một thứ luật miệng, người ta hiểu ngầm với nhau. Anh có thể đi buôn dù chức năng anh không phải là buôn; anh có thể chạy chọt xin xỏ, anh có thể có những sáng kiến kỳ cục, miẽn là anh gây được một thành tựu có tiếng vang trong xã hội…Trong hoàn cảnh một đất nước mà luật lệ còn mơ hồ và sơ hở, gần như tất cả đều được phép, miễn sao nảy sinh lợi nhuận, và góp thêm năng lượng cho cái bộ máy chung đang hoạt động. 

        Vậy là một trong những quy luật chủ yếu của chiến tranh đang được tiếp tục. Chiến tranh tưởng đã lùi xa mà dư âm còn vang vọng. Tinh thần của nó có mặt trong nhiều hành động của chúng ta hôm nay. 

         Một mặt ai cũng rõ trong hoàn cảnh hiện nay, thứ triết lý này không nên tiếp tục. Nó không bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Tức không giúp cho sự phát triển lành mạnh của con người. Khổ một nỗi, nó lại gắn liền với quá khứ vinh quang của chúng ta. Hơn thế nữa, nó chỉ cho chúng ta con đường dễ mà đi. Giữa lúc khó khăn, nó mở ra cho chúng ta những thành tựu theo lối “ăn xổi ở thì”, tóm lại là nó ve vuốt nịnh bợ chúng ta. Từ giã sao nổi?       

                        







NGHĨ MÌNH CÔNG ÍT TỘI NHIỀU


       Chiến tranh cần đến sự có mặt của người văn nghệ sĩ ngay ở chiến trường. Bởi vậy từ hồi ấy, giới văn nghệ chúng tôi có thói quen tôn vinh những người làm nghề dám có mặt ngay bên cạnh người lính để viết. Bất kể tác phẩm của họ chất lượng ra sao, riêng sự ra đời của chúng đã được xem như những chiến công. Và chúng tôi dành cho cả người lẫn tác phẩm loại đó đủ thứ ưu ái, kể cả những danh hiệu cùng những phần thưởng sang trọng. 

      Trong chiến tranh làm vậy là đúng. Nhưng trượt dài theo thói quen, chúng tôi kéo nó sang cả thời bình. Các sáng tác được bình giá nhiều khi không phải do chất lượng mà do người viết ra nó có vị trí ra sao trong giới. Từ đó tạo ra một sự hỗn loạn về giá trị. Cũng từ đó muốn hay không muốn trong tâm lý nhiều người làm nghề nảy sinh một xu hướng dễ dãi, không chịu khổ công lao động nghệ thuật mà chỉ cốt lo tao cho mình những uy tín hão. Thậm chí một số cố bám vào những công trạng hôm qua để hạch sách và đòi hỏi. Bề nào mà xét cũng phải nhận lúc này, đóng góp hôm qua đã trở thành vật cản níu kéo người ta lại.

       Một trong những chi tiết gây bất bình trong vụ án sơ thẩm xử quan chức “ăn đất” ở Đồ Sơn: ông X. giám đốc Sở tài nguyên và môi trường thành phố, một trong những người chủ trì vụ này được cấp ủy và ủy ban đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm. Lý do được gói gọn trong mấy chữ đại ý ông vốn là người có công trong hoạt động ở địa phương từ trước tới nay.

      Đã bao nhiêu lần tôi thấy cách tòa án các cấp giảm nhẹ tội cho những viên chức có lỗi theo lý do tương tự. Xét vì họ lớn lên trong một gia đình có truyền thống…Hoặc Xét vì vốn có nhiều đóng góp… rồi án nặng trở thành nhẹ -- tiêu phí của nhà nước và mang về cho vợ con tiền tỷ, lúc bị phanh phui, cũng dễ dàng được tha bổng.

      Về tình mà xét thì trong những trường hợp này không ai cãi được. Uống nước nhớ nguồn là đạo lý dân tộc. Nhưng có phải có ít công hôm qua rồi hôm nay muốn làm gì thì làm? Đã rõ là trong trường hợp này, người ta đem công lao làm quân tẩy để vô hiệu hóa luật pháp, cố tình không đếm xỉa đến sự đổi thay trong hoàn cảnh, và lấy hiện tại làm vật hy sinh cho quá khứ. 

      Cái khó ở đây bắt nguồn từ một lối ứng xử phổ biến của xã hội. Anh có công ư? Trước mắt đất nước còn nghèo chưa tính hết đóng góp cho anh được. Thôi chỉ còn có ít chức vụ đi kèm với những quyền hành. Ở đấy anh có thể có đóng góp thêm, rồi “khéo làm thì no khéo co thì ấm”, anh liệu mà tìm cách tự bồi dưỡng (!).

     Nhưng như thế là gì nếu không phải là đẩy người có công hôm qua vào chỗ lộng quyền và cho người ta lý do để tự biện hộ cho mình, khi sa vào vũng bùn tội lỗi. 

     Ca dao xưa “Ăn mày là ai ăn mày là ta – Đói cơm rách áo mới hóa ra ăn mày”. Tôi muốn sử dụng thêm cả bút pháp của Bút Tre để nhại thành 

 Tham nhùng (nhũng) là ai, tham nhùng là ta 

 Cậy công cậy thế hóa ra tham nhùng 

      Truyện Kiều từng làm đau lòng bao người bởi cái kết cục thê thảm. Trong cơn nhớ quê, Kiều khuyên Từ Hải ra hàng. Rồi Hồ Tôn Hiến phản bội và Từ chết giữa trận tiền. Chứng kiến cái chết của Từ, Kiều đau lòng tự trách mình rất nhiều. Lúc tỉnh táo nhất cũng là lúc nàng sòng phẳng tự đánh giá “Nghĩ mình công ít tội nhiều”

      Hơn hai trăm năm đã qua mà nhiều người từng vào sinh ra tử hiện nay không có nổi cái tự nhận thức sâu sắc đó thì còn làm ăn gì nữa!









LÀM SAO CÓ THỂ SỐNG KHÔNG HY VỌNG?

                                                                                                        

 Xếp hàng đã được biết tới như một cách sống điển hình của dân Hà Nội những năm chiến tranh. Bắt nguồn từ sự thiếu thốn thường trực và tin chắc là không bao giờ chấm dứt, cuộc sống “xếp hàng cả ngày” rút cục tạo cho con người ta một cảm giác vô vọng và những hành động kỳ cục không sao hiểu nổi. 

        Một người bạn tôi kể trong những năm ấy, nhiều lần cứ thấy có đám xếp hàng là đang đạp xe trên đường chị cũng lao vào giữa đám người ồn ào để tranh chấp lấy một chỗ mà chờ đợi. 

        Chỉ một hai lần chị mua được thứ hàng ưng ý. Còn phần lớn là những cuộc xếp hàng vô ích.

         Hoặc người ta bán những thứ hàng chị không cần. Hoặc đơn giản là hàng không về. 

         Nhưng bận sau thấy có đám đông người chi vẫn lăn xả vào.

         Đến lúc nào đó hình thành một thói quen, nhiều người tuổi tôi, cả đàn ông lẫn đàn bà, cả dân sống với chữ nghĩa bút mực lẫn những người lao động chân tay, chúng tôi chia sẻ với nhau một cách sống dùi gắng băm bổ, vội vã, lấy sự bươn trải làm mục đích, cốt chứng tỏ trước mọi người là mình đang nỗ lực hết mình, còn kết quả thế nào không dám nghĩ tới. 

         Sau chiến tranh cả người tiếp tục nghèo khó lẫn những người “giầu lên đùng đùng theo một cách không ai cắt nghĩa nổi”, chúng tôi vẫn bị chi phối bởi cách sống cách nghĩ nói trên, chẵng những thế còn cảm thấy nó đã ngấm vào mình chi phối mình, có muốn cũng không thể từ bỏ. 

      Tôi thường nhớ tới nó cái khi theo dõi nhiều hoạt động xã hội hàng ngày, như các phong trào thi đua, các cuộc chạy theo mốt, các đám lễ hội, du lịch…và hôm nay là chuyện học sinh lao vào học hè. 

       Ở đây không khỏi có lỗi của những người biến giáo dục thành hoạt động kinh doanh, lợi dụng tâm lý quá lo lắng của cha mẹ với con cái, từ đó kiếm lời. 

      Nhưng để việc đó sang một bên, về phía chúng ta, tại sao chúng ta bảo nhau giơ đầu cho họ chém như vậy?

      Tôi nghĩ đây chỉ là thêm một bằng chứng về sự khủng hoảng giáo dục đã đến hồi kịch liệt và hằn sâu vào lòng người, trở thành trạng thái tâm lý xã hội cố kết bền vững.

       Nhiều người quanh tôi hôm nay hối thúc con cái ngày đêm đèn sách trong tâm lý ngờ vực. Trong thâm tâm thừa biết là sau khi nhận con cái ta vào học, nhà trường hiện nay chỉ cho ra những sản phẩm rất ít được việc cho xã hội. Thế nhưng làm sao bây giờ? Tìm đâu một chỗ học khác? Tiền đâu cho đi nước ngoài? Thôi thì chỉ đành thúc con cái học nữa học thêm, học quên chết, “để nếu cuối cùng chúng nó có kém thì mình cũng không có gì phải ân hận”.

     Khi bị đẩy tới cùng, con người tuyệt vọng lại hóa thân thành con người của hành động, nghĩa là những kẻ hy vọng.  

       Theo chỗ tôi nhớ, khoảng cuối 2009 (?) một hãng tin nước ngoài từng có một cuộc phỏng vấn ở hàng loạt nước để xét xem người dân ở nước đó có bằng lòng với cuộc sống không. Và trái với dự đoán của họ, hóa ra ở ta dân tình nói chung vui vẻ, số người bằng lòng và tin tưởng ở cuộc sống lại cao hơn so với người dân nhiều nước thanh bình khác. 

       Làm sao có thể sống không hy vọng được? Dường như đó là cái lý lẽ ngấm ngầm đứng đằng sau giải thích cho mọi nỗ lực. 

       Niềm hy vọng đã thành thói quen từ lúc nào mất rồi, hy vọng ở mọi việc hàng ngày và càng những lĩnh vực có quan hệ tới tương lai, như trong việc lo cho tương lai lớp trẻ, người ta càng không thể không hy vọng. 

       Nhà thơ Đức Bertold Brecht (1898—1956) có một bài thơ mang tên 1940 trong đó ông kể lại cuộc đối thoại ông với người con trai. Con ông lần lượt hỏi có nên học tóan không, nên học tiếng Pháp nữa không, cần học sử không. Trong bụng nhà thơ thừa hiểu học không là gì. Thế nhưng bản năng làm cha không cho phép ông nói hết sự vô nghĩa của đời sống với đứa con. Bất ngờ mà tự nhiên, cuối cùng bài thơ lại chốt bằng hai câu ngược hẳn với mạch đối thoại nói trên “Thế rồi tôi nói: Ừ con—Con học tóan, học Pháp văn, học sử”.

        Một tình trạng ham sống kỳ lạ của con người hiện đại, khi được B. Brecht ghi lại một cách trần trụi, thực đã soi sáng cái phần tối tăm lờ mờ và cả những nghịch lý trong tâm khảm nhiều người chúng ta hôm nay.          

       Sau khi kêu lên rằng cách tổ chức dạy thêm học thêm trong hè hiện nay có xu thế biến mùa hè thành cả một thảm họa với lớp trẻ, một số bậc phụ huynh đang muốn đi tìm những phương thức sinh hoạt hè mới để làm cho đời sống của cả chúng ta lẫn lớp trẻ có tính nhân văn hơn. Ghi nhận của tôi lúc này là cả hai đều có thật, cả sự tất yếu của thảm họa, lẫn tính chân chính của cái nguyện vọng muốn thay đổi, muốn vượt lên trên thảm họa. 

        Khi đọc sang bài báo nói về những sáng kiến tổ chức hè của một số cơ sở, tôi vừa mỉm cười khi ngờ là nhiều sáng kiến tốt đẹp của chúng ta thui chột rất nhanh, vừa sẵn sàng nhắc lại rằng khi sáng kiến này lụi tàn thì sẽ có sáng kiến khác tiếp nối.




TẤT CẢ CÓ THỂ LÀM KHÁC!


      Xem đoạn phim về một vườn Bách thú (cụ thể là ở Thượng Hải), điều tôi ngạc nhiên nhất lại là cái cách người ta trưng bày: trong khi thú ở Hà Nội được nhốt trong chuồng thì ở đây, thú được để hoang. Còn người đi xem cũng ở vị trí ngược lại, tức là chỉ có quyền nối đuôi nhau đi theo những hành lang đã được rào chắn cẩn thận, để từ đó đưa cặp mắt nhìn ra vườn thú.

      Người như bị dốt trong khi thú tha hồ tung tăng.

Có vẻ là hơi gò bó, nhưng để bù lại, họ được thấy con thú sống trong cái thế gần như tự nhiên vốn nó vẫn sống.

     Đọc tài liệu về một bảo tàng mới khai trương, tôi lại nhận ra một điều lý thú khác. Nếu vào bảo tàng Việt Nam bắt buộc phải nghe những người thuyết minh ( phần nhiều nói năng ngô nghê bởi không hiểu bao nhiêu về nội dung trưng bày, mà vui lòng làm một tiếng loa rè nhắc lại kiến thức đã được viết sẵn ) --, thì ở đấy, khi vào xem, mỗi người được phát cho một máy nghe, trông như điện thoại cầm tay.

Trước một hiện vật nào đó, nếu muốn hiểu thêm, người nghe chỉ cần bấm máy là nghe được lời thuyết minh cần thiết.

     Lại có nhiều kênh khác nhau, ai biết tiếng gì mở theo kênh tiếng ấy.

     Phòng bảo tàng không còn cái cảnh ồn ào của đám học trò lạch bạch chạy theo cô giáo -- đây là cô thuyết minh — giảng bài.

      Mùa hè 1973, với tư cách một phóng viên của tạp chí Văn nghệ quân đội, tôi có dịp được lang thang ít ngày ở nhiều làng quê Quảng Trị. 

      Những xóm làng trù phú của Triệu Phong Hải Lăng chỉ vừa mới được giải phóng.

     Đến đó tôi không chỉ ngạc nhiên với các loại tivi, hoặc xe honda, mà còn mê mẩn vì một chuyện khác -- nó chủ yếu bộc lộ cái sự ngô nghê của tôi, nhưng xin phép cứ được kể cho vui – là nhà nào cũng nhiều các loại vỏ chai rượu, cố nhiên toàn rượu tây, chỉ có điều mỗi loại chai chế tạo theo một kiểu dáng riêng. 

      Nếu ở Hà Nội hồi ấy tôi chỉ biết tới một hai kiểu chai đuồn đuỗn quê quê của nhà máy rượu Hà Nội, thì ở đây kiểu nào cũng lạ. Cái tròn cái bẹt, cái cao cái thấp, cái đút túi rất thuận tiện, cái to tổ bố trông đã sướng mắt. 

      Với vài ba lần được sửng sốt như vậy, tôi thấy vỡ ra một điều, hoá ra mình biết quá ít. Và điều đáng sợ hơn, cứ tưởng ít cái đã biết là tất cả những mẫu mực nhất nhất phải theo, rồi chăm chăm nghĩ chuyện sao y bản cũ, lâu dần thành một cách nghĩ khô cứng máy móc, đến nỗi mụ mị quên hết cả tư tưởng tự do lẫn tinh thần thực dụng chân chính.

      Trong khi đó với khả năng khơi gợi ý chí sáng tạo, chính chúng, cái tư tưởng tự do lẫn tinh thần thực dụng chân chính ấy, là những nhân tố cần cho đời sống, kể cả trong những việc nhỏ nhất như... tạo dáng cho mấy cái chai cái lọ vẫn dùng hàng ngày. 

     Trong số khá nhiều những biến chuyển gần đây của ngành văn hóa, có một số nét mới liên quan đến sự tham gia của tư nhân. 

     Tư nhân có quyền thành lập hãng phim; tư nhân có quyền tham gia vào khâu in ấn, xuất bản, phát hành; tư nhân có quyền thành lập bảo tàng riêng. Ai từng có mặt trong các hoạt động văn hóa mấy chục năm nay đều biết đây là một sự thay đổi vượt bực.

     Trước kia chúng ta cứ tưởng làm thế rồi ai quản nổi, không chừng sẽ hư hỏng hết.

     Nay mới vỡ lẽ hóa ra khi xã hội hóa như thế, nhờ có yếu tố cạnh tranh, các hoạt động văn hóa văn nghệ sẽ có cơ phá được thế trì trệ hiện thời. 

     Đến văn hóa văn nghệ còn có thể làm khác được thì kinh doanh sản xuất còn đợi gì mà không làm khác – làm khác với nghĩa từ bỏ cái nếp sống nếp làm việc cổ lỗ bảo thủ để tìm đến một nền nếp mới, hiện đại, phát huy hết năng lực vốn có mà lại cởi mở, tự nhiên nữa.

QUẢN LÝ CON NGƯỜI 


     Trên trang Fb N.Th.H, ngày 30/10/2014, tôi đọc thấy đoạn văn sau đây:

Nhiều bạn bè trong nước cứ chê rằng: Người Việt mình xấu xí, lười nhác, giỏi làm thầy hơn làm thợ nên đất nước mới không phát triển chứ không phải do đường lối chính sách, vì đường lối chính sách đưa ra là đúng chỉ do người thực hiện không làm đúng theo chỉ thị mà thôi. 

Cái này là điệp khúc mà mấy bạn trẻ cuồng đảng hay phát ngôn để bảo vệ khi có ý kiến trái chiều chê trách về các vấn đề xã hội hay tình trạng bê bết của nền kinh tế hiện nay.

Thế bạn có biết, cũng là người Việt nhưng năng suất lao động của 3 triệu người Việt ở Mỹ tương đương với năng suất lao động của 90 triệu người Việt trong nước hay không? Con số 100 tỷ USD tạo ra hằng năm của 3 triệu người Việt ở Mỹ đã nói lên điều đó, điều này chứng minh người Việt không thua kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới về độ thông minh, cần cù, chịu khó, chỉ là do bị kèm cặp quá nên 90 triệu người trong nước mới làm việc kém năng suất và hiệu quả như vậy. Người xưa có câu: “Cây quýt trồng ở đất này thì ngọt mà mang sang đất khác thì chua”, và lạ thay cây quýt Việt thường chua ở xứ mình nhưng lại ngọt ở xứ người!

Bình luận của tôi gồm một số ý.

      Tại sao lại có hiện tượng ở trong nước thì dở, ra nước ngoài mới tử tế?

Dẫn chứng mà bạn N.Th. H nêu lên là không thể cãi được.

Theo tôi nó nhấn mạnh cái ý này. Là chỉ khi bị buộc phải làm theo sự chỉ đạo của người khác, chúng ta mới dứt bỏ được thói quen cố hữu từ ngàn đời ông cha để lại để có thể sống và làm việc như mọi con người tử tế khác trên thế giới.

Chính trường hợp 3 triệu người Việt Nam ở Mỹ mà bạn Hoàng nêu là nằm trong hoàn cảnh đó.

Trở lại với đầu thế kỷ XX. Do sự bảo trợ của người Pháp, sống trong một nhà nước do người Pháp quản lý, mà người Việt có được sự thay đổi trong tính cách và có những bộ phận đạt được cách sống cách suy nghĩ trình độ làm việc của con người hiện đại.

Kết luận tạm thời: chúng ta là một cộng đồng kém về năng lực tự quản lý. 

Trong những điều mà chúng ta học được từ văn hóa Trung Hoa, cái chúng ta học được ít nhất là văn hóa tổ chức xã hội, văn hóa quyền lực.

 Cai trị học – bên Trung Quốc người ta gọi là trị quốc chi đạo - là cả một vấn đề lớn, muốn có kết luận thuyết phục cần trở lại với các tài liệu lịch sử, phải nhiều người mới làm được, tôi chỉ nêu sơ sơ như vậy.

Dưới đây để chứng minh cho ý kiến trên, tôi lấy thêm một ví dụ nhỏ không phải trong khu vực chính trị mà chỉ là trong phạm vi đời sống thông thường.

Nhân bàn chuyện hướng nghiệp cho con em trong các gia đình bình thường, Phương Quỳnh bạn tôi có lần kể cho tôi chuyện sau. 

     - Con mình học khá giỏi, nhưng đi làm cho các ông chủ trong nước một hồi, thấy đằng nào cũng chết. Làm cho nhà nước thì gặp toàn những ông dốt, lại còn cái lối phong kiến cổ lỗ, coi bọn mới ra trường như kẻ ăn người ở, chuyên sai vặt.

Làm cho tư nhân - nhất là tư nhân xuất thân Hà Nội - cũng phần lớn là bọn trương ra cái biển thật to để dọa thiên hạ, chưa làm đã lo buôn lậu với lại đi hối lộ cấp trên cùng là sẵn sàng cạnh tranh với các đồng nghiệp bằng mọi thủ đoạn man rợ. 

Và Phương Quỳnh khuyên:

   - Các cậu có con bây giờ thì phải tính trước đi, cố hướng con cái kiếm được việc cho các hãng nước ngoài, ở đó cắn răng mà học lấy nghề thì mới nên người được.

Vài điều tôi tạm rút ra cho mình:

   - Xã hội Việt Nam từ nhiều thế kỷ nay chỉ được tổ chức theo những nguyên tắc quá đơn giản. Việc quản lý con người theo nghĩa đầy đủ nhất của chữ này chưa bao giờ được coi như một nghiệp vụ mà người ta phải học hỏi mới làm được. Cái khó nhất với nhiều người Việt có năng lực là tìm ra ông chủ xứng đáng với mình.

   - Chính vì chúng ta không có những nhà quản lý giỏi, những ông chủ giỏi mà mọi nghề nghiệp trong xã hội đều cứ mãi mãi lạc hậu, và trước mắt chỉ đi làm ăn dưới quyền chỉ đạo của người nước ngoài, ta mới khá lên được. Từ chỗ chịu làm ăn mọi tính cách người Việt sẽ thay đổi.

    - Chỉ lúc đó, ta mới có quyền tự hào. Chỉ lúc đó, dân ta mới sửa được những tính xấu cố hữu như lười biếng dối trá ăn cắp …và - cho tôi bổ sung thêm một thói xấu nữa - là chỉ giỏi cãi bừa cãi sằng, hễ ai động vào tử huyệt của mình là chửi người ta thiếu thiện chí.





TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG SAO ĐÂY?

                                     

       Thỉnh thoảng lại thấy râm ran chuyện buồn về các cô gái Việt Nam, nhất là các cô gái nông thôn, lấy chồng ngoại quốc. Họ bị hành hạ đủ điều. Bị ngược đãi một cách oan uổng. Nghe chuyện này nhiều người lại được dịp gạt nước mắt thông cảm. 

        Tôi không phải loại gỗ đá gì, nghe cũng thấy thảm.

        Nhưng tôi lại cũng biết rằng vào lúc này đây bao cô gái khác đang làm công việc tương tự. Tại sao ư, tại vì tình cảnh của họ ở làng xóm là gần như tuyệt vọng. Họ còn phải đi, và đám em họ sẽ đi nữa.

       Muốn tránh cái điều đau đớn đó, lẽ ra chúng ta phải tìm nguyên nhân để giải quyết từ gốc, mà phương án lớn nhất là nâng cao trình độ sống và cả đời sống tinh thần của lớp thanh niên mới lớn.

       Câu chuyện về nông dân mất đất hiện nay cũng nên nhìn nhận tương tự.

       Tôi biết ở đây có lỗi của một số cấp chính quyền. Họ tùy tiện giải quyết lấy đất để xây dựng, làm khu kinh tế, và len vào đó là chuyện tham nhũng. Rồi ngay trong nông dân cũng có chuyện vụng trộm mua đi bán lại với nhau. Tất cả dẫn đến tình cảnh một số nông dân không còn phương tiện làm ăn sinh sống.

       Nhưng theo tôi đây chưa phải là vấn đề chính của nông thôn hiện nay. 

       Có một sự thực đáng lo lắng hơn: đó là tình trạng người nông dân không muốn làm ruộng nữa. Năng suất không lên. Thu nhập từ hạt thóc quá thấp. Và việc này đã kéo dài quá lâu, kéo dài trong lúc đời sống xã hội chuyển động rầm rập, khiến họ không sao an tâm. 

       Thanh niên lao ra thành phố làm thuê làm mướn. Nói chung là lớp người năng động và thông minh nhất của nông thôn tìm mọi cách để xa rời mảnh đất. 

       Nếu không mất đất vào các khu công nghiệp thì trước sau họ cũng đặt mảnh đất đang có vào vòng tay của tình trạng lạc hậu và sự quên lãng. 

       Mảnh đất mà cha ông họ mơ ước, nay họ không thấy thiết tha nữa. Có mà cũng như không có!

       Tôi không phải là một chuyên gia nghiên cứu về nông thôn. Nhưng chỉ ở Hà Nội, nghe chuyện ô-sin trong gia đình và hàng xóm, nói chuyện với mấy người đẩy xe hàng rong trên đường và dừng lại ở các xóm liều tạm bợ …, tôi tin rằng mình không nói liều.

        Cái lỗi lấy đất bừa bãi của nông dân kể cũng đã lớn lắm. 

       Nhưng theo tôi cái lỗi lớn hơn của cả chúng ta là không giúp cho người nông dân bước vào đời sống hiện đại một cách đàng hoàng, hợp lý. 

       Giúp như thế nào? Là làm cho người nông dân có thông tin để hiểu cái xu thế thời đại và con đường mà họ sẽ phải trải qua. Là giúp cho họ làm chủ số phận của mình mà không trở thành nạn nhân của công cuộc hiện đại hóa.

      Đây không phải là công việc riêng của các cấp chính quyền địa phương mà là việc chung của nhiều người. Của cả những người dân thành thị. Của các nhà quản lý lẫn các nhà nghiên cứu. Nhất là của những người hiểu biết về con đường hiện đại hóa của các nước trên thế giới.

      Giữa năm 2007, chính tai tôi được nghe nhà kinh tế Lê Đăng Doanh kể là ở Đài Loan, khi lấy đất của nông dân trao cho các loại công ti sản xuất và kinh doanh, người ta buộc công ti phải bán cổ phần cho nông dân, và coi như giữ tiền hộ họ, tiền lãi ở đấy một phần đáng kể giúp họ bảo đảm sinh kế lâu dài.

      Ồ, tuyệt quá, tôi vừa nghe đã nghĩ kinh nghiệm hay thế, sao ở mình không làm nhỉ.

      Nhưng vừa nói lại với một người bạn, liền bị anh ta chỉnh cho ngay: 

     -- Hão hiền! Làm thế các công ty bị ràng buộc, mà chính quyền chẳng được lợi gì. Công ti cũng không muốn làm mà chính quyền cũng không muốn làm. 

      Rồi anh lại xoay qua một khía cạnh khác:

     -- Thử đặt mình vào tâm lý ông nông dân nhà mình mới thấy hết rắc rối. Mấy ai nghĩ rộng là mình sẽ sống sao trong thời đại hội nhập. Trước mắt họ chỉ nhìn vào đồng tiền. Nếu không dùng tiền chơi bời mua sắm thì cũng dùng để làm vốn buôn vặt. Họ thừa tự tin trong việc này. Chứ mua cổ phần của các công ti đến làm ăn ở quê hương họ ấy ư, còn lâu! Đến lúc thất cơ lơ vận, nghĩ ra con đường đúng thì đã muộn!

      Phân tích một hồi, hóa ra trách nhiệm là ở nhiều phía. Mà trách nhiệm lớn nhất vẫn thấy là trên vai chính quyền các cấp. Nông dân có thể nghĩ lầm chứ chính quyền thì không thể.

       Nhưng để giải quyết đúng đắn chuyện này, còn mất thời gian mò mẫm, và tất cả các phía đều bắt chúng ta chờ đợi.

       Quay trở lại cảnh mấy cô gái tâp tểnh lấy chồng Hàn quốc hoặc Đài Loan. Nên nhớ rằng việc nhân duyên với họ bao hàm cả việc kiếm sống, mà cả hai đều là tự nguyện. Vậy cấm thế nào bây giờ?

     Anh bạn tôi, cuối câu chuyện, khóa lại bằng một câu có vẻ vô cảm, nhưng là thực tế:

    -- Khi không thay đổi được hoàn cảnh, tốt hơn hết là chấp nhận cho xong. Chứ đã biết là không ngăn chặn được tình trạng này từ gốc, mà thỉnh thoảng lại nổi cơn sụt sùi thương xót, cho phép nói thật nhé, thấy buồn cười lắm!         

 

CÁI VẠ CHẾT LÒNG

                                                                           

       Nghe báo chí nói tới đã lâu, song mãi tận kỳ vào Sài Gòn tháng sáu 2008, tôi mới thật chứng kiến cảnh thành phố kẹt xe triền miên đến vậy. Một người tắc xi nói:

      -- Bây giờ thì chẳng ai nhường đường cho ai nữa, ai cũng cố chen lên bằng được thành thử đường càng thêm kẹt, mà người sao đối xử với nhau quá tệ. Con người bây giờ ác quá.

      Cái nhận xét ngẫu nhiên đã chạm tới mối quan hệ giữa người với người trong đời sống hàng ngày, mà giao thông chỉ là một bộ phận. Lẽ ra chúng ta phải nhìn những người đang ngồi trên chiếc xe cạnh xe mình với cặp mắt thiện cảm. Cùng dân thành phố với nhau, cùng lo làm ăn công chuyện, lẽ ra phải giúp đỡ nhau chia sẻ với nhau. Đằng này hình như mỗi người cùng đi với ta trên đường là đối tượng cạnh tranh với ta, là kẻ ngăn cản ta trong cuộc mưu sinh quyết liệt, kẻ làm hỏng mất dự định tốt đẹp ta đang theo đuổi. Giữa những người cùng đi đường tự lúc nào đã nảy sinh cái quan hệ giữa các đối thủ, – có ai muốn đâu mà sao lại có cái cuộc biến hình khốn khổ vậy. 

       Nên chú ý tới một khá cạnh tâm lý nữa: sau khi phải vượt qua một chặng đường chen chúc khó chịu, nhiều người cảm thấy mệt nhoài. Sinh ra nản lòng. Sinh ra ngán ngẩm. Cảm thấy mình không được tôn trọng. Tự thấy mình như bị đọa đầy, lại thấy mình có quyền hư hỏng cho đỡ bực.

       Có thể tôi đã phóng đại một chút nhưng đó chính là một phần những chấn thương tâm lý mà tình trạng giao thông căng thẳng đã mang lại.   

       Tôi nhớ tới những chấn thương khác.

       Một đứa cháu con anh bạn đang dạy tiếng Anh ở một trường trung học cơ sở mới đây vừa xin nghỉ việc để đi làm cho một công ty nước ngoài. Bạn cho rằng chỉ vì thu nhập? Không hẳn. Ở Hà Nội hiện nay chỉ cần biết tiếng Anh nhì nhằng một chút cũng sống lắm. “Khổ nhất với cháu bây giờ là không yêu được học sinh. Chẳng những nó dốt nó lười mà nó còn láo với mình nữa chứ chú. Cái bài làm mình vừa trả, nó nhìn qua rồi liệng ngay xuống đất. Chỉ vào lớp năm phút nhiều khi cháu đã muốn bỏ lớp để đi. Thế thì làm sao cháu tiếp tục cái công việc mà người ta bảo là thiêng liêng này được nữa” – khi nghe cháu nói như vậy, tôi còn biết khuyên bảo gì nữa.

      Trong các gia đình, các bậc cha mẹ đang phải chứng kiến một lớp trẻ chán chường. Trẻ không thiết học. Trẻ không tìm thấy niềm vui sống. Trẻ nhìn người lớn bằng con mắt nghi ngại, căm ghét. Thế có nên đổ hết lỗi cho lớp trẻ. Không đúngh! Mặc dầu chúng ta đã tìm hết cách để hạn chế việc đưa tin gọi là tiêu cực trên mặt báo, song ai cũng hiểu là làm sao ngăn chặn hết được cuộc đời ùa vào tai con em chúng ta. Chỉ cần ra phố, chỉ cần ngồi với một đám bạn bẻ, chỉ cần nhìn cảnh một phiên tòa trên tivi, chỉ cần lắng nghe câu chuyện qua lại giữa bố mẹ bên bữa cơm…bọn trẻ đã hiểu hết tất cả. 

        Cá nhân cảm thấy không thể ảnh hưởng tới hoàn cảnh xã hội đang sống, không tìm được chuẩn mực đúng đắn cho mọi hành vi của bản thân và tự nhiên cuộc đời mất đi khá nhiều ý nghĩa đáng lẽ phải có. Khi nhận ra mọi giá trị đảo lộn, họ cảm thấy chỉ có thể đạt tới mục đích của mình bằng những con đường bất hợp pháp. Trong khi trở nên càn rỡ hư hỏng, họ vẫn cảm thấy cô đơn và không ai hiểu hết cho mình …

       Trên đây là nội dung của khái niệm tha hóa được các nhà xã hội học hiện đại miêu tả, và được ghi lại trong cuốn Từ điển xã hội học do Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện chủ biên.

       Không còn phân biệt đúng sai; mất lòng tin ở chung quanh và chính mình; không còn cảm thấy cái gì là thiêng liêng; nghe mấy chữ “tình người” giống như một lời đùa cợt; thấy ai giàu nghĩ ngay rằng người ấy phi làm ăn bất hợp pháp thì cũng tham nhũng ăn cắp…-- bằng kinh nghiệm ở mình và những người quanh mình, tôi cảm thấy lúc nào cũng có thể bổ sung những chi tiết tương tự để vẽ nên tâm lý con người hiện đại.

      Người xưa có câu “cái vạ chết lòng” là chỉ cái ý này. Trong các sách sinh học người ta nói rằng trước khi chết thực sự, thật ra “cái chết bộ phận” diễn ra thường xuyên trong mỗi sinh vật. Cái sự chết lòng nói ở đây cũng dùng theo nghĩa đó. Tôi không nói tất cả, nhưng quả thật tình trạng tha hóa không xa lạ với nhiều người. Với lớp lớn tuổi thì còn đỡ. Ta tìm cách chống lại. Rồi ta có vẻ khỏi bệnh. Rồi ta lại mắc tiếp. Đến như lớp trẻ thì bệnh trạng phát triển rất nhanh và nhiều trẻ đang nhòai ra khỏi tầm tay chúng ta để sống với niềm tin của những kẻ sống để trả thù đời, để bất cần, phá phách. Khi người ta trẻ thì các chấn thương càng nặng.          

        









NHỮNG NỖI ĐAU CỦA THỜI NAY


      Nghề nghiệp buộc tôi luôn luôn phải trở lại với văn chương quá khứ. Qua các trang sách đã đọc, tôi hiểu con người thời nào cũng có những nỗi đau khổ lớn lao. Song, nếu được so sánh, tôi vẫn cảm thấy so với họ, con người thời nay đau đớn gấp bội. Đau đớn không phải do “trời xanh” hay “con tạo” gây ra, mà đơn giản do cái xu thế chi phối cả xã hội lôi cuốn người ta, đau khổ do người nọ gây ra cho người kia, hoặc suy đến cùng là do chính mỗi người tự chuốc lấy. Cuộc sống trần trần trong ánh ngày đấy mà như trong cơn mê, và thỉnh thoảng người ta tỉnh ra thì cũng lập tức biết rằng tất cả đã muộn, tình thế vô phương cứu chữa.

      Có lần, tôi đã kể về một cô giáo trẻ chạy trốn khỏi nghề dạy học. Cô không đương nổi nỗi đau mà nhiều thầy giáo có lương tâm bây giờ phải gánh chịu: không có được lớp học trò tử tế để có thể yêu thương tin tưởng, cống hiến hết mình cho nghề.

      Những nỗi đau tương tự như thế diễn ra hàng ngày đến mức người ta đâm ra dạn dày không muốn nghĩ tới. Lớp người năm nay sáu mươi, bảy mươi tuổi chúng tôi thỉnh thoảng lại có những buổi họp lớp. 

      Một kết luận khiến nhiều người sững sờ: kẻ thành công trong đường đời (giàu hơn và có địa vị xã hội cao hơn) nhiều khi không phải là người giỏi giang mà đơn giản chỉ là những kẻ liều lĩnh hơn, dám làm... láo hơn.

      Trở thành công chức nhà nước, chúng tôi thèm được làm việc trong những cơ quan mà người đứng đầu thạo việc hơn mình, để rồi khốn khổ thay, đó là ao ước không mấy người đạt được.

      Nhưng thôi, những nỗi đau đó xem ra còn có vẻ “sang trọng” quá. Có nhiều nỗi đau cụ thể hơn, đời thường hơn. Chẳng hạn bạn hãy tìm đến một gia đình nào đó có đứa con bị nghiện hút.

       Bây giờ cuộc mưu sinh quá lôi cuốn, đến mức nhiều người nhắm mắt bỏ qua, con hư mặc kệ, hàng ngày nhẫn nại mở tủ cung cấp cho con tiền bạc tiêu xài. Bản thân thì lấy sự chi tiêu tốn kém cho con làm cái cớ để bước sâu thêm vào vòng tham nhũng hoặc buôn gian bán lận, cốt bòn rút được của cải của thiên hạ và lấy đó làm điều hãnh diện. Song, bên cạnh những người mê muội vẫn còn những người tỉnh táo hơn và tấn bi kịch tinh thần của họ bắt đầu từ sự tỉnh táo đó.

       Sau những cố gắng tuyệt vọng để cứu vớt đứa con hư và tìm cách đưa nó về con đường chính đáng, nhiều gia đình rơi vào bất lực và tuyệt vọng. Đến nước ấy, người ta chỉ có cách từ con, rồi lo chạy chọt để tống con vào trại cai nghiện và thầm mong mỏi một điều ngược đời: mong cho đứa con rứt ruột của mình chết đi càng sớm càng tốt. Vâng, đúng thế vậy! Hãy hình dung cái cảnh những bậc cha mẹ mặt lạnh như tiền đến đón đứa con mang đi mai táng, xem như thoát được một gánh nặng và một nỗi nhục nhã. Chẳng phải đó là tình cảnh phi nhân văn nhân đạo, tức trái với tính bản thiện của con người, những tình thế xưa nay chưa từng có mà chỉ ngày nay mới có?

       Hàng ngày báo chí loan tin bao nhiêu kiểu giết người mà tôi không muốn kể ra ở đây vì thấy quá kinh dị. Chỉ nói một ca nhẹ hơn, một cháu bé trong cơn điên thèm chơi game, bóp cổ bà già hàng xóm lấy tiền. Tôi ngờ là trong số những người thân của cháu nhỏ này, một lúc nào đó, trong đầu óc sẽ quẩn lên câu hỏi, con mình hay cháu mình có còn là người nữa không. Nỗi đau của những người đó - khi mơ hồ dự đoán tương lai của đứa trẻ - chắc chắn là một nỗi đau vô bờ.

      Hạnh phúc cuối cùng của con người xưa nay là tình yêu cuộc sống, thấy rằng cuộc sống có ý nghĩa. Chỉ nhờ có được điều hy vọng tự nhiên đó mà con người vượt lên được bao nhiêu thách thức gặp phải trên đường đời. Nay cái ý nghĩa lớn lao đó nhiều người không tìm thấy. Tương lai trở nên vô vọng. Cuộc sống chỉ còn chuồi đi theo thói quen. Tự mình chứng kiến sự hư hỏng của mình và những người thân của mình - hỏi có nỗi đau khổ nào hơn, và về mặt này, những lớp người tiền bối làm sao có thể so sánh với nhiều người chúng tôi hôm nay được! 
















NHỮNG LỐI ĐOẠN TRƯỜNG


       Thư viện quốc gia Hà Nội hàng tháng thường có những buổi nói chuyện về đủ loại vấn đề đang được dư luận quan tâm. Một ngày hè 1976, tôi có dịp được nghe một buổi nói chuyện loại đó mà diễn giả là kỹ sư Trần Đại Nghĩa. Đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, ông cũng như nhiều người nghĩ nhiều đến sự phát triển kinh tế, trong đó có việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài. Bấy giờ nước Nhật còn là cái gì xa xôi lắm. Trần Đại Nghĩa kể ở Tokyô, các kỹ sư đứng ở ngã tư, để nghe mọi người phát biểu về kinh tế, ai nói họ cũng ghi để tham khảo, ai nói hay họ còn trả tiền. Quay về mình ông bảo đừng ỷ vào tài nguyên mà phải dành nhiều quan tâm tới khâu quản lý, không quản lý tốt kinh tế không khác gì thùng không đáy. Đất nước được quản lý kém thì có độc lập cũng chỉ là độc lập hờ, độc lập giả. Nước mình lạ lắm, càng những ngành then chốt càng lạc hậu, ông nói tiếp. Về hướng phát triển ông gợi ý đủ chuyện từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn. Chuyện nhỏ (đúng ra phải nói “có vẻ là nhỏ”) đào tạo công nhân lành nghề khó lắm, thợ hàn cao áp ở VN đào tạo 100 người chỉ đậu được 4 người. Chuyện lớn (cái này thì lớn thật) - phải hiện đại hóa về giao thông và thông tin. Phải tiêu chuẩn hóa mọi chuyện. Tiêu chuẩn hóa là công cụ để đạt tới hiệu lực, biến khó thành dễ. Một điều lạ nữa với bọn tôi là ở chỗ tuy làm khoa học kỹ thuật, nhưng Trần Đại Nghĩa lại xem trọng khoa học xã hội. Ông báo động là cả nước 50 triệu người mà gần như không có ai nghiên cứu tâm lý. Hiểu và xử lý đúng tâm lý xã hội tâm lý nhân dân không tốt, thì cũng quản lý kinh tế không tốt. Tổng quát hơn ông nói đến cái sự mình phải minh bạch với mình, rành mạch với mình. Bấy giờ là những năm tháng đầu tiên sau chiến tranh nên cái sự giấu giấu giếm giếm còn tạm tha thứ được. Song Trần Đại Nghĩa đã thấy đủ những tai hại mà cái lối “gì cũng coi là bí mật” ấy gây ra. Theo Trần Đại Nghĩa, trong quản lý xã hội phải xác định bằng được số liệu chính xác. Vì đây là bước đầu để đi tới mình nắm được mình, tự xác định được vị trí của mình trên thế giới.

        Lần giở lại những trang ghi chép được hôm ấy tôi thấy nó giống như một lời tiên tri. Bởi nó đúng quá, đúng cả với “thời gian lớn” là hơn ba chục năm nay, cả với “thời gian nhỏ” là khoảng dăm bảy năm nay. Cả cái cách nó bị quên lãng nữa chứ! Và tôi thầm nghĩ sao lịch sử oái oăm vậy, những suy nghĩ đúng thì không được thực hiện, những cảnh báo đúng thì không được đề phòng, khiến cho đất nước cứ ì ạch mãi.

        Vào lúc này trên báo chí có đăng nhiều ý kiến liên quan tới tình hình lạm phát và nhân đó thử nêu ra những “cách đọc” khác nhau với nền kinh tế. Không kể nhiều chuyên gia nước ngoài, ngay các nhà chuyên môn người mình như Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Vũ Quang Việt, Vũ Thành Tự Anh…cũng nêu được nhiều sự lý giải rất xác đáng. Giữa tháng chin vừa qua, qua mạng Vietnamnet, tôi được đọc ông Bùi Kiến Thành. Ông bảo một đất nước không có thị trường nội địa mà chỉ lo xuất khẩu thì không thể tự chủ. Ông bảo nhiều ngành kinh tế của ta đang trong tình trạng học việc mà lại học không đến nơi đến chốn, Ngân hàng thì như tiệm cầm đồ cho vay. Vừa rồi có chuyện nông dân nuôi cá ba sa lao đao vì không bán được hàng, còn xí nghiệp xuất khẩu thì không vay được tiền để mua cá. “Qua chuyện này -- Bùi Kiến Thành nói tiếp - tôi liên tưởng tới hình ảnh, chúng ta có một đám ruộng rất tốt, ở trong đó có mấy đám cỏ dại, vấn đề đặt ra làm sao diệt được đám cỏ dại đó thì chúng ta ra một chính sách là rút hết nước ra cho cỏ chết, chính sách vĩ mô là như vậy”.

      Đọc những ý kiến loại này tôi lại nhớ cái buổi nói chuyên hơn ba chục năm trước của Trần Đại Nghĩa. Chẳng nhẽ rồi đây lịch sử sẽ lặp lại như cũ? 

      Hàng ngày có nhiều việc vừa làm xong tôi đã thoáng hối hận. Ai mà chẳng thế, có làm là có sai. Nhưng tôi nhớ nhất một số trường hợp rất lạ, trước đó mình đã nghĩ đúng rồi, vậy mà khi bắt tay hành động, vẫn lầm lỡ thảm hại. Những lần như thế khiến tôi đau xót và tiếc nuối bội phần. Tại sao mình lại đổ đốn vậy? Do dốt một phần.  Nhưng tôi nghĩ đến một thủ phạm nữa là những thói quen cũ không chế ngự nổi. Để chỉ cái tình trạng lưỡng phân rất đáng tiếc này, người xưa có nhiều cách nói thú vị Hòn chì thì mất hòn đất thì còn, Hoa thường hay héo có thường tươi, Răng cắn phải lưỡi…  Nghe hơi tục thì có câu Miệng khôn trôn dại. Nhưng tôi thích hơn cả là câu trong Truyện Kiều Ma đưa lối quỷ đưa đường, lại tìm những lối đoạn trường mà đi. Đoạn trường ở đây có nghĩa là đứt ruột. Có những lầm lỡ làm người ta tiếc đến đứt ruột, và e sợ hình như ở đây đã có vai trò của ma quỷ. Cá nhân mắc nạn loại này đã đau lắm rồi. Đến như cả cộng đồng cả xã hội, nếu không tránh được, thì sự đời chẳng phải là oan nghiệt quá sao? 











                           

TA TỰ NHẬN DIỆN LẠI TA


        Ở những quán hàng giản dị của phố cổ Hội An, thỉnh thoảng tôi vẫn bắt gặp những đôi bạn một ta một Tây trò chuyện với nhau khá tương đắc. Hỏi ra mới biết người Việt kia là chủ nhà hàng, người Tây kia chỉ là khách vãng lai, song ở đây khá nhiều ông chủ thông thạo tiếng nước ngoài, và nhất là đủ vốn văn hoá để trò chuyện với khách. Khách thích lui tới cửa hàng, phần vì món ăn, phần vì chính con người chủ nhân, lúc này đã trở thành một đối tượng đáng để người ta tìm hiểu, cũng như một hướng dẫn viên du lịch thành thạo.

        Lại nhớ tới tình trạng phòng thừa của nhiều khách sạn hiện nay - dấu hiệu của tình trạng “mất mùa du lịch” mà không ai che giấu nổi, dù rằng không thiếu khách sạn vào loại mấy sao có đủ mọi thứ tiện nghi hiện đại.


Có phải tại nghèo không?

       Từ chuyện du lịch, lại nhìn sang mọi chuyện khác của thời mở cửa. 

        Sau hai cuộc chiến tranh khốc liệt, từ hơn hai chục năm nay, dân tộc ta mới có thì giờ để tâm vào những việc bình thường mà dân tộc nào cũng phải làm, từ lo cái ăn cái ở, lo cho con cái học hành, cho tới lên chùa cúng Phật, dọn dẹp đình miếu ghi nhớ công ơn tổ tiên, rồi là tiếp đãi bạn bè và thăm lại các danh lam thắng cảnh... 

        Những tưởng các việc bình thường như vậy nào có gì khó, và ai mà chẳng làm được. Nhưng rồi bao chuyện hằng ngày tai nghe mắt thấy khiến người có suy nghĩ không khỏi phiền muộn: nhiều thắng cảnh không biết quản lý, trở nên cũ nát, hư hỏng; nhiều hội hè người đến chen chân, trở thành địa bàn lý tưởng của các hoạt động mê tín, và nói chung là trôi nổi trong sự trục lợi của dân địa phương. Làm ra hạt thóc thì được, nhưng làm ra gạo ngon, gạo sạch đủ sức cạnh tranh với gạo nước ngoài thì chịu. 

        Trong khi hàng hoá ứ đọng vì không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thì dân trong nước chỉ chuộng hàng ngoại. 

        Bằng cấp làm giả, và sinh viên ra trường không có việc làm...

       Vậy thì nguyên do ở đâu, việc gì là cần kíp nhất bây giờ?

        Nhiều người quanh đi quẩn lại chỉ đổ cho sự nghèo. Giá mà ta có tiền để làm việc này, giá mà ta được nước ngoài tài trợ để tính việc kia...

       Tất cả những lời bắt mạch gọi bệnh kiểu đó có lẽ không sai, nhưng nghĩ kỹ ra mới đúng một phần.

      Qua việc đối chiếu giữa không khí đầm ấm ở các cửa hàng ăn Hội An và tình trạng trống vắng của nhiều khách sạn loại “xịn”; và trên qui mô tổng quát, qua việc phân tích thành công cũng như thất bại của nhiều dự án khác nhau, có thể nhận ra một điều là đồng tiền không phải tất cả. Cái cần xem lại lúc này là chính con người chúng ta, cách sống, cách nghĩ của mỗi chúng ta. 

      Có những nền nếp làm ăn, cách quan hệ với nhau, cách quan hệ với khách... đã hình thành từ lâu, nhiều khi là do cha ông để lại, trở thành một thứ bản năng thứ hai trong mỗi người nên ta thấy quen và tưởng không bao giờ thay đổi, nay đã đến lúc cần được xem xét lại, theo những tiêu chuẩn của đời sống hiện đại, để cái gì hay thì tìm cách giữ gìn, cái gì dở thì bảo nhau sửa đổi, có thế mới mong gỡ ra nhiều việc rắc rối trước mắt.


Chung quanh chuyện nghiên cứu văn hoá dân tộc

      Nhân đây, xin được nói tới một công việc mà thời gian qua trở nên sôi động, và có người đã nói đùa là trở thành một thứ thời thượng: đó là nghiên cứu văn hoá dân tộc.

      Ở nước nào cũng vậy, việc này sớm được coi là một ngành chủ đạo trong các hoạt động khoa học xã hội, bởi suy cho cùng nghiên cứu một dân tộc là gì nếu không phải là nghiên cứu nền văn hoá của chính dân tộc đó. Và một việc như thế mãi mãi tạo nên niềm say mê cho chính những người trong cuộc.

     Song ở ta thì tình hình không hẳn như vậy.

     Một mặt đi đâu cũng thấy nói tới nghiên cứu văn hoá: nhiều trường đại học và cao đẳng bắt đầu đưa văn hoá Việt Nam vào giờ chính thức; các giáo trình văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam được biên soạn; các tỉnh cho làm dư địa chí, các cuộc hội thảo được mở liên tiếp...

    Mặt khác, cả trong những tuyên bố rành rọt về mục đích yêu cầu, lẫn trong công việc cụ thể, có thể thấy ở nhiều người nghiên cứu văn hoá hiện nay một cách định hướng đơn giản: “nghiên cứu văn hoá Việt Nam để cho thế giới thấy văn hoá ta không kém gì văn hoá người”, “nghiên cứu văn hoá để giúp cho mỗi người chúng ta thêm tự hào về truyền thống, và để chống sự xâm nhập vô lối của văn hoá độc hại”... (Một trong những công việc mà nhiều chuyên gia văn hoá đang được huy động là giúp các nhà lãnh đạo quốc gia hình thành chiến lược văn hoá).

      Lấy những yêu cầu về phát triển trước mắt ra để nhấn mạnh tới tính cấp bách của việc nghiên cứu văn hoá - kiểu định hướng này cốt tìm tới những kết quả thiết thực, có ích ngay hôm nay.

      Không ai có thể phủ nhận giá trị cũng như mức độ cần kíp của cái công việc loại đó, nhưng tôi tưởng, sẽ là hợp lý hơn nếu xem toàn bộ hoạt động nghiên cứu văn hoá như là một cách thức hiệu nghiệm để dân tộc tự nhận thức chính mình, tự phát hiện lại mình với mọi cái hay, cái dở vốn có và đang bộc lộ trong mọi lĩnh vực đời sống.

     Một sự định hướng như thế sẽ mang lại cho công việc vốn rất khó khăn này một căn bản rộng rãi hơn và một mục đích lâu dài hơn. 

    Sẽ tránh được lối nghiên cứu nông nổi, đôi khi mang sắc thái vụ lợi, còn khá phổ biến.

    Sẽ tạo nền tảng chắc chắn cho việc hoạch định chiến lược. 

    Sẽ có thể góp phần thức tỉnh mỗi người để giúp họ sống ngày một cao quí, đúng với tầm vóc mà thế kỷ này mang lại cho họ. 

    Sẽ tạo nên một sự sòng phẳng, do đó, là khả năng thuyết phục với những bạn bè đang muốn hiểu và yêu mến nền văn hoá Việt Nam.

    Vượt qua phạm vi văn học, có những bài thơ đánh dấu nếp suy nghĩ một thời, chẳng hạn như mấy câu sau đây của Chế Lan Viên:

“Ta là ai?” như ngọn gió siêu hình

Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt

“Ta vì ai?” khẽ xoay chiều ngọn bấc

Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh

     Thực ra thì đó là cách nghĩ của những năm chiến tranh: khi mà xã hội có bao nhiêu công việc cấp thiết phải lo, nó liên quan đến cả sự tồn vong của dân tộc, ta đành gác lại những việc cơ bản và bảo rằng chúng là hư vô, là siêu hình.            Nay đã đến lúc không thể tiếp tục lảng tránh. Hơn bao giờ hết, việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản cần được đặt ra. Cần biết chính mình là gì, trước khi tính xem mình cần làm gì. Việc tìm tòi gian khổ để có được câu trả lời đích thực cho câu hỏi “ta là ai?” sẽ giúp cho xã hội tự nâng mình lên, vượt qua những khốn khó mà éo le thay, chính là tự ta gây ra cho ta và làm chậm bước tiến của ta.











MỤC LỤC

Lời dẫn

Phần 1: 

Những thói hư tật xấu bộc lộ trong làm ăn kiếm sống, đi lại, các hoạt động nghề nghiệp    

1. Kiếm sống với bất cứ giá nào!.................................................5

2. Thầy không ra thầy, thợ không ra thợ.......................................8

3. Sợi dây nối kết lỏng lẻo..........................................................12

4. Tôi nghiệp dư, anh nghiệp dư, nó cũng nghiệp dư..................16

5. Dục vọng và tai nạn..................................... ...........................21

6. Mạnh ai nấy sống..................................... ..............................25

7. Sống trên đường..................................... ................................28

8. Hỗn loạn trong giao thông hỗn loạn trong tâm lý....................34

9. Lên ngôi vua để chẳng còn thiêng!..........................................38

10. Khổ vì lắm tiền.....................................................................43

11. Ngày một hung hãn..............................................................47

12. Nhân danh hiếu thảo làm việc dã man..................................50

13. Cần những kháng sinh cho những căn bệnh tâm lý...............55

14. Chuyện lan man từ những chiếc xe gắn máy.......................59

15. Từ đôi dép đến chiếc mũ bảo hiểm .....................................66

16. Tản Đà và hịch đuổi kẻ ăn mày............................................70

Lưu manh côn đồ cũng ngày một đổ đốn...................................76

Phần 2:

Những bất cập trong thói quen sinh hoạt, trong đời sống tinh thần mỗi cá nhân, trong các mối quan hệ người với người hàng ngày

1. Rồi sẽ cười trừ với nhau một lượt..........................................79

 2. Ráo hoảnh.............................................................................84

3. Cạnh tranh như một quy luật sống.........................................88

4. Năng lực tự kiềm chế.............................................................92

5. Sự thích ứng sẽ hoá giải tất cả!..............................................96

6. Chưa chắc đã là niềm tin thực sự!........................................101

7. Những cách nghĩ tưởng như rất có lý..................................104

8. Lòng tin và khả năng tự đề kháng.......................................109

9. Nói nhiều, như một căn bệnh..............................................115

10. Một ngàn lý do để…mãi mãi lãng phí...............................120

11. Bế tắc nên sinh cờ bạc.......................................................123

12. Thô bạo nơi nơi..................................................................127

13. Tiếng ồn đáng sợ................................................................131

14. Cuộc sống luôn luôn là gồm cả hoa lẫn rác.......................135

15. Sau tội có khi là bệnh.........................................................139

16. Ngày mỗi phụ thuộc?.........................................................144

17. Nỗi thê thảm của sách vở thời nay.....................................148

18. Cầu may và cầu lợi trong tâm lý người đi hội...................153

19. Nối lễ hội vào... trụy lạc....................................................158


Phần 3:

Những tàn tích lạc hậu và những biến dạng xấu xí trong cách sống cộng đồng trong lễ nghi phong tục và các phương diện văn hóa

1. Ảo tưởng, đâu dễ từ bỏ.......................................................161

2. Những tù nhân của lợi ích trước mắt..................................166

3. Đằng sau sự tham lam nông nổi là một chút hư vô............171

4. Vừa là tình cảm, vừa là cầu lợi...........................................176

5. Chính những phụ huynh “quá tích cực” cũng có lỗi...........180

6. Tâm lý ô-sin........................................................................186

7. Những bao khoai tây lủng củng..........................................190

8. Đẹp riêng mà lại xấu chung................................................194

9. Gỡ ra cho thoát còn gì là thân.............................................197

10. Độc đáo với bất cứ giá nào!..............................................203

11. Học người là một chuyện khó...........................................207

12. Nghĩ khác thì sẽ học được.................................................213

13. Hàng hiệu và đời sống tinh thần........................................219

14. Biện hộ cho sự vô cảm.......................................................221

15. Con người suy thoái?.........................................................227

16. Đâu dễ làm người bình thường..........................................232

17. Sự cố trường diễn...............................................................235

18. Thiên nhiên điêu đứng.......................................................239

19. Một thứ tự do hoang dại....................................................243

Phần 4:

Những hạn chế kéo dài trong tổ chức và quản lý xã hội

1. Dân nhập cư trong văn chương và báo chí..........................249

2. Di dân tự phát nhìn từ hai phía............................................253

3. Tội làm hư dân.....................................................................258

4. Ăn lận vào tương lai của con cháu! ....................................262

5. Cái nghèo dai dẳng..............................................................265

6. Cảm giác có lỗi....................................................................269

7. Hồn Trương Ba, da hàng thịt...............................................273

8. Mấy cây si và đôi voi đá......................................................277

9. Tại sao có nạn chùa giả? .....................................................281

10. Hàng giả vẫn được ưa thích...............................................286

11. Chống tham nhũng kiểu Chí Phèo.....................................289

12. Nếp sống làng quê giữa lòng phố xá..................................293

13. Những sự dang dở..............................................................299   

14. Tương tự như quấn lốp xe..................................................303

15. Khen thưởng cũng phải trở thành văn hóa.........................308

16. San bằng con người............................................................312 



Phần 5:

Nhìn thói hư tật xấu ở tầm khái quát để dần dần tiến tới cách khắc phục có hiệu quả

1. Cái vội của người mình........................................................314   

2. Cái đúng hôm qua nay không đúng nữa!.............................319

3. Lấy tương lai làm tiêu chuẩn...............................................323

4. Bảy bước tới tha hoá............................................................326

5. Một triết lý ẩn sâu trong cách kiếm sống.............................332

6. Tìm đâu ý chí mạnh mẽ.......................................................337

7. Làm sao để chữa tận gốc......................................................341

8. Nghĩ mình công ít tội nhiều.................................................345

9. Làm sao có thể sống không hy vọng?.................................348

10. Tất cả có thể làm khác!.....................................................352

11. Quản lý con người.............................................................355

12. Tổ chức đời sống sao đây?................................................359

13. Cái vạ chết lòng.................................................................364

14. Những nỗi đau của thời nay..............................................368

15. Những lối đoạn trường......................................................372

16. Ta tự nhận diện lại ta.........................................................376