2.7.21

SỰ XA LẠ CỦA NHỮNG KHÁI NIỆM NHÂN BẢN TRONG NỀN GIÁO DỤC CHÚNG TA

Mấy hôm nay, đọc trên mạng cuộc trao đổi về đề thi môn văn kết thúc trung học phổ thông 2017.  

 Theo chỗ tôi đọc được cuộc trao đổi  dừng lại khá kỹ mấy chữ “THẤU CẢM” “TRẮC ẨN”. Và dù chưa chắc đã đi đến  đâu,  đó là việc cần thiết

Nhưng ở góc độ của mình, tôi  chỉ nghĩ sở dĩ câu chuyện xảy ra như vậy, mọi thứ  được mang ra trao đổi như vậy vì đối với chúng ta hôm nay nhất là đối với lớp trẻ nó, cái sự THẤU CẢM  với lại TRẮC ẨN ấy là cái gì xa lạ quá. 

Đọc tiếp ...

28.6.21

TỪ ĐÔI DÉP TỚI CHIẾC MŨ BẢO HIỂM

       Các bạn còn trẻ hiện nay có lẽ it ai biết rằng ở nông thôn Việt Nam cũ người ta phần lớn đi đất. Giầy dép là một thứ xa xỉ. Không ai nghĩ tới chuyện làm ra chúng nữa. Sau một ngày làm ăn lam lũ chiều về cũng chỉ rũ chân qua loa. 

     Chế giễu ai, người ta bảo người đó là loại dân “ba xoa hai đập “. Thế là thế nào ? Tức là trước khi đi ngủ  thì lấy hai chân xoa vào nhau vài cái cho bụi rã ra, rồi cuối cùng phủi nốt bụi bằng cách đập thật mạnh hai bàn chân vào nhau một hai cái. Coi như xong! 

Đọc tiếp ...

SỰ THA HÓA CỦA LỜI NÓI

Theo các nhà nghiên cứu hội họa, trong các bức tranh của người Việt thời trung đại, mỗi yếu tố chỉ có quan hệ với yếu tố liền kề bên cạnh, chứ không có quan hệ với toàn bộ bức tranh. 

    Con người ở đây trong các mối quan hệ xã hội cũng vậy. Hành động và lời nói thường được tổ chức để đối phó với các đối tác có quan hệ gần gũi mà không chú ý tới toàn bộ cộng đồng.

   Lời nói chẳng mất tiền mua / Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau –

 Câu ca dao đó thuộc loại những câu “vỡ lòng “ mà mỗi gia đình thường dạy con cái mình. Thành ngữ còn ghi: nói ngọt như mía lùi, nói kiến trong lỗ bò ra ...ý khuyên khi giao thiệp cần chon những lời lẽ tốt đẹp

Đọc tiếp ...

27.6.21

BỊA ĐẶT TÙY TIỆN -- MỘT NẾP TƯ DUY TRUNG CỔ

    Nguyễn Công Hoan trong hồi ký Đời viết văn của tôi (1971) có nhiều đoạn tự thú về sự làm bừa làm bậy đã xẩy ra trong đời mình. Đại khái ông kể là lúc ra học tiểu học ở Hà Nội cần giấy khai sinh, nhưng ngại về làng bên Bắc Ninh làm tận gốc, liền nhờ ông chủ nhà trọ làm hộ. Ông này bảo hai người bạn làm chứng, rồi kiếm cành cau với vài hào bạc đưa lý trưởng Hàng Trống. Vài ngày sau, ông Kép Tư Bền trong văn chương tương lai có ngay tấm giấy khai sinh và nghiễm nhiên thành người sinh ở Hà Nội.

Đọc tiếp ...

THỬ TÌM HIỂU CÁCH KIẾM SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT

 Từ trường hợp của những ông già ném cá trong bài trước, tôi xin thử nêu lên một vài đặc điểm  làm nên cách kiếm sống dân ta xưa và nay:

1-- Trong cuộc mưu sinh, dân  ta còn đang dừng lại ở tư duy hái lượm tức là sẵn có cái gì của thiên nhiên thì nhặt lấy mang về. Năng lực của cộng đồng trong việc chủ động tổ chức ra một xã hội  sản xuất, năng lực đó còn hạn chế... Con người trong xã hội ta đa số là vô nghề nghiệp và không đạt tới đỉnh cao trong việc làm nghề. Các ngành nghề không được chăm lo cải tiến nên chỉ có giậm chân tại chỗ.

 Khi tiếp xúc với các nền kinh tế khác chúng ta lại không chịu học hỏi đàng hoàng kỹ lưỡng nên cứ kém mãi.

2-- Chiến tranh là nhân tố chủ yếu chi phối khuôn mặt của xã hội VN trong suốt trường kỳ lịch sử. Trong các thế kỷ trước, nhất là hai thế kỷ XVII – XVIII sa vào nội chiến, ở ta, việc sản xuất nông nghiệp chỉ phát triển trong mức độ bảo đảm cho các cuộc chiến tranh giữa các phe phái được duy trì . Vậy mà nạn đói vẫn luôn luôn xảy ra. Còn sự phát triển các ngành công thương nghiệp là hết sức kém cỏi thì cũng là lẽ tự nhiên. 

 Điều này càng rõ nếu xét  tình hình từ 1945 tới nay.Trong chiến tranh bao nhiêu con người giỏi giang đổ hết cả ra mặt trận. Đến cả lương thực cho người dân miền bắc cũng phải nhập của nước ngoài. Súng ống đạn dược xe pháo dùng trong chiến tranh là của ngoại nhập. Ở hậu phương mọi công việc như xây dựng nhà cửa hoàn toàn ngưng trệ. 

Sau chiến tranh hầu hết chúng ta là những kẻ vô nghề nghiệp. 

Các quan chức cũng hoàn toàn vô nghệ nghiệp. Từ những người chỉ quen “đánh đồn diệt viện”, nay phải lo quản lý đủ mọi ngành nghề hiện đại, làm sao không dẫn tới tình trạng làm đâu hỏng đấy.

Sau khi đọc bài của tôi có bạn nói rằng giá ông già kia có đồng lương hàng tháng bốn năm triệu thì ông không phải làm thế. 

Tôi xin trả lời rằng đó là chỉ nhìn bề ngoài. 

Còn nhớ có lần trên mạng thấy loan tin các cơ quan khoa học người ta đánh giá rằng  nước mình là một xứ mà việc quản lý các tài nguyên khoáng sản là loại đội sổ, kém nhất thế giới.

 Không cần có mặt ở các loại mỏ, chỉ từ tình hình chung cũng đoán ra hết. 

Những người  chủ trì công việc làm ăn ở các vùng tài nguyên đó, theo sự nhìn nhận của tôi thật cũng chẳng khác gì ông già ném cá hàng xóm của tôi bao nhiêu. 

Nghĩa là thấy của một đống trước măt mình đấy thì bất chấp quy trình ký thuật cần thiết, cha con chỉ lo đào cho được rồi bán tống bán táng ra nước ngoài lấy tiền. Tiền này đi đâu thì ai cũng biết rồi -- nộp cho ngân quỹ nhà nước thì ít, đút vào túi mình thì nhiều. 

Ta chỉ trách những quan chức này là họ tham nhũng.

 Ta quên rằng họ cũng đang là những người kiếm sống không có nghề ngỗng gì hết, và kiếm sống với bất cứ giá nào. 

Đọc tiếp ...