ĐẦU SÚNG TRĂNG TREO
MỘT MẠCH THƠ KHÁNG
CHIẾN
ĐƯỢC
TIẾP TỤC
Nếu không kể đến bài Ngày về mà tác giả ít khi chọn in lại thì, đối với đa số bạn đọc
chúng ta, Chính Hữu trở thành một cái tên đáng nhớ là từ bài Đồng chí:
Quê
hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất
cày lên sỏi đá.
- Bài thơ nói một thứ tình cảm mới, tình đồng đội của những người lính hiện nay. Người ta kề ra những vất vả gian nan, đã cùng chia xẻ; để thấy thêm gần gũi với nhau. Và hình ảnh những người lính do đó chỉ càng thêm đẹp. Mỗi câu thơ ở đây đều rất mực gọn gàng chặt chẽ: Miệng cười buốt giá, Rừng hoang sương muối. Nhưng cô đọng nhất, hàm xúc nhất vẫn là cái câu cuối cùng: Đầu súng trăng treo. Chỉ có bốn tiếng thôi mà thấy vẽ lên cả một hình ảnh, vừa có ý nghĩa, vừa mỹ lệ. Nhờ đó tình cảm đồng chí đồng đội càng thêm ấm áp. Rất ấm áp, trăng treo đầu súng mà vẫn chẳng thấy lạnh lẽo chút nào.
Giữa nhiều bài thơ khác, những bài thơ làm
trong kháng chiến, Chính Hữu chỉ chọn lấy một ít bài tiêu biều. Anh cố gắng
tránh những cái gì ấu trĩ nằm trong phần ấu trĩ chung của thơ ca lúc ấy. Tháng 5 ra trận, lối thơ bầy chữ hiền hậu;
những câu Mùa thu thây giặc chất sông núi
- Mùa hạ thây giặc phơi đầy đồng, tất cả hơi hướng những năm 48,
49 tưởng vẫn còn nguyên.
Và Mái
buồn nghe sấu rụng, cái đêm Hà Nội 1950 ấy đã được dựng lại, có không khí
mà lại rất tạo hình. Càng về sau này, cái nhìn của anh về kháng chiến càng sâu
sắc hơn, người và cảnh vào thơ vẫn cứ là ít, nhưng hiện ra đậm nét hơn. Hình ảnh
người mẹ trong Gửi mẹ khá nồi «Những đêm
gió mưa dữ dội -
Vẫn thắp hương cầu trời phù hộ bước con đi».
Không phải bà mẹ Việt Nam thì có bà mẹ nào trên thế giới lại yêu nước theo kiều
như thế?
Trong Thư
nhà sự liên tưởng từng nét chữ “như
gồng như gánh dân công”
đã quí. Nhưng càng quí hơn là điều khẳng định:
Một
lá thư nhà
Chia
đôi nhiệm vụ
Hai
người đoàn tụ
Hai
đầu chiến trường.
Mới đầu thì ta thấy thắc mắc, tưởng như vấp
phải một cái gì vô lý. Nhưng đến lúc hiều rõ thì ta bỗng vui mừng mà thấy lớn
lên theo tầm suy nghĩ của tác giả, không phải chiến trường hẹp lại mà là mối
tình càng mở rộng ra, càng nhân lên không biết là bao nhiêu lần. Trở lại chủ đề
đồng chí đồng đội là bài Giá từng tấc đất.
Nhưng là một sự trở lại có nâng cao và mở rộng.
Khi
bạn ta
lấy
thân mình đo bước
Chiến
hào đi
Ta mới hiểu giá từng
thước đất.
Đúng như tư cách một nhà thơ bộ đội, Chính
Hữu bao giờ cũng giữ lấy một hơi thở rắn rỏi, chắc khỏe. Tình cảm của anh dường
như thường lặn sâu vào bên trong. Có phải đó là thói quen của những người đã dạn
dày trong chiến đấu? Dầu sao, chớ có bảo tình cảm đó không mãnh liệt đậm đà.
Nói tới cái chết, những vần trắc ở đây như chứa đầy uất hận. Những ý những chữ
quan trọng được tách ra thành những dòng thơ riêng để nhấn mạnh... Bấy nhiêu yếu
tố màng lại cho bài Giá từng tấc đất
một nét mặt rất mới.
*
Nếu trong kháng chiến, thơ Chính Hữu đã ít
thì trong mấy năm hòa bình, tính theo tỷ lệ thời gian, hoa trái tâm hồn anh
càng thưa thớt hơn. Đầu súng trăng treo
không có những bài thơ thời sự hiều theo ý nghĩa trực tiếp của nó. Bởi vì khó
lòng tìm thấy trong đó từng bước đi của hiện thực một cách cụ the, chi li.
Nhưng nếu hiểu tính thời sự một cách
sinh động hơn, nếu hiều tính thời sự như là sự gắn bó gần gũi giữa tầm tư tưởng
của bài thơ với những vấn đề lớn đang đặt ra trong cuộc sống, thì mới đánh giá
được mười một bài thơ Chính Hữu làm trước năm 1965.
Như trên đã nói, Giá từng tấc đất, Thư nhà... là nhịp cầu nối giữa thơ kháng chiến
và thơ trong hòa bình của Chính Hữu. Từ đó về sau, tác giả ngày càng đi tới một
phong cách tương đối ổn định. Dường như anh không bao giờ bằng lòng với cách
nhìn sự vật một cách hời hợt, kề cả cách chấm phá vài nét rồi bỏ đi chẳng hạn.
Thường trực trong anh là một ý thức muốn thâu tóm những bước đi, những biến
chuyền của cách mạng ngay trong những sự việc bình thường. Với anh, Lá phiếu hôm nay:
Kể
chuyện
chúng
ta
khi
đi tay không
Khi
về
Trời
mây -
ruộng đồng -
tất cả.
Những khẩu hiệu mà chúng ta vẫn nói vẫn
nghe hàng ngày, bỗng nhiên được tác giả soi rọi từng bước đi trong lịch sử:
Những
đêm lửa đỏ xóm làng.
Thức
với những người du kích
Khẩu
hiệu đứng trên đường
bất
khuất
Người nào làm thơ chắc biết từ cái tứ khẩu hiệu này đến một bài thơ cụ thể, là
cả đoạn trường cheo leo hiểm trở, nhà thơ rất dễ rơi xuống cái vực thẳm khẳng định
chung chung. Nhờ ở vốn sống, mà cũng nhờ ở cái tầm nhìn tầm nghĩ Khẩu hiệu... như lương tâm kêu gọi, nhà thơ đặt được bài thơ đúng cái tầm cao mà
nó có thể đạt được.
Cũng như vậy, với một chuyện Duyệt binh,
tác giả bỗng khơi được nhiều vấn đề mà bình thường chúng ta chỉ cảm thấy một
cách thấp thoáng. Bài thơ có vẻ lạnh lùng tỉnh táo, không phải làm cho người ta
vẫn vương mà là làm cho người ta suy nghĩ, suy nghĩ mãi không thôi. Đến đây,
càng ngày càng rõ cái vẻ riêng trong thơ Chính Hữu. Anh muốn trực tiếp ngợi ca
hóm nay, ngợi ca cách mạng ngay trong cái tư thế chúng ta đang cầm súng, đang
vượt mọi khó khăn gian khổ. Không sa đà vào việc kề lề những sự việc cụ thể,
luôn luôn anh muốn vươn tới ý nghĩa khái quát của các hiện tượng -và chủ ý ấy
đã được thực hiện khá thành công không phải là trong một hai lần, Đêm tuần tra súng ướt hơi mây, sau khi
dùng một nét nhỏ để đựng không khí rồi, anh tập trung nói những suy nghĩ của
người lính biên giới. Thăm Anbani, anh thấy:
Núi
Anbani như gươm như mác
Như
đội ngũ năm trăm năm xưa của Scăng-đếc-béc
Biển
Anbani sôi nổi bốn bề
Như
lịch sử Anbani trường kỳ sóng đập.
Dù cái chất chiến đấu ở phong cảnh và lịch
sử nước bạn thế nào, nhưng phải có lối nhìn riêng mới khiến tác giả khai thác
được nét nổi bật đó.
*
Dạo ấy, còn có những ngày tạm gọi là hòa
bình, Song le, ở những con người có tầm nhìn xa thì «có thể nào yên» có lúc nào
không thao thức một ý chí chiến đấu? Thơ trong Đầu súng trăng treo là như vậy. Một
bài thơ nhỏ về một đề tài rất quen thuộc như cây cũng mang dấu vết riêng của
tác giả:
Nghìn
dặm đường vui rì rào đất nước
Trong bước ta đi vội
đêm ngày.
Vẫn là con đường ngàn dặm, con đường hành
quân, và người đi thì phải mải mê bước vội. Cho nên, rất dễ hiều khi thấy thơ
anh nhanh chóng bắt vào cuộc sống chiến đấu ở miền Bắc những năm chống Mỹ. Bắt
đầu là niền thông cảm với một đồng chí chiến sĩ giải phóng. Rồi ao ước thành sự
thật. Vẫn cái hăm hở hồ hởi, mà nỗi vui Đường
ra mặt trận đã đầy đặn hơn, tràn trề hơn. Cách mạng là một ngày hội lớn của
quần chúng. Nhiều người quá, chào nhau
không kịp nhớ mặt. Càng đông vui, càng tự hào:
Sung
sướng bao nhiêu: tôi là đồng đội
Của những người
đi, vô tận, hôm nay.
Như là một lối biều hiện riêng, ý niệm hôm
nay thường được Chính Hữu nhấn mạnh trong sự suy nghĩ của mình để đánh dấu một
khoảnh khắc của sự rung động. «Sáng nay ta về Hà Nội», « Một lá thư nhà hôm nay
ta đọc», «Đất nước ta cầm trong lá phiếu hôm nay» Đến những ngày hôm nay -
chiến đấu thì những nhắc nhở đó lại càng có ý
nghĩa. Quả thật, trở lại cầm súng hành quân nhưng mỗi ngày bây giờ đâu phải chỉ
là bản sao của 20 năm về trước... Đất nước lớn lên, có nhiều « ngôi trường ngói
đỏ bình yên». «Cánh đồng đang gặt. Hàng ngũ ta đi dài như tiếng hát ». Mỗi người
trong chúng ta cũng đều cảm thấy mình đã vượt qua những cái ấu trĩ ngày xưa.
Không phải chỉ là một niềm say bát ngát thoáng chút mơ hồ, chúng ta đi chiến đấu
vì một trang giấy học trò lành hiền,
vì một ánh đèn soi cho em ta ngồi học. Kẻ thù hung bạo lắm. Nhưng đấu tranh này
là trận cuối cùng. Cho nên mới có cái cảnh:
Súng
ta kê
bên
nổi nhỏ
các
em nằm.
Câu thơ tạo hình sắc lạnh quá. Xem chừng
có vẻ tàn nhẫn! Nhưng thực tế như vậy, gây nên những cảnh đó là tội ác của kẻ
thù. Cuối cùng chỉ còn một cách xóa sạch khổ đau là dốc lòng chiến đấu. Cả miền
Nam như thế, cả nước như thế. Ở đâu cũng gặp những ngọn đèn gác đường hành
quân. Nói cho cùng, cuộc chiến đấu đã vượt qua giai đoạn bắt đầu. Vượt lên,
chúng ta đang chạy đua với thời gian, Thắng lợi, ta thấy nó đang trước mặt:
Đi
nhanh đi nhanh
Chiến
trường đã giục
Đầy
núi đầy sông
Đèn
ta đã mọc
Trong
gió trong mưa
Ngọn
đèn đứng gác
Cho
thắng lợi, nối theo nhau
Đang hành quân đi
lên phía trước.
Niềm thao thức hành quân đã thường xuyên
đi về trong nhiều bài trước kia, giờ đây càng có sức mạnh như một lời kêu gọi,
một khẩu hiệu hành động. Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tập thơ. Cả đến vần
điệu của câu thơ cũng phục vụ cho ý đó. Thơ nhiều câu ngắn, thường là những vần
trắc hoặc thanh không. Thơ nhiều động từ nhanh mạnh hơn là những tính từ màu mè
rực rỡ. Thực ngắn, gọn, sít sao.
*
Trở lên là những cảm nghĩ của một người đọc
khi có dịp
nhìn lại cả quãng đường thơ Chính Hữu đã đi trong khoảng gần hai mươi năm
qua. Khỏi phải nói, đây là một tập thơ có giá trị. Điều cần khẳng định trước hết
là tác
giả của nó là một người làm thơ có trách nhiệm. Trong tình trạng thơ ta
còn nhiều bài dễ dãi quá mức, trường hợp Chính Hữu có tác dụng rút kinh nghiệm
bồ ích về việc tôn trọng người đọc. Tuy nhiên, muốn đóng góp một tiếng nói
nghiêm chỉnh, không gì hơn là cũng nên nói thẳng một số băn khoăn nuối tiếc. Tình
cảm đồng đội nói như mức ở Đồng chí
là vừa, đến phần đầu Giá từng thước đất
đã hóa nhạt. Phần cuối bài thơ Khẩu hiệu
rơi vào chung chung, chưa xứng với phần trước. Cũng như vậy, ý trước ở bài Một nửa chân thành, dễ thông cảm, nhưng
sau đó tác giả có phần lạm dụng rơi vào chỗ gò gẫm, thiếu tự nhiên. Nhìn chung,
khi nào cái tình của tác giả đi kịp sự suy nghĩ thì bài thơ khá đạt. Trái lại,
bài thơ sẽ thiếu hẳn sức sống nếu thiếu những rung động bên trong. Nhân đây, có
thể nảy ra một lo ngại chính đáng: tình cảm trong thơ Chính Hữu chưa được thấm
đượm khắp nơi. Kẻ thù vô hình của thứ thơ suy tưởng dễ kéo người viết sa vào những
mệnh đề rời rạc tản mạn. Điều đó đã được Chính Hữu giải quyết bằng cách chọn lấy
một tứ chung, khắc họa một hình tượng toàn bài khả dĩ lưu lại trong óc người đọc.
Song le, ở từng chi tiết nhỏ đã thấy tác giả trở đi trở lại với những biểu tượng
chung chung.
Đêm tháng 5 trước hôm bỏ phiếu bầu cử Quốc
hội « Trống cờ bay bổng»
-
và đến đường ra mặt trận bây giờ lại «Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục » Lá cờ tiếng trống với Chính Hữu, ngoài ý
nghĩa thực, dường như còn để tượng
trưng cho cách mạng... Chủ yếu là những
rung động, những nếp cảm nếp nghĩ hằn vào tiềm thức. Nhưng cả lối biểu hiện độc
đáo đó, cùng với những “núi
sông”, “câu
hát”, “ngọn
đèn thức trong đêm...”,
nhất là cái ý kết luận hành quân, hành quân khi bị trở đi trở lại nhiều
quá, vẻ tươi tắn sao mà giữ được như những lúc đầu?
Cuối cùng, nên nói qua về mặt sắp chữ đặt
câu. Trừ đôi bài như Cây, Ngọn gió còn toàn tập của Chính Hữu có
một giọng điệu riêng biệt. Nhưng nếu nghĩ về đường dài, một sự đơn điệu ít nhiều
đã cứng lại như ở đây chưa chắc đã là một điều đáng mừng, đứng về phương diện một
nhà thơ mà nói. Thơ Đầu súng trăng treo
tránh được lai căng mà vẫn rất hiện đại. Tuy nhiên với vóc dáng như hiện nay, từng
bài vào với quần chúng chưa chắc đã được trôi chảy tự nhiên.
*
Với Chính Hữu, lòng tin của chúng ta đã có
cơ sở những năm đầu kháng chiến. Điều đáng mừng là trong những ngày chống Mỹ,
ngòi bút anh như có dịp khởi sắc lại. Không gì khác, Đầu súng trăng treo là một
hơi thơ khỏe mạnh góp phần nói lên tiếng nói của những người đang chiến đấu và
chiến thắng.
1967
MỘT TIẾNG NÓI LẠC QUAN
TRONG NHỮNG NĂM CHIẾN TRAΝΗ
- THƠ
PHẠM TIẾN DUẬT
(Đã in trong “Phê bình & Tiểu luận” dưới nhan đề “Âm hưởng lạc quan
trong thơ Phạm Tiến Duật)
Những
người đã có dịp đi với bộ đội ít nhiều hân biết rõ người chiến sĩ của chúng ta
có một đời sống tinh thần đặc biệt; các anh rất dễ vui, và niềm vui của các anh
rất trẻ, khỏe. Hành quân nhọc mệt nhưng đặt ba lô nghỉ là nói đùa, nói «trạng».
Leo những cái dốc ê ẩm, đặt cho dốc đủ mọi thứ tên để cười. Làm được cái hầm đẹp
đã vui. Cải thiện được bữa rau rừng cũng vui! Đánh xong trận ác liệt về, các
anh lại càng tìm thấy nhiều chuyện vui. Cái lạc quan, cái vui đã thành một nét
bản chất của người chiến sĩ, nó nảy sinh trong mọi hoàn cảnh, như một thứ thách
thức vượt lên khó khăn; nó là cái hơi ấm toát lên từ tâm tình của những người tự
tin và đang chiến thắng.
Mấy
năm vừa qua, Phạm Tiến Duật luôn luôn có mặt giữa những người chiến sĩ như thế.
Anh đi với lái xe, với công binh, với thanh niên xung phong trên một tuyến đường
vận tải quân sự đặc biệt, và những bài thơ của anh in lại trong Vầng trăng quầng lửa, trong Thơ một chặng đường chính là được bắt
nguồn từ cái vui, cái lạc quan
của cảnh và người anh sống, anh gặp trên đường. Như là có một sự gặp gỡ đặc biệt
giữa tâm hồn một người
chiến sĩ và một người làm thơ. Và chúng ta có một tiếng thơ khá độc đáo.
Lần
theo những trang thơ, người đọc biết rằng Phạm Tiến Duật đã đi nhiều nơi lắm.
Trong văn học, từ việc sống đến việc viết, có nhiều cách thức khác nhau. Có người
đi rất nhiều nhưng chỉ cốt nắm lấy không khí, cái “thần”, chung nhất của khung cảnh.
Đọc những trang viết của họ, nhiều khi thấy ánh lên một cái gì rất mới mà không
bao giờ có địa chỉ rõ ràng. Phạm Tiến Duật không như thế. Anh đi đến đâu, anh gặp
những ai, ta dễ đoán biết. Anh muốn mang vào trong thơ cả những chi tiết bộn bề
như văn xuôi: những chuyến xe bom giật, bom rung vỡ kính; những đêm «cao xạ
thình thình điểm
đầu canh ba»; khu vực kho một ngày 17 trận bom Mỹ dội. Gợi ý cho bài thơ của
anh là một cái cặp tóc ai để
quên trên cỏ, tiếng đuổi gà của bà mẹ khi lúa chín trên đồng. Đọc thơ như được
cùng anh vào một cuộc đi, xa xôi và đầy hứng thú. Mọi thứ đều được anh chăm lo,
chí chút. Lúc nào anh cũng giữ được một thứ ngạc nhiên, một niềm say mê “say miền đất lạ” rất tự nhiên. Tuy vậy,
đó chỉ là cách viết. Điều quan trọng là thơ Phạm Tiến Duật không bó hẹp trong
những người, những cảnh cụ thể. Mọi người khác, ở những đơn vị khác, đều có thể
tìm thấy ở thơ anh một sự thông cảm. Một mặt, anh không muốn đơn giản, sơ lược.
Như một người chứng kiến nghiêm chỉnh, anh nói khá đầy đủ về những vất vả đến với
mỗi chúng ta trong cuộc chiến đấu. Mặt khác ảnh nói rõ những cái đó, nhưng
không làm chúng ta băn khoăn do dự, mà ngược trở lại, một tiếng cười giòn tan cất
lên, với tất cả sức trẻ của mình, chúng ta đã vượi qua mọi gian khổ. Người chiến sĩ trong
thơ Phạm Tiến Duật
vừa thực vừa đẹp một cách lạ lùng. Dù có thế nào, vẫn không có chuyện gì về tất
cả những người ở đây hết. Những xa cách «Trường Sơn đông Trường Sơn tây» không
làm cho ai buồn. Trong cái đêm bom rung vỡ cả mái ngói, người chiến sĩ vẫn ung
dung ngủ lại với gió sông Lam. Phải lạc quan lắm mới có được một giọng thơ như
trong bài Qua một mảnh trời thành phố
Vinh ấy! Càng đi vào những miền trọng điểm như Seng Phan, «tiếng bom như tiếng
thú» nghe lại càng nhỏ. Và hơn thế nữa, không những ung dung tự tin, người chiến
sĩ còn tìm được những niềm vui ấm áp. Anh không bỏ qua một đàn bươm bướm trên
lèn đá, một câu hò trong đêm bốc vác rộn ràng.
Biết
tiếng hát trong rừng “nhịp
với phách xem chừng sai cả” anh
vẫn lắng nghe. Một tình thương mến bao trùm.
Thương em, thương em,
thương em biết mấy.
Trong
bài Gửi em, cô thanh niên xung phong,
tình cảm giữa hai nhân vật rất tiêu biểu của cuộc chiến đấu của chúng ta, của
anh bộ đội và cô thanh niên xung phong, được biểu hiện thật lành mạnh mà thấm
thía, đậm đà. Ở các bài khác Khi em qua
đèo, Nghe em hát trong rừng cũng vậy.
Tất
cả những tâm tình chiến sĩ ấy là rất phổ biến, nhưng lại mang một dáng vẻ riêng
của Phạm Tiến Duật. Anh hóm hỉnh nghịch ngợm mà đôn hậu thương yêu. Anh dễ dàng
sao trong việc làm thân trò chuyện với mọi người! Và không chỉ có vui, anh còn
có dụng ý muốn mang tới chúng ta những suy nghĩ khái quát. Chuyện các cô gái
lái xe: niềm tin có thật trong cuộc chiến đấu. Nói về các lứa tuổi kế tiếp nhau
trong trưởng thành là bài Khi em qua đèo.
Về mặt này, bài thơ dựng cảnh Vầng trăng quầng lửa
khá tiêu biểu. Trong ánh chớp nhoáng nhoàng của bom đạn, tiếng hát vẫn cất lên,
mọi dấu hiệu của
sự sống vẫn nảy nở. «Và vầng trăng, vầng
trăng đất nước vút qua quầng lửa vụt lên cao» - Như là có một thoáng tượng
trưng, nửa thực nửa hư. Sống với khung cảnh ấy, những ý nghĩ về dân tộc, về đất
nước, về chiến thắng như cùng trở về trong ta. Sức thuyết phục của bài thơ là ở
cả một không khí được gợi lên khá trọn vẹn.
Không
phải ngẫu nhiên, trong những năm chống Mỹ, thơ Phạm Tiến Duật thường được mọi
người nhắc nhở. Đó là một tiếng nói trẻ, thứ tiếng nói mới trong thơ. Người làm
thơ này bao giờ cũng coi bài thơ là một kiến trúc. Anh chọn được tình thế đáng
nói. Anh biết nói một cách đặc biệt, thường lướt qua những chỗ lặt vặt, giành bất
ngờ cho cái chốt chính, cái kíp nổ
của
bài thơ. Đọc thơ anh, dễ có những thoáng giật mình: sao có những điểm thi vị thế
này mà không ai nhìn ra! Riêng cách đặt câu, dùng chữ trong bài đã chứng tỏ Phạm
Tiến Duật là một người làm thơ có nghề nghiệp vững chãi đến độ dám đi ra khỏi một
số khuôn sáo thông thường. Về mặt giọng điệu, nếu xưa nay thơ của nhiều người
như một tiếng hất, thì
Phạm Tiến Duật làm cách khác: Anh muốn trò chuyện với người đọc. Anh luôn luôn
đi bên cạnh ta, thì thầm với ta điều kia điều nọ. Cách viết này mang lại cho
tác giả một lối đi riêng, hợp với sức viết đang độ khỏe. Cái tài hoa, cái khéo
léo tay nghề, là tương ứng với cách cảm, cách nghĩ của anh và hai mặt đó gắn bó
làm thành một phong cách thống nhất. Tại sao lại nảy sinh và tồn tại phong cách
đó? Từ những năm chống Mỹ, trong bộ đội ta đã hình thành một lớp chiến sĩ mới,
với cách sống, cách chiến đấu mới, dáng dấp tâm lý mới, có phần kế thừa mà có
phần phát triển
so với các thế hệ cha anh. Họ vẫn đọc những bài thơ của các nhà thơ lớp trước.
Nhưng họ cần có tiếng nói của mình trong văn học. Thơ Phạm Tiến Duật là một
trong những tiếng nói đó. Có
điều không nên cường điệu, coi thơ Phạm Tiến Duật là một mẫu mực, hơn nữa, một
mẫu mực duy nhất cho tiếng thơ của cả thế hệ cùng tuổi với anh. Trên cái nền
phát triển rộng rãi về mọi mặt của
xã hội miền Bắc
từ sau 1954, người chiến sĩ của chúng ta đã trưởng thành vượt bậc, với rất nhiều
vẻ khác nhau. Để
nói lên tiếng nói của họ, cần nhiều tiếng thơ khác nhau. Chỉ có thể nói Phạm Tiến
Duật là một tiếng thơ trong đó với nghĩa nó có những chỗ mạnh chỗ yếu nhất định.
Chỗ yếu quan trọng trong thơ Phạm Tiến Duật là bề ngoài bao quát được một hiện
thực nhiều mầu sắc, song vẫn có cái vẻ đơn điệu của nó. Đây đó, một vài bài thơ
dường như chỉ khác nhau về đề tài, về khung cảnh, về cách nói, mà ý tứ thì lặp
lại. Thực tế lớn lao quá! Có
lúc, tác giả như bị ngợp: Anh chỉ kịp làm những đoạn “ống kính chụp nhanh» mà
chưa có sự cảm thụ và chuyển
hóa sâu sắc. Thường khi anh chạy theo những thay đổi ở bề ngoài khung cảnh
mà quên lắng nghe đúng mức về những phản ánh, những vang vọng của mọi thay đổi đó trong lòng, để sự kiện có dịp hòa cùng
nhịp điệu với lòng mình. Cũng như nhiều người viết trẻ khác, một số khái quát ở
Phạm Tiến Duật hoặc không sáng rõ, hoặc rơi vào chỗ đơn giản, sơ lược. Niềm vui
mà anh gợi lên có phần dễ dàng, nhưng lại chưa thật sâu lắng. Say miền đất lạ,
anh đâm ra sa đà vào những cái ngồ ngộ, kỳ lạ, rồi tự bằng lòng, cười đùa vui vẻ
mà không thấy hết những cái mới cơ bản trong khung cảnh và trong lòng người.
Trong đời sống cũng như trong văn học, kinh nghiệm cho biết chưa bao giờ những
cái ngồ ngộ đó có khả năng biểu hiện những điều quan trọng nhất. Cũng như về mặt
cách viết, khi nào cố làm ra
vẻ đơn giản, Phạm Tiến Duật lại rơi vào một sự sắp xếp, thành ra một thứ sáo
mới, muốn làm duyên hơn là
có duyên thật sự. Lẫn với cái thô mộc chân chính; một đôi khi sự qua loa cầu thả
đã xuất hiện trong thơ anh.
Bấy
nhiêu chỗ yếu chỗ mạnh nói trên cố kết lại hữu cơ trong thơ Phạm Tiến Duật. Anh
là người có bản sắc mạnh mẽ, bản sắc không giống ai, nên rất khó thay đổi. Mà có thay đổi, thì vẫn là đổi mới trong cung cách của
mình. Cho nên, hơn cả những đóng góp cụ thể,
nên tìm ở thành công của anh một ý nghĩa khái quát: Nó là một bằng chứng xác
minh thêm cái phương hướng lớn, phương hướng đi vào đời sống của nền văn nghệ mới.
Thực tế dân tộc ta nói chung, thực tế bộ đội ta nói riêng là nguồn cảm hứng vô
tận đủ sức nuôi dưỡng những tài năng lớn và khác nhau. Đó là điều lâu nay chúng
ta vẫn nói. Đặt trong cái toàn cảnh đó, thơ Phạm Tiến Duật mới là một trường hợp,
một thí nghiệm. Triển vọng của nó ra sao còn
tùy thuộc ở sự phấn đấu của riêng người viết. Nhưng có điều chắc chắn: khi được
phổ biến, ngay từ bây giờ nó đã là một gợi ý, một kích thích tốt cho những tiếng
nói bằng thơ khác đang tiềm tàng trong lớp người trẻ tuổi đang cầm súng.
1971
MỘT
CUỘC GẶP GỠ ĐỀ LẠI NHIỀU CẢM TÌNH
(Đỗ Chu và tập truyện ngắn PHÙ SA)
Người đọc văn Đỗ
Chu mới đầu dễ có cảm tình từ lời văn, nhịp điệu. Văn Việt Nam vốn khó viết,
hình như có một thứ quy luật nào đó mơ hồ và khắc nghiệt đầy người viết đi.
Tránh trúc trắc, nếu không khéo, người ta lại sa vào biền ngẫu ngay. Cái duyên
của câu văn, cách bố tríkhi dài khi ngắn, âm điệu bằng trắc thế nào, Đỗ Chu gần
như có được từ bản năng. Những truyện Đường
qua nhà, Mùa cá bột xinh nhỏ như
một bài thơ, đọc xong lại muốn đọc lại.
Trong cách nhìn nhận,
suy xét cuộc đời ở Đỗ Chu luôn luôn lộ ra hai khía cạnh song song: thơ mộng và
tinh nghịch. Khi dựng truyện vẫn thấy một Đỗ Chu như thế. Với giọng điệu riêng
mang âm sắc trữ tình như hiện nay, những truyện trong Phù sa không ly kỳ, phức tạp, nhưng thông thường vẫn là nhiều bình
diện. Đỗ Chu thích cho nhân vật xưng tôi và chính Đỗ Chu đứng ở góc độ tôi đề
mà kề lễ cùng bạn đọc những điều gần như kỷ niệm. Cách thức bày xếp, điều khiền
nhân vật cũng khá gọn gàng. Giọng văn giữ được dáng vẻ riêng, dẫn người ta vào
không khí của khung cảnh.
Nhưng nhiều trang Phù sa gắn bó với chúng ta trước hết là ở
những ý tình đây đó. Con người này biết rung động với nhiều biến thái nhỏ trong
cuộc sống. Đọc truyện, ta thấy cần sống đầy đủ hơn trong mọi bước đường mà ta vốn
dễ dàng bỏ qua. Rồi từ đó, lòng yêu đời yêu người, những khẳng định về chế độ mới,
một niềm tin vào công việc thường nhật chung quanh, những cái đó sẽ mơ hồ và
nhen nhóm lên, lâu bền, dai dẳng.
Từ truyện ngắn đầu
tiên Hương cỏ mật, bạn đọc đã thấy một
sắc thái riêng trong chất văn Đỗ Chu. Trước cách mạng, một số nhà văn quen thuộc
nông thôn đã miêu tả khá nhiều, khá nổi những nét sinh hoạt của bộ phận lớn nhất
của dân tộc ta sau lũy tre xanh. Tình hình hiện nay có khác. Văn học ta phải
chú trọng đặc biệt đến bộ mặt tinh thần, những sự kiện chính trị lớn ở nông
thôn, từ kháng chiến đến hòa bình, qua cải cách ruộng đất đến thành lập hợp tác
xã. Trên bối cảnh đấu tranh xã hội, các nhân vật bao giờ cũng hiện ra trước hết
như đại diện của một lực lượng giai cấp tham gia những xung đột quyết liệt với
những vị trí rõ ràng. Người viết ít chú ý miêu tả những nét sinh hoạt mới. Những
cái mà các nhà văn khác chỉ coi là đường viền, với Đỗ Chu, được nâng lên thành
mạch chính. Anh say sưa cùng những cô bé, cậu bé chăn trâu làm cỏ mật, thứ sợi
cỏ rất thơm, rất dài, rất óng. Anh dẫn
ta trở lại con đường làng đi mát lạnh cả
gan, bàn chân. Có nhiên, rồi người ta vẫn thấy chỉ ở miền Bắc những năm gần
đây mới có những câu chuyện kiều Hương cỏ
mật: những cuộc gặp gỡ sau thời gian dài kháng chiến, mất mát bao nhiêu
nhưng hạnh phúc dần dần trở về; hạnh phúc đến cả với những người như cô giáo
Nhâm vốn là không may mắn lắm. Đám cưới
tiến hành không vội vã, không ồn ào, rất giản
dị mà ấm cúng. Chỉ những người
có hạnh phúc thực sự mới cưới nhau như thế. Về mặt hình thức câu chuyện mà nói,
Hương cỏ mật có vẻ không chặt chẽ:
người viết cứ kề lan man, và nếu người đọc cứ bị lôi đi thì đó cũng là chỗ mạnh
chỗ yếu của bản thân văn Đỗ Chu hồi ấy. Sau này, anh còn viết nhiều truyện
khác, chặt chẽ hơn như Mùa cá bột, tinh nghịch và phức tạp hơn như Gia đình những người đi xa, nhưng cái
duyên của Đỗ Chu với bạn đọc, cái truyện Hương
cỏ mật kia vẫn như một thứ kỷ niệm ban đầu không dễ gì quên được.
Sau Hương cỏ mật, nhiều truyện khác của Đỗ
Chu đều đan đi đan lại giữa hai đề tài nông thôn và bộ đội. Hầu như chưa có gì
thay đồi, ngòi bút ở đây vẫn là tiếp tục tự phát hiện mình. Những kỷ niệm về
kháng chiến còn in dấu vết qua từng hoạt động hiện tại, làm cho người ta phải
suy nghĩ thêm về những ngày đang sống. Hết cái tuời nghịch, nhưng những ấn tượng
nguyên vẹn trong đầu óc vẫn tạo nên sinh sắc cho những lời kề về lũ trẻ trong Thung lũng cò. Có lúc lại thấy cây bút
trẻ Đỗ Chu khôn lớn hần lên, bàn đến những chuyện lớn rộng như trong Mùa cá bột.
Nhân vật Đá tưởng lấp lửng mà thật rã được bồi đắp qua nhiều đoạn hồi ức đứt nối
khác nhau, là một nhân vật khá đẹp và trọn vẹn. Cả truyện cũng như tiếng con le
le lảnh lót dồn dập trong một đêm mưa, tưởng không có gì mà ngân vang trong
lòng người đọc. Sang Chiến sĩ quân bưu
giọng kề của Đỗ Chu vẫn có về lan man, so với Hương cỏ mật còn lê thê dài dòng hơn, nhưng vẻ duyên dáng thì không
vì thế mà sút giảm. Chỉ vài ba câu Đỗ Chu dựng lại được không khí phố huyện, đoạn
tả mối tình giữa Lầm và Mận cũng khá hồn nhiên, phù hợp với cái thuở gặp gỡ ban
đầu ngỡ ngàng mà sâu sắc, nửa thực nửa hư, khiến những người trong cuộc cũng không dám tin là liệu có thực?
Hoặc là cảm giác của anh con trai: mình vội
nắm lấy bàn tay cô bé, mềm mại và ấm như một chú mèo con. Hoặc là lối tỏ
tình của cô kia: Anh Lầm đi đi! Em mà
không gửi thư cho anh thì em cứ chết. Cũng như cỏ mật trên vòi voi trước
đó, bây giờ Đỗ Chu lại kề rất có duyên về rong đuôi chó, về việc bói hoa mua đất.
Lấp lánh qua từng trang sách là những chi tiết ấy, nó như lá như chồi làm nên
màu xanh cây cối. Lầm trông máy bơm nước, Mận là kiện tướng thủy lợi được thưởng
áo bông - bấy nhiêu thứ bắt vào truyện khá liền mạch, gắn những nét tâm tình,
sinh hoạt với cuộc sống mới, những thay đồi mới. Bài học tư tưởng cuối cùng ở Chiến sĩ quân bưu được thực hiện hơi lộ
liễu; nhưng có một điều đến với chúng ta lặng lẽ mà rõ rệt hơn, đó là một quan
niệm mới về hạnh phúc: hạnh phúc thật giản đơn, hạnh phúc có thề đến ngay trong
mọi công việc bình thường, miễn việc đó có ích cho những người khác.
Có một chút gì
cách quãng giữa bốn truyện đầu với những truyện sau này. Ở những người viết trẻ
vốn có những bước «tự đi tìm mình như thế. Chân
trời chiếm một số trang khá dài, bằng hai lần số trang một truyện trung
bình trong tập. Chân trời theo dõi bước
đi của một cô gái đang tìm đường, có lúc chính cô phải vượt qua những kỷ niệm ấu
thơ đẹp đẽ, mơ màng để đến với những điều mình tin là đúng. Đỗ Chu trở về với
những gì mình đã quen thuộc: những người học sinh hăng hái xốc nồi một cách
đáng yêu, cuộc sống của một thị xã trung bình và những gia đình bình thường ở
đó. Những trang viết về bộ đội lấy gỗ, cô Chi đi làm rừng có nhiều hơn thì cũng
chưa át được không khí những đoạn mà nhân vật Chi kề chuyện mình ở thị xã, Truyện
tãi ra có phần lễnh loãng, sức người viết chưa bao quát hết được những cái anh đưa vào, có nhiều chỗ phải dựa
vào thông minh đưa đầy đi, hơn là có một rung cảm bên trong, thực sự. Rốt cuộc,
cái chủ đề tư tưởng Chân trời còn thiếu
sức thuyết phục, nhân vật Chi chưa thành một người cán bộ chững chạc sau bước
chuyển biến của mình. Tất cả chỗ yếu của Đỗ Chu đã thấy lô rõ.
Gia đình những người đi xa đi theo hướng khác. Nói là hậu phương vốn là một cách
đi vào đề tài chống Mỹ. Và dụng ý của Đỗ Chu nằm ở một quan sát: chiến tranh
làm cho người ta xích lại gần nhau hơn. Những người chiến sĩ ra đi rồi, gia
đình họ ở nhà thương yêu đùm bọc nhau, làm thành một gia đình lớn. Câu chuyện bắt
đầu ở chỗ đáng phải kết thúc, ngày càng rút vào kỷ niệm, rút vào xa xưa, người
đọc bị dẫn đi ngược dòng thời gian, những sự kiện quá khứ, con người quá khứ được
dựng lên y như trong hiện tại. Hơn nữa đọc Gia
đình những người đi xa lại thấy thêm một cách Đỗ Chu đi vào nông thôn. Những
chuyện kề lâu nay về Bắc Nịnh – xứ Kinh Bắc xa xưa - được anh làm sống lại: những
đám kéo thuyền trên sông mòn mỏi, ông già với bầy kến cô chẹn vòng đồng chuyên
môn bắt cá; nếu không còn những ngày hội quan họ như ngày xưa thì lại có những
đêm gặp gỡ giữa bộ đội và các cô gái trong làng: Em cũng xin có một bài Người
ơi người ở đừng về đấy ạ. Rồi sau này, Đỗ Chu còn viết Phù sa, trong đó có con sông Cầu bốn mùa nước trong và hiền lành
như một cô con gái, cái làng Hà làm đồ gồm những lò nung hình con cóc nằm bên bờ
sông. Hòa tan trong tất cả là một tấm lòng thương yêu đất nước hồn nhiên. Gọi
ra thì hơi quá, nhưng đó chính là cái nền dân tộc, những nét bản sắc quê hương,
vốn là một yêu cầu rất cao đối với tất cả những người làm công tác văn nghệ.
Như thế, ý định của
Đỗ Chu đi từ truyện ngắn đến những truyện dài hơn đã rõ ràng. Quả thật, anh còn
phải cố gắng rất nhiều, cả hai truyện Chân
trời và Gia đình những người đi xa
nếu có thành công mặt nọ mặt kia thì cũng chưa thực sự đạt được mục tiêu mà anh
mong muốn. Lý do chủ yếu thì không gì khác là ở vốn sống của anh, là phạm vi hiện
thực mà anh bao quát. Anh chưa vượt xa khỏi những đường mòn kỷ niệm trong mình.
Anh chưa có nhiều việc và chưa có nhiều người. Đúng là cần nhiều người, những
điền hình xã hội khác nhau, bởi cái quyết định các sự kiện cuối cùng phải là
nhân vật.
Mới đọc những truyện
trên đây, thấy Đỗ Chu nói đến lắm tầng lớp lắm. Có những ông già bảy mươi tám
mươi thuộc thế hệ trước, có những em bé mười một mười hai. Có anh bí thư chi bộ,
anh nhân viên bưu điện, đồng chíchính trị viên, và có cả ông chính ủy tuổi già
con rề là đại đội trưởng cũng trong trung đoàn đó. Nhưng sự thật chưa có nhân vật
nào đủ hình đủ bóng, chưa có con người nào khả dĩ vượt khỏi trang sách chuyện
trò cùng chúng ta. Nếu đôi lúc Đỗ Chu có nhặt nhạnh được dăm ba câu nói đúng
người đúng tuổi, có bắt chộp được vài hành động cử chỉ tỏ rõ cái thần của từng
người, thì những cái đó chưa ngưng kết được thành những tính cách, bởi hoạt động
tâm lý chưa bật lên thành cá thể có linh hồn riêng. Giống như sự kiện và con
người trong các bài thơ, những nhân vật được khai tên khai tuổi ở đây chỉ đề
nói lên đời sống nội tâm của chính người viết.
Có thể nói rằng
nhân vật duy nhất trong các truyện ngắn từ trước đến nay của Đỗ Chu chính là bản
thân tác giả. Đó là Tuân trong Hương cỏ mật,
Lầm trong Chiến sĩ quân bưu, Chi
trong Chân trời, Miên trong Gia đình
những người đi xa và nên kể cả hai
nhân vật trẻ trong Thung lũng cò: Vịnh
híp và Tịch mốc. Cách biểu hiện và mức độ tuy khác nhau nhưng các nhân vật đều
giống nhau ở chỗ vừa thơ mộng, vừa tinh nghịch. Cứ mơ hồ tản mạn khắp nơi mà lại
thể hiện được cái chất riêng của Đỗ Chu còn là không khí trong truyện. Cùng với
anh, ta cảm thấy mùi lá đay ngửi thật dễ chịu, đêm trên mặt sông im lặng và đầy
âm thanh. Tất cả các câm giác đều được huy động, những điều vốn mong manh dễ vỡ
bỗng trở nên có hình hài cụ thể, những giây phút bình thường ở mọi người được sống
lại tinh tế hơn. Sau khi đã có cái cốt chủ đề tư tưởng, lại mượn những thoáng cảm
giác để làm nên máu thịt cho sáng tác của mình, truyện Đỗ Chu hiện nay có một sức
hấp dẫn nhất định. Và mặc dầu chỉ có một nhân vật, một tâm tình, nhưng trong phạm
vi một tập truyện đầu tay nó vẫn là một cái gì non tơ dễ thương, chưa đến mức lặp
lại quá quắt.
Dường như cũng biết
những ưu điềm sẵn có, có khi trong quá trình tìm tòi quanh quần, Đỗ Chu trực tiếp
trở về với mình. Về nhiều phương diện, Đường
qua nhà và Thành phố bên kia cầu không
giống những truyện Đỗ Chu đã viết từ trước. Nhưng nếu chê hai truyện này thì cần
phải chè toàn bộ Phù sa vì đó chính
là những truyện chính cống Đỗ Chu với cái chất Đỗ Chu được chất được cô lại.
Không khí gia đình dịu ngọt, một người bạn gái, thế là đủ chỗ đề cho Đỗ Chu tự
thể hiện. Một cơn mưa chạy thoáng qua như
một tiếng thì thầm trìu mến. Tàn bàng trên đầu kêu rào rào... Đã nghe thấy tiếng nước tuôn từ phía trên xuống
các tàu lá dưới thấp. Cứ xem đoạn tả mưa ấy thì biết con người này dễ rung
cảm với thiên nhiên lắm! Và tình cảm anh lại phát triền lên với những trạng thái tâm lý nước đôi rất khó
giải thích. Cái tháp chuông nhà thờ hệt
như một cái chấm than, mỗi lần gặp lại, anh đều tìm thấy thêm một vẻ mới mẻ ở
cái hình dáng cũ kỹ của nó; câu chuyện giữa đôi bạn trẻ được tiếp tục một cách vừa thanh thản vừa
khó nhọc. Có vẻ lắm thứ như thế, nhưng rồi Đỗ Chu sẽ hiện nguyên hình khi
trở về bên mẹ. Ấy là một người đàn bà giàu tình cảm, mà cũng giàu nghị lực, có
vẻ còn hơi mê tín, cu cũ một chút, thực ra hiểu biết, yêu con mà khéo dạy con.
Cô giáo Nhâm ngày trước, người mẹ cậu Miên đã quy tụ lại đây, làm thành một
nhân vật chủ yếu trong văn Đỗ Chu hiện nay.
Về khung cảnh chung,
từ Chân trời, Gia đình những người đi xa, thấy Đỗ Chu hay nói đến thị xã, phố huyện.
Một ông thợ vẽ sơn thủy một túp lều gianh
ẩn dưới bóng một cây cành lá rườm rà, không ra cây đa mà cũng không ra cây đề;
một cậu bé bán kem – có một cái gì nhỏ nhoi, đìu hiu trong cảnh vật đó. Cái
thành phố bên kia cầu mà Hội đi lấy thư, thực ra cũng chưa thoát được không khí
một thị xã như thế. Bao giờ Đỗ Chu cũng dồn những tình ý đẹp nhất, bất ngờ nhất
cho đoạn kết câu chuyện. Có những nhận xét riêng, những triết lý nho nhỏ cứ cài
chen đây đó giữa nhiều trang Phù sa.
Thuộc loại như thế, ở cuối Thành phố bên kia cầu là phát hiện bâng quơ Quê hương chúng ta là những xóm nhỏ, những
cánh đồng, và nếu là thành phố thì những thành phố ấy thường nằm trên bờ sông
có nhịp cầu thân thuộc bắc ngang. Từ đầu đã nói Đường qua nhà và Thành phố
bên kia cầu có dáng dấp những bài thơ là với nghĩa đó.
Được sắp, đầu
tiên, nhưng Phù sa là truyện viết muộn
hơn của Đỗ Chu. Về mặt dựng truyện, Phù
sa trở lại một cái gì bình thường như những
truyện đầu tiên, không nghịch ngợm như Gia
đình những người đi xa, không như Đường
qua nhà giàu chất thơ chắt lọc. Từ Gia
đình những người đi xa, Một trận đánh lịch sử (VNQD 1-1967), Đỗ Chu đã có
phần đi trực tiếp hơn vào đề tài chống Mỹ. Cả nước đang ở thế hành quân vội vã.
Âm vang tiếng súng nơi mặt trận vọng lại khiến cho những câu chuyện hậu phương
cũng không còn quá bình thản nguyên lành. Có cuộc ly biệt nào xưa kia giống như
buổi tiễn người đi bộ đội ở cuối Phù sa được.
Bến sông bỗng trở nên nhộn nhịp như những
năm trước đây, vào tháng giêng, khi làng bước vào đình đám. Nếu tuổi tác có
làm cho người bà của Hạnh Nguyễn «nước mắt
trở nên giàn giụa hơn » thì rồi chính bà cụ cũng nói một câu tha thiết «Nhớ là phải về » tin tưởng mong chờ như
tất cả mọi người khác. Như là một cách điệu riêng, những niềm vui trong văn Đỗ
Chu thấp thoáng mơ hồ mà tỏa lan đây đó. Dụng ý ca ngợi cái đẹp của cuộc đời,
ca ngợi chế độ mới toát ra thật hồn hậu, tự nhiên. Không được nói ra trực tiếp,
nhưng những sự kiện lớn của nông thôn, của thị xã, của năm mười năm qua đều có
bóng dáng. Đi vào những mạch tâm tư vốn ần kín như mạch đất sa bồi bên kia
sông, anh muốn tìm đến những gì còn «uẩn tàng sâu xа» ở mỗi con người. Những nhà văn cũ, với con mắt và
kinh nghiệm của mình, có thề viết được những trang hay hơn, sâu sắc hơn, nhưng
quyết không thể đẹp và trong sáng giống như thế.
Những nhược điểm
hiện nay của Đỗ Chu thuộc về tuổi đời và kinh nghiệm sống. Nhiều truyện viết
kha khá của một số bạn trẻ chúng ta phần nhiều dựa vào kỷ niệm men theo những
chuyện gia đình nhà cửa, vốn là những cái
để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng họ. Ai cũng biết đó là quy luật tự nhiên ở
nhiều người mới viết, nhưng dẫu sao, càng ra thoát được sớm thì càng hay. Xem
ra thì thấy từ truyện đầu đến các truyện sau, bước tiến của Đỗ Chu chưa phải
dài rộng lắm. Kỷ niệm mãi rồi cũng hết, không khéo sẽ rơi vào chắp vá, bịa đặt.
Nếu chỉ tiếp tục cái mạnh duy nhất là sự tinh tế, trong quan sát, anh vẫn quyến
rũ chúng ta đó, nhưng rồi mãi cũng sẽ nhàm. Đã có những dấu hiệu báo động của một
bệnh nguy hiểm nhất với người viết văn: bệnh lặp. Con đường đồi mới của anh
không phải là đào sâu mãi vào trong mình, đề đến nỗi có khi chỉ là khoe chi tiết.
Cái chính là ở anh cần có nhiều việc nhiều người mới. Cuộc sống trong Phù sa đẹp, đúng là hiện thực ở xã hội
ta. Nhưng tác giả của nó chưa đặt được những vấn đề chưa phanh phui được những
quan hệ xã hội chủ yếu, nó là cái động lực bên trong thúc đầy mọi bước đi của
miền Bắc mấy năm qua, rồi từ đó mới kéo theo sự biến chuyền ở tất cả các mặt
khác. Cả tập Phù sa cơ hồ như không
có chuyện. Tất cả dường như đã tốt sẵn
như thế, con người ít nhiều như bị cắt rời khỏi quá trình và điều kiện hình
thành chung quanh mà dồn cả vào những niềm sâu xa bên trong cho nên cái đẹp cái
tốt trong họ vừa thuần lành, lại như một cái gì sẵn có, rất khó cắt nghĩa một
cách rõ rệt. Còn khi phải viết về những gì trước mắt như những cuộc chiến đấu.
Đỗ Chu chưa có những thành công tương đương. Một trận đánh lịch sử không in vào đây là một thí dụ. Nghiêm khắc
mà nói, cái nhìn đằm thắm thương yêu của một người sáng tác chưa đi đôi với một
sự từng trải nhạy bén chính trị của một chiến sĩ đề hợp với yêu cầu cách mạng
đang khẩn trương, Trong việc hình thành một người viết văn, vốn sống và vốn chính trị đan chéo nhau như những sợi
dọc sợi ngang của một tấm vải, thiếu một thì thiếu cả hai. Hướng tiến lên của Đỗ
Chu chính là khắc phục dần sự thiếu thôn đó. Những điều mà một số anh em trẻ
khác ước ao, nhạy cảm, năng khiếu - anh đã may mắn được cuộc đời ưu đãi ít nhiều.
Nhưng anh chỉ có thể khẳng định mình khi vượt sang giai đoạn thứ hai, tức là có
khả năng biến cải và nảy nở,
1968
TỪ
CỬA SÔNG ĐẾN
DẤU
CHÂN NGƯỜI LÍNH
Nguyễn
Minh Châu cho in những truyện ngắn đầu tiên khi anh đã ở vào tuổi ba mươi. Một
trường hợp vào nghề hơi muộn. Nhưng có lẽ những năm tháng trước đó là thời gian
anh tự chuẩn bị. Bởi khi bắt tay viết, anh có ngay được cái sức lực, cái dẻo
dai của một người trường vốn. Bước đi “điển hình” đối với một số người viết
khá là: tác phẩm
đầu tay ửng lên những sắc thái năng khiếu, nó là phần tài hoa thiên nhiên, kết
hợp với một sự bùng dậy của nội dung vốn sống. Thế rồi từ đó, anh ta kỳ cạch đi
- viết, đi đến đâu viết đến đấy, những cái sau không kém thì cũng không mấy khi
vượt qua những cái đầu tiên. Trường hợp Nguyễn Minh Châu hình như ngược lại. Thời
gian 1960-1964, anh viết một ít truyện ngắn, bút ký, chỉ những người theo dõi kỹ
mới để tâm trông đợi. Ký, truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu (sau này một số tập hợp lại trong Những vùng trời khác nhau) không chỉ có giá trị tự thân, mà còn hàm
chứa một hứa hẹn. Như một người làm báo, Nguyễn Minh Châu nói đến nhiều chuyện,
nhiều mảng sống khác nhau. Về mặt bút pháp, mỗi tác phẩm bé nhỏ đó cũng có những
biến hóa nhất định. Nên chủ yếu, có thể
xem một ít bài viết này như là những thí nghiệm, những sự thăm dò. Ở một số người viết, vẫn có
tình trạng như vậy, chỉ cốt cái bước đầu tiên này đừng kéo quá dài, và người ta
phải sớm làm được một cái gì đây mà có thể công nhận thật là của mình, từ đó
xem xét mình một cách công tâm lấy làm chỗ dựa để đi tiếp. Có những bước ngoặt mà mỗi người
phải cố dấn lên một chút hoàn thành, nếu không anh cứ đứng mãi ở cái bờ bên này
mà trông sang bờ bên kia, hối hận, tiếc xót.
*
Chính
Nguyễn Minh Châu cũng coi quyển
sách vào nghề của mình là quyển
Cửa sông.
Hồi
ấy là vào những ngày đầu năm 1965. Tác giả về một vùng du kích cũ... Thoạt nhìn
ở đây, kỷ niệm kháng chiến được nhắc tới không phải nhiều lắm. Về phía nào đó,
tác phẩm của Nguyễn Minh Châu mang tính chất thời sự rõ rệt - anh nói ngay về những sinh
hoạt ở một xóm nhỏ bình thường khi bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh
phá hoại. Có điều, chủ yếu đọc Cửa sông
vẫn bắt gặp cái không khí đồng bằng, nơi tác giả đã ở lâu, trong thời gian chống
Pháp. Và tác giả thuộc nó, thuộc đến nỗi chỉ cần một ít dòng là anh dựng được một
tính cách, chỉ vài ba nét tả là ra một khung cảnh. Với cả người viết lẫn người
đọc, các nhân vật Cửa sông, nằm trọn
trong những cốt cách quen thuộc. Một cô giáo dịu dàng, nghiêm chỉnh. Một người
mẹ địch hậu tốt bụng, cần cù. Một cán bộ cơ sở vững chãi. Họ vừa có gì mộc mạc,
dân dã, lại vừa là những con người mới, trải qua chín năm kháng chiến và gần mười
năm hòa bình, cái mới Cách mạng mang lại trong họ nhuyễn chín, thành những phẩm chất bền chắc. Bởi vậy,
bước vào những thử thách mới,
mỗi người vẫn lòng
đầy tin tưởng, tin tưởng đến độ bình thản. Nếu có lúc nào đó, một người như cô
giáo Thùy có suy tư tới những điều sâu xa, thì cũng là những ý nghĩ trong sáng
sau đây:
Mỗi tấc đất, mỗi con người
quen thuộc mà mình từng chung sống, từng dạy dỗ con cái họ đều có một cuộc đời
gắn liền với lịch sử đất nước đầy thử thách. Mỗi người đều mang trong lòng bao
điều tốt đẹp mà mình có thể học hỏi có thể khám phá suốt đời không hết, để tìm
hiểu nhân dân mình.
Đúng
ra, đấy là cái điều mà tác giả thể
nghiệm và lấy làm cảm hứng chính cho hơn hai trăm trang sách của mình.
Tính
đến cùng, mỗi tác phẩm văn học biểu hiện một phía nào đó không khí thời buổi mà nó xuất hiện. Với Cửa
sông, có lẽ không có gì gượng gạo nếu nó thuộc loại tác phẩm biểu hiện cái phía
bình thản, cả quyết của đời sống giai đoạn 1965 - 1966 đã đi vào lịch sử. Có những
điều mà hôm nay chúng ta biết nếu ai viết thế, sẽ bị coi là đơn giản, sơ lược,
nhưng bao giờ đọc lại cũng vẫn được chấp nhận. Vì đó là những ý nghĩ của rất
nhiều người trong một thời điểm nhất định -
tất cả chúng ta hôm qua đều đã nghĩ thế. Cái không khí chân thực, nó là cái điều
quan trọng nhất của một tác phẩm, nó giữ mọi chi tiết, mọi bộ phận trong cái thế
vững chãi có thể
có.
Riêng
đối với đời văn của Nguyễn Minh Châu, Cửa
sông ghi nhận bước đi ban đầu khá chững chạc của tác giả. Rất chân phương,
anh bắt vào được cái mạch văn chương của một giai đoạn: tôi muốn nói về nhiều mặt,
Cửa sông gần gũi với những tác phẩm
trước đó, loại tiểu
thuyết trên dưới hai trăm trang như Một
truyện chép ở bệnh
viện (1939) Đi bước nữa (1950) hoặc
những tập truyện ngắn ra cùng thời như Phù
sa (1977). Bên cạnh những nét đặc sắc riêng, dễ cảm thấy những tác phẩm này vẫn có một cái gì
đó thuộc về giọng điệu chung, chứng tỏ chúng đều là những sản phẩm của một giai đoạn văn học;
trong cái giai đoạn kéo dài này, tuy lịch sử chuyển từ hòa bình sang chiến tranh, nhưng nếp
cảm nếp nghĩ của các tác giả, cũng như của nhiều người trong chúng ta, vẫn là nằm
trong một sự liên tục.
*
Bởi
vì, chỉ sang tác phẩm
sau, điều Nguyễn Minh Châu mang lại đã khác đi.
Dấu
chân người lính bắt đầu trích đăng từ tháng 4-1970. Nhưng không khí, vấn đề của
nó là vào những năm 1967 - 1968,
bốn năm sau thời gian của tiểu
thuyết trước. Chỉ có bốn năm, nhưng như chúng ta thấy, lịch sử đã sang trang. Bắt
đầu thời gian của cuộc Tổng
tấn công và nổi dậy đồng loạt từ đó, mọi bước đi của Cách mạng nước ta rẽ sang
một bước ngoặt mới.
Như
một tác phẩm văn học, điều dễ nhận ra là Dấu
chân người lính tiếp được một không khí chung, không khí chiến trường trong
những năm tháng sôi động. Cả một khung cảnh bề bộn ngổn ngang hiện ra ngay từ
những trang sách đầu tiên. Chúng ta bắt gặp nhiều bộ mặt, cảm nghe cái tiếng
nói đám đông hết sức ồn ào, nhiều người, nhiều việc:
Đông đúc quá! Không có
tài nào mà phân biệt hoặc đếm được có bao nhiêu đơn vị, cũng không thể biết đây
là đường rừng
hay là quảng trường, là rừng cây hay là rừng người và rừng súng đạn. Người
ta chỉ biết là đông đúc và chật chội, là hơi nóng của hơi thở và mùi mồ hôi người,
là tiếng nói ồn ào của cuộc sống, là đàn ông cần lao đang san một nửa tổ đi đánh giặc, là cơn giận
dữ của đất nước lại một lần cầm lấy súng.
Trong
hơn tám mươi trang sách ở cái phần một Hành
quân, không thiếu những đoạn ngòi bút tác giả như vươn ra, cảm hứng đầy đặn
muốn ôm trùm càng nhiều càng hay cái thực tế phong phú với nhịp điệu biến chuyển
linh động như vậy. Nó để
lại những ấn tượng mạnh, đậm. Nó gợi lên cảm giác về một cuộc sống quyết liệt
trong những năm tháng chúng ta làm hết sức mình, làm tất cả để đi tới cái mục đích cao
cả: sống, chiến thắng.
Các
nhân vật của Nguyễn Minh Châu trong Cửa
sông chủ yếu quanh quẩn
trong cái môi trường quen thuộc là cái làng xóm nghìn đời của mình. Các nhân vật
trong Dấu chân người lính đã đi xa,
đã gặp nhiều người khác, đã làm nhiều công việc khác, những việc mà ở nhà, họ
không ngờ tới. Giọng điệu chính của Cửa
sông là ấm áp hiền hòa, cả đến khi cuộc chiến đấu bắt đầu, không khi vẫn là
bình thản, lòng người lại càng bình thản. Trong Dấu chân người lính cuộc sống đã xao động hẳn lên, báo hiệu một cái
gì đó, mạnh mẽ, dữ dội, thực tế hiện ra với nhiều mảng khác nhau, có mảng mờ nhạt,
nhưng có những mảng rực rỡ, óng ánh. Cuộc sống như bị xô đẩy như phát triển về rất nhiều mặt, không
ai có thể lường trước được ở đó, nỗi vui và nỗi buồn đan chéo nhau, băn khoăn
cùng hy vọng tiếp nối, hòa hợp. Quả thật có ai ngờ chính ủy Kinh lại gặp người
con trai ngáy giữa chiến trường? Và nói rộng ra, miền rừng xa xôi nào đó lại là
nơi hội ngộ của rất nhiều người bạn mới, cũ?
Nhưng một mặt khác, mối tình giữa Lượng và Nết không thành, quan hệ Xiêm - Kiếm cũng dang dở, không
hiểu sẽ sum hợp hay sẽ xa
cách hẳn. Không thể
còn nữa cái cảm hứng chung về hiện thực có phần tĩnh, lặng, như trong Cửa sông... Mọi người buộc phải thay đổi.
… Nhưng như thế là
chúng ta đã nói tới các nhân vật trong Dấu
chân người lính. Qua một số mẫu người, quan niệm của Nguyễn Minh Châu và thực
tế hiện ra đầy đủ hơn cả.
*
Họ
tên là Lữ, Khuê, Hiền, Cận, Hoạt... Giữa đám người khổng lồ trên đường hành
quân những thanh niên đó, và những cán bộ phụ trách Kinh, Nhẫn, Thái Văn...
cũng đang đi mải miết. Chúng ta dần làm quen với từng người. Có lúc hồi tưởng
những kỷ niệm cũ. Có lúc thủ thỉ bàn chuyện tương lai. Nhưng cái chính là họ
đang hăm hở đi, đi trên con đường cụ thể, cũng là đi những bước đi quan trọng
trong cuộc đời. Phải đối mặt với những hoàn cảnh mới. Phải gạt bỏ những thói quen
cũ, Phải tình cảm hơn mà cũng phải trí tuệ hơn. Đến cuối quyển truyện, chính các nhân
vật đó mới có thể
hiểu họ đã vượt qua bao
nhiêu thử thách, họ trưởng thành, họ thay đổi
đến không ngờ. Cần nói ngay là chính tác giả cũng vậy. Trước tiên, điều cần nhấn
mạnh về con người nhà văn ở đây là cái khao khát hiểu biết, cái khả năng ngạc
nhiên. Như là đi đến một điều bí mật, anh tìm hiểu mọi người với một thái độ trân trọng, một
niềm say mê. Những cảm hứng chung về cuộc sống, cái ý nghĩ trong sáng về nhân
dân đất nước mà hôm qua anh mới bắt đầu cảm thấy (qua những điều tâm niệm của
cô giáo Thùy đoạn trên đã dẫn), thì hôm nay nảy nở đầy đặn, thành một nhận thức rõ rệt
trong anh và những nhân vật của anh. Và đó là điều kiện chủ yếu làm nên mối đồng
cảm giữa người đọc và tác phẩm. Làm sao tính đếm được hết những gì đã xảy ra
trong mỗi con người chúng ta những năm thời chiến không thể nào quên?! Vào cuộc
chiến tranh này, mỗi người là một ông Kinh mở lòng rộng rãi lắng nghe những động
tĩnh xã hội mà cả đời mình hy sinh đóng góp. Là anh lính trinh sát Khuê phát hiện
mình trong chiến tranh, tìm thấy trong hoàn cảnh chiến đấu một điều kiện vận dụng
hết khả năng trí tuệ và sức lực sẵn có. Là một cô Nết sống những rung động ban
đầu trước cuộc sống chiến trường, nơi hôm qua không sao hình dung nổi.
Tất
cả, tất cả như được chiến tranh dạy khôn, trở nên cứng cỏi, làm được những việc
vượt quá sức mình. Từ Tốt, Thùy, đến Nết, từ bác Thỉnh, ông Lâm, đến Kinh, Nhẫn,
có một sự tiếp nối, nhưng đã có một khoảng cách.
Vẫn
là những nhân vật của Nguyễn Minh Châu, thường vẫn ân nghĩa, đằm thắm, thủy chung, nhưng
trong hành động và trong quan niệm triết lý sống, họ đều được thử thách, biến đổi, để rồi trở nên sâu sắc hơn,
có khả năng bám chắc vào đời sống, cũng tức là hiện thực hơn, nếu có thể nói như vậy.
Trong
Dấu chân người lính có một nhân vật
chưa hề có tiền lệ trong Cửa sông, đó
là trường hợp Lữ. Nhân vật được hình thành và có kết thúc số phận trọn vẹn
trong tác phẩm
trước hết là một nhân vật có phần hơi đặc biệt, như là một thoáng hư ảo. Anh
say sưa nói về khối lửa. Anh đốt hết sách vở để mạnh dạn bước vào đời. Đó cũng là anh
chàng Lữ mải mê với một ánh trăng để
từ đó tìm cho mình một quan niệm
về vẻ đẹp, về lẽ sống.
Đằng
sau cái nét mặt thật «vừa thông minh lại vừa hơi đần đần » của Lữ là một bộ mặt
tinh thần độc đáo. Tuy vậy, anh vẫn đứng hòa hợp với những nhân vật cùng tuổi trong tác phẩm, những
thanh niên sống rất sôi nổi « Lính trẻ với
nhau, toàn là con trai, trông mặt mũi tướng mạo ai nấy đều có vẻ lãnh đạm và
quyết liệt, nhưng người ta cũng dễ dàng bật quen với nhau ». Việc bắt gặp một
lớp trẻ như thế giúp cho ngòi bút Nguyễn Minh Châu được dịp phô diễn hết vẻ
tươi tắn cùng là khả năng đồng cảm sâu sắc với đời sống vốn lúc nào cũng ở thế
đi lên phía trước. Ngòi bút của anh sức đang còn trẻ cũng là bởi thế.
Với
các nhân vật mới, Nguyễn Minh Châu cũng bộc lộ thêm một khả năng trong việc xây
dựng nhân vật, nói cách khác một khả năng gọi đúng hiện thực, trước hết là cái
hiện thực trong đời sống tinh thần con người. So với những Thùy, Bân, bác Thỉnh trong Cửa sông, các nhân vật trong Dấu chân người lính nội tâm phong phú hẳn
lên, nhờ nơi ý thức của mỗi người về chính mình, về thực tế chung quanh mình đều
phát triển. Mỗi người theo cách của
mình đều thích tự phân tích, tự suy xét một người như ông Kinh “thương lính kiểu đàn bà”
đã hay nói lý lẽ; Khuê, Nhẫn, càng tỉnh táo lý lẽ, bởi đó là yêu cầu trong công
việc của họ. Còn anh chàng Lữ, con người mơ màng? Không, chính anh luôn luôn
tìm cách thế
nào để sống cho phải, anh chăm
chú nhìn vào người khác và nhìn
vào chính mình, anh huy động mọi vốn liếng sách vở. Tóm lại, Lữ sống kỹ lưỡng
trong mỗi công việc, cần mẫn đi theo cái niềm tin sắt đá, nó là cái hướng lớn
trong cuộc đời. Chúng ta nhớ lại những đoạn nhật kí của Lữ khi qua đoạn sông
B. Đó là giây phút con người bình thường đối diện với lịch sử, Lữ thuộc loại người không dễ bỏ qua những
kỷ niệm lớn đó. Trong mỗi chúng ta đều có một phần con người Lũ: Chính cuộc sống
sôi động những năm vừa qua đã cho phép người ta và cũng là buộc người ta phải
vươn tới tầm vóc của lịch sử. Có lẽ đó cũng là một trong những điều mà cuộc chiến
tranh vừa qua để
lại sâu đậm trong tâm trí mỗi người bình thường. Những ngày đầu chiến tranh các
nhân vật trong Cửa sông chưa thể bị lôi cuốn mạnh mẽ như
thời gian về sau được.
*
Như
có người đã nhận xét: Dấu chân người lính
chưa phải là một quyền sách viết đều tay.
Nếu
chỉ tính đến cấu trúc nội tại, tác phẩm viết trước đó bốn năm của Nguyễn Minh
Châu có phần hoàn thiện hơn. Cửa sông
trọn vẹn trong quy mô vừa phải của nó. Ở Cửa
sông, thực tế hiện ra cân đối nhịp nhàng - cuộc đời thu nhỏ lại trong một
cái làng có vui, có buồn thì cũng còn là đơn giản. Các nhân vật ở đó tình cảm
lý trí thống
nhất, tất cả sống đúng như mình có, không thấy những lay động quá mức, những
khao khát, những đòi hỏi phức tạp. Mọi việc xảy ra để đi đến chỗ nó phải đến, mọi mối bất
hòa được gỡ ra, mọi mối tình đều chín tới, con sông Kiều ra tới tận biển mà cái tiếng sóng bật
lên vẫn chỉ là tiếng sóng “vừa
trang nghiêm vừa dịu dàng”. Ứng với một hiện thực
như vậy, cái nhìn của tác giả trong Cửa sông trong sáng, điềm tĩnh. Anh đôn hậu
nhìn nhận mọi chuyện, thắm thiết cùng kỷ niệm, lắng nghe mọi diễn biến xảy ra trong mọi người. Qua
anh những mảng người
được đưa vào Cửa sông hòa hợp, không
chỗ nào trồi ra, sụt vào. Tác phẩm cân xứng, nhịp điệu chậm rãi, câu cú ngắn gọn, chữ nghĩa
chính xác.
Ngay
từ những mặt này - mặt bút pháp, bố cục, nói chung là những yếu tố hình thức, Dấu chân người lính đã có gì đó không đều
tay, toàn bộ không trọn vẹn, bởi các yếu tố không thật hòa hợp. Từng mảng đậm
nhạt không đều. Không đều về hình khối bên ngoài cũng như về cấu trúc bên trong
Nhân vật đứt nối tùy tiện. Một đôi chỗ, thấy những “vết
hàn” khá rõ. Đã dành không thể
tìm thấy trong Cửa sông những trang
viết dầy dặn những mảng sống như đắp như chất lên trên trang sách trong phần
miêu tả hành quân. Thế nhưng, chính ở Dấu
chân người lính lại gặp nhiều hơn đâu hết trong văn Nguyễn Minh Châu những
chỗ ngòi bút tác giả quá say sưa, tự mình bị mê hoặc trước những điều mình viết
ra, hiện thực đời sống bị chắp vá lắp ghép, câu cú vốn điêu luyện hóa ra xộc xệch.
Đứng về mối quan hệ giữa vốn liếng của tác giả và những điều được viết ra, ở Cửa sông, Nguyễn Minh Châu làm chủ được
tài liệu đến độ thuần thục. Anh có thể nói ngắn gọn, nói rất điềm đạm. Sang Dấu chân người lính, anh đã phải vươn tới
những gì anh chưa có đầy đủ, nên hóa sa đà, chới với.
Chúng
ta đều biết: suy cho cùng, những nhận thức về hiện thực đời sống của tác giả sẽ
chi phối cả mỹ cảm cùng là những yếu tố hình thức của tác phẩm. Trường hợp Nguyễn
Minh Châu với cả hai tiểu
thuyết Cửa sông và Dấu chân người lính ở đây đều là những dẫn
chứng xác đáng.
Từ
sau Cửa sông, Dấu chân người lính là bước đi tiếp tục, đồng thời là bước đổi khác của một người viết
- những
đổi khác không chỉ do ý muốn
chủ quan của nhà văn,
mà còn do chính hiện thực đời sống quy định, cả hai yếu tố chủ quan khách quan
hòa hợp với nhau, làm nên nét mặt riêng của một Nguyễn Minh Châu cụ thể.
Nhìn
lại những biến đổi
của tác giả Cửa sông, mỗi người chúng
ta có dịp đề tìm hiểu thêm những thay đổi
xảy ra ở chính mình trong những năm qua. Cả trong những mặt thành công lẫn những
mặt chưa đạt của nó, một tác phẩm như Dấu
chân người lính có thể gần gũi với nhiều người đọc là với ý nghĩa ấy.
1973
MỘT CÁCH BÌNH LUẬN LỊCH SỬ
Từ chỗ đứng của ngày hôm nay
Ý nghĩa của cái thời
điểm mà ý định viết sách chín muồi trong tâm trí tác giả:
cuối một tập sách, sau cái dấu chấm hết đánh dấu thời điểm kết thúc của một quá
trình lao động lâu dài, những người viết văn viết báo thường có thói quen chua
thêm mấy chữ chỉ địa điểm
và nhất là vài con số chỉ thời gian đã hoàn thành cuốn sách.
Thông
thường, không mấy khi những con số đó có vai trò gì đặc biệt.
Nhưng
có một thứ thời gian mà người đọc giá kể
có thể biết, thì sẽ rất tốt trong việc cảm thụ tác phẩm; có một thứ thời điểm, mà mỗi khi đối diện với
những trang sách, tôi cố dò cho ra, thứ thời điểm chỉ họa hoằn lắm mới thấy ghi
và được ghi chính xác, nhưng có thể coi như ngày khai sinh của cuốn sách, nó
góp phần giúp ta hình dung cả vóc
vạc và dáng vẻ, cùng là cái chất của “con
người” sẽ sinh thành, tức cái
xu hướng chính mà tác phẩm
sẽ có:
Đó
là cái ngày mà ý định viết cuốn sách thực sự hình thành trong đầu óc tác giả.
Từ
thời điểm đó mà suy, liên hệ sự
kiện nêu trong tác phẩm với
nhận thức chung của xã hội và của tác giả về vấn đề đó, vào thời gian đó, chúng ta có thể biết
khá nhiều về quyển
sách.
Nguyễn Khải và những “thời điểm ngày hôm nay” :
Tôi xin được nói rõ điều này, lấy Tháng
Ba ở Tây Nguyên làm ví dụ. Tiếng súng mở màn cho Đại thắng mùa xuân bắt đầu
là vào đầu tháng 3, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc vào 30-4-1975, còn như ý định
viết cuốn ký sự thì, bằng vào tác phẩm, thấy nó cũng đến với nhà văn khá sớm,
có thể nói chắc chắn là sớm hơn
rất nhiều cái thời điềm ghi ở cuối sách là gần một năm sau, Tết Bính Thìn
(1976). Viết về chiến thắng ngay sau chiến thắng, khái quát mà nói, viết về
ngày hôm nay, thấy Nguyễn Khải đã chọn chính chỗ đứng của ngày hôm nay, sát
nách, cụ thể, gần gũi. Anh thu thập được những sự kiện theo như chữ của báo chí
vẫn dùng, là nóng hồi ý nghĩa thời sự. Nhất là anh giữ được tình cảm mà sự kiện
gợi ra trong lòng mình. Mối đồng cảm giữa tác giả và người đọc cũng từ đó mà
hình thành, mối đồng cảm đó là môi trường tốt nhất để tác giả lên tiếng và tìm
được sự gần gũi trong dư luận.
Không
phải đây là lần đầu tiên Nguyễn Khải làm theo lối này.
Viết
về những sự kiện sôi động trong cải cách ruộng đất và sửa sai, Xung đột tập đầu in rải rác trên Văn nghệ Quân
đội từ năm 1957.
Họ
sống và chiến đấu kể
chuyện Cồn Cỏ ngay lúc mọi người đang
muốn biết rõ về hòn đảo anh hùng đó.
Chỉ
ít lâu sau khi quân Mỹ đổ
bộ về miền Nam, tác giả cho in trên nhiều tờ báo một loạt bút ký, sau này tập hợp
thành tập Hòa Vang.
Lâu
nay, hầu như tác phẩm
nào của Nguyễn Khải cũng đã tự xác định rất công khai mối liên hệ với các sự kiện
lịch sử - xã hội đang sôi nổi một thời. Vượt lên mối
quan hệ trên bề mặt (tức là mối
quan hệ thời gian), ở đây, tôi chỉ muốn nói thêm đó là mối quan hệ về bề sâu, quan hệ trong
quan niệm, cách đánh giá, tóm lại là về phía chỗ đứng của tác giả.
Có
thể đứng ở nhiều góc độ khác nhau để
xem xét một sự kiện. Song, nhìn lại đối với phần lớn các tác giả của văn học ta
sau Cách mạng, cái mạnh của ngòi bút nhà văn thường là do khoảng cách hết sức gần
gũi giữa tác phẩm
và sự kiện. Viết như những người trong cuộc nói chuyện với nhau, viết như những
chiến sĩ vừa tham gia một trận đánh thắng lợi trở về ngồi hàn huyên đủ thứ chuyện
chung quanh trận đánh đó, tựa lưng ngay vào những kết luận mà ai cũng công nhận,
đón ngay lấy cái tình cảm đang là lẽ sống của nhiều người - tóm lại, những trang viết
của chúng ta thường được cái liền mạch, liền hơi với đời sống, có mặt ngay bên
các sự kiện khác trong đời sống. Rồi ra, cách nói cách diễn tả cũng từ đó mà đến,
gần gũi với sự thực, như thực, ngôn ngữ văn chương là chính ngôn ngữ đời sống,
tác giả nào có được rung động tươi mới, thì tác phẩm sẽ đượm đà sinh sắc
hơn.
Nguyễn
Khải chỉ khác những người khác ở chỗ: sau khi đã có được cái vững chắc của thế
đứng, một ngòi bút lui tới rất giỏi như tác giả
Xung đột tha hồ mà tung hoành. Ở đây, trong Tháng Ba ở Tây Nguyên, anh triển
khai lối viết rất uyển
chuyển, có chỗ cả trang là những
ý kiến đua nhau lên tiếng sôi nồi, có chỗ nêm chặt tài liệu. Chuyền đạn, làm
kho, ngòi bút không ngại động tới những khu vực “bếp núc”
bậc nhất của cuộc chiến đấu, để
rồi sau đó, lại ngược lên những khu vực bao quát, thuộc về ý đồ chiến
lược của Đảng, ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi của chiến thắng lịch sử.
Thành
thử, cuốn sách vừa chặt chẽ về nguyên tắc, vừa linh hoạt, đa dạng trong tài liệu.
Về cách “bài binh bố trận” trong một tác phẩm nghệ
thuật, tôi nhớ một đồng chí sáng tác kiêm đạo diễn múa có lần giảng giải đại ý:
Trong múa, khi đội hình đơn giản, thì động tác có thể phức tạp, khi động tác
đơn giản, thì đội hình có thể phức tạp - giữa hai cái đó, người sáng tác phải
chọn lấy một. Vận dụng vào trường hợp Tháng
Ba ở Tây Nguyên, thấy Nguyễn Khải có thể để cho ngòi bút mình tha hồ tự do lui tới là
nhờ ở chỗ chính anh đã đứng rất chắc trên mảnh đất đã chọn.
Nguyên lý. Thời
gian mở đầu. Địa
điểm mở đầu
Còn
một khía cạnh khác, thuộc về cách viết chung của nền văn học ta, mấy chục năm gần
đây, và được Nguyễn Khải “đẩy tới cùng” trong Tháng Ba ở Tây Nguyên, đó là việc viết về
các nguyên lý, những đề tài lớn, những chủ đề lớn.
Giữa
các thời đại, các nền văn học không chỉ khác nhau trong xu hướng tư tưởng. Mà
ngay các chủ đề, những đề tài được văn học đả động tới, cũng đã sai khác.
Lòng
yêu nước, tinh thần dân tộc, sự tất thắng của chính nghĩa, sự sụp đổ không tránh khỏi của những
gì ngụy tạo - nếu trước cách mạng, các chủ đề đó bị lảng tránh bao nhiêu, thì mấy
chục năm gần đây, lại được các ngòi bút của chúng ta tập trung biểu hiện bấy nhiêu.
Đất nước đứng lên, Những
tầm cao, Vùng trời, Vỡ bờ, Gió lộng, Cửa biển, rồi Tổ quốc, Chiến sĩ, Cách mạng:
có những
tên sách đã nói khá đầy đủ nội dung nhiều cuốn sách. Và còn bao nhiêu tác phẩm
khác lấy - những cái tên «nhẹ nhàng» «đơn giản» hơn, song nội dung cũng là những
vấn đề to lớn không kém.
Trong
toàn bộ xu hướng tư tưởng, và cái cốt cách chủ yếu của nó, Tháng Ba ở Tây Nguyên có thể đội cái tiêu đề biểu hiện những ý niệm
lớn như Chiến thắng, Toàn thẳng, Lịch sử...
Mở
một trang sách bất kỳ, như trang 51, thấy có những chữ thuộc về nguyên lý: tình thế và diễn biến, cơ quan lãnh đạo
chiến lược cùng tổ chức đảm nhiệm chiến dịch và chiến thuật. Rồi hôm nay, rồi ngày mai. Có nhiều chữ được viết hoa như Vĩnh Viễn như Bất Tử như
đài Chiến Thắng.
Ấy
là không kể
một giọng điệu thành kính, cách dẫn chuyện có đầu có đuôi, những lập luận đanh
thép, dứt khoát -
toàn yêu cầu cốt tử đối với mọi trang sách viết về các chủ đề thiêng liêng cao
cả.
Nhà
văn đã tìm được cách viết phù hợp với nội dung của tác phẩm.
Trong
quá trình đọc Tháng Ba ở Tây Nguyên,
trong tôi còn nảy ra một câu hỏi khác, có vẻ hơi lần mần một chút, nhưng rõ
ràng là cần phải tự hỏi:
- Mùa xuân năm 1975, cùng với
một số đồng chí khác công tác ở các ngành nghệ thuật trong quân đội, Nguyễn Khải
lên đường đi chiến trường. Lần lượt các anh có mặt ở Huế, qua Đà Nẵng, Nha
Trang... rồi theo chân các binh đoan lớn mạnh như nước vỡ bờ của quân ta, tiến
vào Sài Gòn. Cuối tháng 5 trở ra, thì đến tháng 7, tác giả còn quay vào các tỉnh
phía nam một lần nữa.
Đi
nhiều nơi, biết nhiều việc. Vậy mà giữa cái lớn lao, bộn bề của chiến dịch,
Nguyễn Khải đã chọn cái điểm mở đầu là Tây Nguyên,
cái thời gian mở đầu là tháng ba. Tại sao như vậy? Ngẫu nhiên chăng?
Không
thể trả lời câu hỏi này, nếu không liên hệ nó với vấn đề vừa nêu ở trên. Viết về
các chủ đề lớn, về các nguyên lý cũng là viết về mở đầu: mở đầu của một thời đại
mới. Mở đầu của cách mạng. Từ ấy, vâng, cái tên tập thơ đầu của Tố Hữu cũng là
cái tên chung của toàn bộ nền văn học mới: TỪ ẤY!
Từ
sau Cách mạng tháng Tám, cho tới 30-4-1975, ba mươi năm ấy, lịch sử dân tộc là
một giai đoạn nhất trí. Ba mươi năm, già nửa đời người, gần một phần ba thế kỷ,
nghĩ thì cũng dài, song đặt cả giai đoạn này trong lịch sử từ nay về sau, lại
thấy 30 năm ấy chỉ là một giai đoạn ngắn, là thời gian của mở đầu, của sinh
thành, tái tạo. Mà nền văn học mới cũng rất nhạy bén trong việc nắm bắt cái đặc
tính đó của thời đại. Trong phạm vì một chiến dịch chẳng hạn, các ngòi bút của
chúng ta, cũng như các nhạc sĩ, ca sĩ, thường tỏ ra hết sức hào hứng, trong việc
nói về phút mở màn, trận đánh thứ nhất.
Mười
mấy năm trước, khi học những bài thơ như Việt
Bắc, Ta đi tới, tôi đã được một giáo viên dạy văn giảng cho cái ý nghĩa của
một hai chữ, như chữ thuở trong câu:
Nhớ khi kháng Nhật, thuở
còn Việt Minh.
Chỉ
một chữ thôi, không khí trong câu thơ đúng là một không khí lịch sử.
Đọc
một tác phẩm như Tháng Ba ở Tây Nguyên,
có thể bắt gặp nhiều chữ như vậy.
Chương
II tập sách có cái tên rất tiêu biểu: Vốn là niềm tin của chúng ta, nhưng được
diễn giải qua những nhân vật rất bất ngờ. Vốn
là niềm tin của chúng ta, đó là yếu tố
chủ đạo, còn cách diễn giải bất ngờ
là thứ yếu, đến sau.
Có điều, qua ngòi bút của Nguyễn Khải, nhiều trang sách vẫn được gọi là bất ngờ,
nghĩa là đọc thấy thú vị.
Bất
ngờ trong ngày hôm nay, bất ngờ trong những ngày tới
Đại
thắng mùa xuân 1975 khép lại một giai đoạn lịch sử và Tháng Ba ở Tây Nguyên cũng khép lại một giai đoạn sáng tác của Nguyễn
Khải, giai đoạn anh viết về chiến tranh. Đọc Tháng Ba ở Tây Nguyên, bất giác
tôi nhớ lại Họ sống và chiến đấu. Cả
hai cuốn cùng là ký sự. Cả hai cuốn cùng dày khoảng 200 trang và cả hai cùng một
cảm hứng chính, nên cũng cùng một giọng điệu...
Bắt
đầu chiến tranh, đến với một tế bào của nó như Cồn Cỏ, Nguyễn Khải như muốn kêu lên: chúng ta đã chiến đấu rất giỏi.
Cái anh hùng đã trở thành cái bình thường. Chống Mỹ kế tiếp giai đoạn chống Pháp,
con người đã được chuẩn bị, đất nước đã được chuẩn bị, trên dưới đồng lòng, âm
hưởng chính của chiến tranh mà ngay từ năm ấy, Nguyễn Khải đã dự đoán và biểu
hiện trong tác phẩm, là âm hưởng nhất trí, hòa hợp.
Từ
ấy trở đi, khi viết về một đại đội trên chiến trường miền Tây, khi theo dõi bước
đi của một chiến sĩ xe tăng trong một chiến dịch lớn như chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, trước sau Nguyễn
Khải vẫn là đi tiếp con đường mà chính anh đã vạch sẵn.
Nay
đến lượt viết về ngày toàn thắng, có thể nói anh đã đi được một vòng tròn, và về
đúng cái điểm
đã xuất phát ban đầu. Nói Tháng Ba ở Tây
Nguyên gần gũi với Họ sống và chiến đấu,
bởi lẽ ở cả hai cuốn, bằng những cách
tiếp cận khác nhau, nhưng trước sau tác giả của chúng vẫn giữ được một quan niệm,
một lập trường nhất trí.
Đọc
các tác phẩm
mà Nguyễn Khải đã viết trong mười năm qua, luôn luôn chúng ta bắt gặp một cuộc
sống vùa bất ngờ, vừa gần gũi. Đã gọi là cuộc chiến đấu, hẳn bao nhiêu người,
bao nhiêu chuyện, kỳ lạ, thay đổi,
nhưng tất cả lại không đi ra ngoài nguyên lý, tất cả đã được dự kiến sẵn, tất cả
đều vận động với một niềm tin thiêng liêng: chiến thắng, toàn thắng. Giữa một địa
phương, với toàn bộ đất nước là nhất trí, trong cả bộ máy chiến dịch hết sức phức
tạp, các bánh xe hết sức ăn ý hòa hợp với nhau, và nhìn chung về thời gian, thì
hiện tại là bắt nguồn từ quá khứ, hiện tại ương mầm cho tương lai, toàn những nối
tiếp lý tưởng.
Xét
về hình thức biểu hiện, thấy ngòi bút Nguyễn Khải đã cộng hưởng với sự hòa hợp
đó sâu sắc, để
rồi chuyển nó vào mọi đường gân thớ
thịt của tác phẩm,
từ trong cấu trúc chung, cách sắp xếp các chương mục, đến mở đầu kết thúc từng
quyển. Trong văn anh, câu chữ
chưa bao giờ vang lên nhịp nhàng như trong mười năm ấy, từ Họ sống và chiến đấu đến Tháng
Ba ở Tây Nguyên. Âu cũng là một điều bất ngờ, nếu so sánh với cách nhìn nhận
cùng bố cục, câu chữ ở cái tác phẩm
xuất sắc của anh: Xung đột.
Thông
thường, ở một bài viết thuộc loại bình luận thế này, đến phần cuối, người ta tỏ
ý hy vọng, tin tưởng, ví như
chờ đợi ở những bước tiến mới của tác giả trong thời gian tới. Riêng với Nguyễn
Khải, nói thế thì không cần thiết, mà dự đoán những điều anh sẽ viết trong những
ngày tới thì khó quá. May lắm chỉ có thể tin
chắc một điều: luôn luôn sống với hiện tại, cái chất của ngòi bút Nguyễn Khải trước sau vẫn
là như thế, hoàn cảnh thay đổi
thế nào, rồi ngòi bút ấy
cũng chèo chở được. Là nhà văn của những ngày hôm nay, ngòi bút của anh luôn
luôn biết lui tới theo đúng cái nhịp mà mỗi “ngày
hôm nay” cần tới, cho phép, bao gồm
cả việc khai thác khá uyển
chuyển những khía cạnh bất ngờ
của nó. Hai chục năm qua, con người nhà văn trong Nguyễn Khải đã là một ví dụ về sức sống mạnh mẽ của
nền văn học mới trong một thời đại mới.
1977
NGUYỄN KHẢI
HAY LÀ MỘT CÁCH TỒN TẠI TRONG VĂN HỌC
Ở Hà Nội, Nguyễn Khải có một căn phòng mười
bốn mét vuông ở bãi Phúc Xá; khu nhà tập thể này ở ngay vệ sông, cứ đến mùa lũ,
nước sông Hồng dâng lên là phải lo chạy vào trong phố ít ngày. Nhưng ở đấy liền
hai mươi mốt năm, Nguyễn Khải hoàn toàn thoải mái, lại còn đi đâu cũng khoe: “Ngoài bãi mát, yên lặng,
ngồi viết thích lắm”.
Hình như con người này rất có duyên với những
xóm nghèo ven nội. Vào Sài Gòn, anh lại ở ngay Khánh Hội. Nhà cửa còn tuềnh
toàng, thiếu thốn đủ thứ, nhưng vẫn có cái để khoe: “Dẫu sao cũng rộng hơn nhiều,
so với Hà Nội” - Nguyễn Khải bảo vậy. Vẫn
như xưa nay, anh hồ hởi cười nói khi gặp bạn bè, và tôi cảm thấy một niềm vui cố
hữu nơi anh: niềm vui được sống, được viết. Chỉ thế thôi cũng đã quý lắm!
Trong đời sống hàng ngày, có thể bảo đây
là một người hay la cà. Ngay cả những tháng viết bận nhất, Nguyễn Khải vẫn dành
thời giờ lên phố, ghé lại một tòa soạn hay một nhà xuất bản nào đó, trò chuyện
với anh em, thậm chí sẵn sàng ngồi ở một hàng
nước vỉa hè, bắt chuyện với một người bên cạnh không hề quen biết. Nhưng kéo được
Nguyễn Khải vào một đám lai rai thâu đêm thì khó lắm! Đó là con người biết tự
chủ, không sa đà vào đâu quá lâu, làm gì thì làm nhưng trước tiên là ngài đến
chuyện viết, lấy sự viết làm lẽ sống của mình. Mới đầu, là một cách tự răn
mình. Sau, thành một thói quen không thể thay đổi. Khoảng 1966 - 1967, thấy Đỗ Chu đang viết lên tay với tập
Phù sa và đang chuẩn bị viết Ráng đỏ, Nguyễn Khải thường bảo: “Lúc ngòi bút đang đà thế
này, có việc gì không quan trọng hãy gạt sang một bên mà lo viết cái đã” -
Đấy là lời khuyên không chút màu mè Nguyễn Khải thường dành cho những anh em trẻ
hơn mỗi khi cảm thấy giữa mình với người bạn trẻ ấy có một sự tin cậy.
Tập trung tất cả cho sáng tác như vậy,
nhưng một phía khác của tài năng Nguyễn Khải lại là rất tỉnh, không bao giờ chịu
là tù nhân của những ảo tưởng mê muội. Ngay từ khoảng 1963, anh đã nói rõ trong
một tham luận tại Hội nghị Ban chấp hành Hội Nhà Văn Việt-Nam: Tự lượng sức
mình là một điều hết sức quan trọng với mỗi người viết. Và Nguyễn Khải biết tự
lượng thật. Khi gọi là ký sự, khi mang danh tiểu thuyết, nhưng các tập văn xuôi của anh mỗi
tập thường chỉ 150-200 trang. Lúc đùa bỡn, anh bảo: “Viết thế để người ta có
thể đọc ù một cái, một hai buồi trưa là xong”.
Những lúc nghiêm chỉnh hơn, anh tâm sự:
- Sức
mình chỉ đến thế, không nên kéo ra dài hơn. Điều quan trọng là thức tỉnh người
đọc cùng nghĩ, chứ ai có sức mà nghĩ thay họ được.
- Từ quãng đời viết văn đã qua của mình,
anh có rút ra kinh nghiệm gì đặc biệt?
- Có lần đâu khoảng 1969-1970, tôi mạnh dạn “phỏng vấn” nhà văn như vậy.
Thứ nhất, lúc nào cũng phải cố lên một tí,
chứ viết là dễ ngại lắm. Như tôi vẫn nói, làm sao viết hết sức mình để giá kể có phải đi trở lại, mình
vẫn chỉ đi có con đường ấy.
Thứ hai, phải nên luôn tỉnh táo để chỉ làm đúng những điều
mình có thể làm. Xem người khác viết để
học, nghe người khác khen chê để
rút kinh nghiệm là cần. Nhưng hoang mang, hay thay đổi, rồi học đòi bắt chước,
ai bảo thế nào cũng làm theo, là mất hết cốt cách, và với nhà văn, thế là tự
sát!
Ban đầu cách viết của Nguyễn Khải bị kêu rất
nhiều: nào hay bình luận hay lý sự, nào lạnh, thiếu say mê, nhân vật không rõ
mày mặt, không nổi trên phương diện tạo hình; và bố cục thường lỏng lẻo, người
viết không phải là một thứ tạo hóa cao tay v.v... Nguyễn Khải chịu đựng những lời
chê đó với một sự bình thản. Lâu dần, một cách viết hình thành, người ta đâm
quen với ngòi bút anh. Một hai năm, Nguyễn Khải lại có một cuốn sách in ra, và
gần như cuốn nào cũng được dư luận chú ý.
*
Có một dạo, Nguyễn Khải nổi lên như một
người chuyên viết về nông nghiệp. Những mẫu cán bộ huyện, xã, bị thư, chủ tịch,
phó chủ nhiệm phụ trách ngành nghề, rồi một bà già tham lam, một thanh niên mới
lớn nhiều mơ mộng... tất cả rất quen với anh. Mùa màng, thời vụ, các loại giống
lúa, các loại cây đay, cách đạp chè của các bà, các chị ở Thái Ninh (Phú Thọ),
lối chuyên chở cá bột trên tàu hỏa ra sao... hình như việc gì ở nông thôn, anh
cũng thành thạo.
Nhưng khoảng 1957-1959, đọc Xung đột và về sau, đọc Cha và con và..., không ít người quả quyết
Nguyễn Khải sinh ra để
viết về công giáo. Cách nói, cách nghĩ của người theo đạo nhuyễn vào ngòi bút của
anh, và nếu trò chuyện với tác giả khi anh đang viết, thấy nó nhuyễn cả vào lời
nói hằng ngày của anh nữa.
Từ sinh hoạt của những chiến sĩ công binh
miền Tây, các du kích đội thuyền Vĩnh Linh tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ những năm chống Mỹ,
tới những phòng khách sang trọng của Thành phố Hồ Chí Minh, dù là đã sau giải
phóng, khoảng cách thật là xa xôi. Xa trong không gian, thời gian, những chi tiết
cụ thể và xa cả trong cách nghĩ của con người! Vậy mà viết về đâu, Nguyễn Khải
cũng rành rẽ như chuyện của chính mình. Đây trước tiên là thái độ tỉ mỉ, là tinh thần trách nhiệm trước
những gì mình miêu tả (tôi nhớ những lần Nguyễn Khải kiểm tra đi kiểm tra lại một
hai chi tiết thuộc về kỹ thuật có liên quan đến một hai nhân vật nào đó...)
Nhưng quan trọng hơn là sự thông cảm, là yêu cầu hóa thân vào cuộc sống đích thực
của nhân vật. Khả năng tự quên mình đi để
sống cho thoải mái đã biến thành khả năng chấp nhận cuộc sống của những người
khác, coi đó là điều hoàn toàn tự nhiên mà một nhà văn phải biết đón lấy và làm
nổi lên, như một sự thật sinh động.
Người ta hay nói: nhà văn giỏi là người biết
gọi cho ra các nhân vật. Ở những trang viết thành công của Nguyễn Khải, công thức
đó được triền khai thành hai vế:
a) Nhà văn phải diễn tả sao cho mỗi nhân vật của tác phẩm trở thành một con người
độc đáo, không lẫn với chung quanh - chỗ giống nhau chủ yếu của mỗi chúng ta là
không ai giống ai; b) Nhưng từ sự diễn tả đó, nhà văn phải vươn tới một cái gì
cao hơn, phải phát biểu được những
điều chính mình suy nghĩ và cảm thấy một cách sâu sắc, nó cũng là yếu tố chính
tạo nên nét mặt riêng, cốt cách riêng của một ngòi bút, như người ta vẫn nói, Nếu
ở phương diện thứ nhất, chúng ta thấy tài năng của Nguyễn Khải, thì ở phương diện
thứ hai này, anh hiện ra như một ngòi bút có tầm vóc. Nguyễn Khải thường biết
nâng những hiện tượng bình thường thành vấn đề khái quát, để rồi đề nghị chúng ta cùng
anh suy nghĩ về mọi chuyện. Theo cách trình bày của anh, đời sống hàm chứa bao
điều phức tạp, không dễ gì một lúc lần ra rường mối của nó (Xung đột); cuộc sống là nơi đào tạo
nhưng cũng là nơi thử thách mọi mặt nhân cách con người (Ra đảo); có trăm nghìn nẻo sống khác nhau, nhưng hiểu được đời sống, và sống
cho có ý nghĩa mới thật khó Cách mạng,
Gặp gỡ cuối năm); và, vượt lên trên từng
kiếp người riềng tư, có cuộc sống của xã hội, đất nước, cộng đồng, mà còn lâu,
chúng ta mới nhận thức được đầy đủ (Thời
gian của người) v.v... và v.v...
Nên cắt nghĩa như thế nào về những đoạn
bình luận, lý sự khá đậm đặc trong các trang văn xuôi của Nguyễn Khải? Theo
tôi, đây không phải hiện tượng đơn nhất, ngẫu nhiên, mà có nguồn gốc hợp lý của
nó. Trong đời sống tinh thần của xã hội ta từ 1945 tới nay, nếu có khía cạnh
nào nổi lên đặc biệt rõ rệt thì
đó là sự xâm nhập của chính trị vào đời sống bình thường mỗi người, khiến cách
suy nghĩ của bất cứ ai cũng trở nên sắc bén hơn hẳn. Các vấn đề xã hội chính trị
là đầu đề để
chúng ta bàn
bạc, sự lợi hại về chính trị là tiêu chuẩn chính để xem xét mối quan hệ giữa
người với người. Gần như ai cũng hoạt động chính trị và có từng trải về chính
trị. Mặt khác, trải qua mấy chục năm cách mạng, cuộc sống trên đất nước ta dù
là một làng xóm heo hút giữa đồng bằng sông Hồng, hay một đồn điền cao su cũ,
Biên Hòa, Lộc Ninh...
đều có bao nhiêu thay đổi,
bao nhiêu điều đáng bàn và cần bàn cho thấu đáo. Nói phong cách Nguyễn Khải chẳng
qua là sản phẩm của đời sống hôm nay là vì lẽ đó, nếu không có Nguyễn Khải chắc
cũng phải có những ngòi bút khác, viết theo cách Nguyễn Khải đang viết. Có thể
so sánh một chút, để
thấy cách bàn luận lý lẽ của Nguyễn Khải và nhân vật Nguyễn Khải mang đậm dấu ấn
thời đại, chẳng hạn so với Nam Cao. Trước đây mấy chục năm, trong sự tẻ nhạt đều
đều của một xã hội thuộc địa, một ngòi bút như Nam Cao có triết lý, thì cũng là
nhân những chuyện cụ thể trong mối quan hệ giữa người với người mà khái quát
lên. Nam Cao hay nói sự no đói ảnh hưởng đến tâm lý con người ra sao, cái nghèo
có thể làm nhân cách con người thay đổi đến đâu. Mỗi mệnh đề triết lý của Nam
Cao thường ngắn gọn, đôi khi như là những điều nghiền ngẫm quá lâu, im đi không
đành nên phải buột ra, sự suy nghĩ mang dáng dấp một lời tự nhủ hoặc một lời
chì chiết, đay nghiến. Nay ở Nguyễn Khải, không riêng tác giả mà các nhân vật
cũng hay nói, thích nói, người nọ đối diện người kia đồng tình, phản bác nhau,
xét nét, “dí
điện” nhau. Lý sự trở thành
câu chuyện hàng ngày, nhất là lý sự về những khía cạnh xã hội chính trị của đời
sống: mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung;
khả năng dễ sai lầm của con người và vai trò của lý trí; xu hướng đơn giản chủ
quan trong tư duy của mỗi người và những biến hóa vô tận của đời sống v. v..,
và v. v... Nhiều vấn đề tương tự được đề cập tới trong tác phẩm của Nguyễn Khải
một cách khá hào hứng. Như tất cả chúng ta, có lúc nhân vật của Nguyễn Khải và
bản thân Nguyễn Khải nữa nhận xét đánh giá mọi việc còn hàm hồ, tùy tiện. Nhưng
sự chân thành suy nghĩ ở họ là điều đáng ghi nhận. Nhiều lần Nguyễn Khải nói với
tôi, đại ý: kết luận rút ra
đâu phải đã là chân lý cuối cùng nhưng cứ nói được những điều mình nghĩ và xới
lên để người khác cùng nghĩ với
mình, đã thấy rất sung sướng.
Đã rõ triết luận là một đặc điểm nhất quán
trong tư duy văn học của Nguyễn Khải nó làm cho ngòi bút anh khi bốc lên sôi nổi, lúc đằm xuống, trầm tư
suy ngẫm và không thiếu vẻ tinh tế. Tuy nhiên, lại cũng phải thấy nhất quán như
vậy nhưng cùng với thời gian, màu sắc triết luận ở Nguyễn Khải mỗi năm mỗi
khác. Từ chỗ cuồng nhiệt (đôi khi là lối áp đặt một chiều) nay cách nghĩ đó đã
phần nào có được cái lui tới, cái chừng mực cần thiết. Nếu hôm qua, Nguyễn Khải
đã rất thành công trong việc diễn tả những gay gắt quyết liệt của đời sống thì
hôm nay nhà văn có phần thấm thía sự đời hơn, cái nhìn ra chiều độ lượng và
thông cảm hơn. Từ Xung đột qua Cha và con và..., từ Họ sống và chiến đấu, Hòa Vang qua Thời gian của người, cách đặt vấn đề giọng điệu tác giả đều có đổi khác. Như tất cả chúng
ta, Nguyễn Khải cũng ở trong một quá trình vận động liên tục.
*
Nhưng dù vận động ra sao, thì trước sau
Nguyễn Khải vẫn là một người làm nghề cần mẫn. Người ta chỉ hay nói tới tác giả
Xung đột, Gặp gỡ cuối năm... như một người thích cao đàm khoát luận, nhưng mấy
ai biết, con người này đã có những lúc ngồi như cắm mặt xuống bàn, chữa đi chữa
lại từng trang sách, những khi vắt vẻo trên chiếc xe đạp, đạp từ đầu thành phố
tới cuối thành phố, xem lại morat một bài báo sắp in, hoặc những khi mê mải trước
những cuốn sách tiếng Pháp mong tìm thấy ở đấy một ít điều gợi ý cho những
trang viết sắp tới của mình.
Văn xuôi Nguyễn Khải hôm nay, bề ngoài có cái dễ dàng tự nhiên như lời nói hằng
ngày, song nhìn cho kỹ, thấy chữ nghĩa rất chỉnh, câu cú tính toán kỹ càng, tiếng
nói nhân vật và tiếng nói tác giả cài chen lẫn nhau tạo nên một thế giới đa
thanh mà chỉ văn xuôi hiện đại mới có.
Sinh năm 1930, năm nay (1985) Nguyễn Khải
vừa 55 tuổi. Sẽ là bốc đồng, nếu bảo một ngòi bút tuồi ấy đang sung sức, nhưng
quả là Nguyễn Khải đang viết, kiên trì, bền bỉ, như ngày nào mới 25-30. Đối với một số đồng
nghiệp, cuộc đời Nguyễn Khải không chỉ là tổng
số những gì anh đã viết ra, mà còn là một bằng chứng về sự tồn tại của những
người làm công tác văn học trong những năm tháng này. Trong cuộc đời đó, có đủ
niềm vui và nỗi buồn, những phút vinh quang được không biết bao nhiêu bạn đọc
khác nhau tìm đọc, tranh cãi, và những phút đơn độc, một mình một bóng trước
đèn, trước trang giấy trắng; trong cuộc đời đó rất nhiều khoảng sáng chói lên rực
rỡ nhưng cũng không thiếu những khi trống rỗng tẻ nhạt, kể cả những thoáng xót xa
vô lý. Nhưng biết làm thế nào, nghề gì chẳng vậy nữa là nghề văn; còn sống, còn
viết là còn vất vả. Dẫu sao, so với nhiều đồng nghiệp, cuộc đời viết văn của
Nguyễn Khải đến hôm nay, vẫn là nhiều thành đạt. Những người trẻ hơn có thể
nhìn vào đấy để
thấy nghề văn vẫn là một nghề tốt đẹp, nếu có năng khiếu, người ta thật đáng bỏ
cả cuộc đời vì nó.
1985
NHÀ
VĂN NGUYỄN TUÂN
Trong
cái thế giới hỗn độn là đời sống văn học trước năm 1945, chung quanh tên tuổi
Nguyễn Tuân, người ta thường thấy chất lên đủ thứ giai thoại kỳ cục. Rằng ông
chơi ngông không kém gì Tản Đà hồi nào; rằng ông cầu kỳ, lẩn mẩn, thích làm dáng, thích
khác đời v.v. và v.v. Những
điều đó ít nhiều không phải không có chỗ đúng.
Có
nhiều lý do xui khiến Nguyễn Tuân làm thế, trong đó có lý do quan trọng này: ông muốn phủ nhận xã hội
đương thời. Không được biểu
hiện qua những hành động tranh đấu nồng nhiệt, lòng yêu nước trong ông chỉ còn
cách thoát ra ở dạng chán chường tất cả và đi vào phụng thờ những gì đã thuộc về
quá khứ. Có tư cách nghĩa là không thuận theo đời thường - ông sống vậy và viết
vậy.
Trong
lúc một số người chạy theo “Âu
hóa” thì ông quay về với những
vẻ đẹp “vang bóng một thời”. Trong lúc một số người
viết văn lai căng, thì ông không quản nghiền ngẫm, tu luyện công phu để tạo cho
văn mình những đường nét cổ kính mặc dù đó là vẻ cò kính rất hiện đại. Luôn luôn, trong từng bài
viết, thậm chí, trong từng câu văn, ông muốn tạo những hiệu quả bất ngờ và ít
nhiều, đã thực sự làm được điều đó. Bởi con người có thiên lương và rất phóng
túng nơi ông lại là con người giữ được
cái cảm giác thiêng liêng trong hành nghề và hiệu chỉ với trình độ nghề nghiệp
cao, thì sự độc đáo của mình mới có ý nghĩa. Người nghệ sĩ như kẻ đóng một cái
khung - ông bảo vậy -
phải tháo ra đóng lại, đến lúc cảm thấy không ai đóng hơn được mình mới thôi. Một
nhà văn bạn ông nhận xét: mỗi khi viết, ông thường có cái dáng cặm cụi rất đáng
trọng.
Từ
sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay, cuộc đời Nguyễn Tuân cùng thay đổi trong cái thay đổi chung của cả đất nước,
dân tộc. Cộng với những sự thúc đẩy
sâu xa như lòng yêu nước, thiện chí muốn làm những việc có ích, hình như ở ông
còn thấp thoáng cái ý tưởng sau đây, nó là một sự thách thức thú vị: Nhiều người
dự đoán một nghệ sĩ phóng túng như chàng Nguyễn ngày trước sẽ không thể chịu được
những yêu cầu chặt chẽ của đời sống cách mạng? Thì ông sẽ sống được và sống thoải
mái cho họ biết! Và thế là ông sẵn sàng «tự cải tạo». Nhiều nét cá tính của
ông, trong điều kiện xã hội mới, có một bộ mặt khác hẳn. Ông sống bám sát các sự
kiện xảy ra trong xã hội và luôn tìm cách đóng góp phần mình để thúc đầy đời sống vận động
đi tới. Ông đi với bộ đội trong nhiều chiến dịch gian khổ hồi chống Pháp. Ông trở
lại với Tây Bắc, Điện Biên những năm 1958, 1959. Chuyện đồng bào và bộ đội ở đó
làm đường, dựng nhà, vừa lo sản xuất, vừa lo bảo vệ Tổ quốc được ông kể lại trong tập Sông Đà nổi tiếng. Rồi ông đi lại nhiều
lần ở bờ bắc Bến Hải, chuẩn bị cho tập Sông
tuyến... Đi đến đâu, ông cũng tìm thấy những nét đẹp, đẹp trong cảnh sắc
thiên nhiên, và nhất là đẹp trong hình ảnh con người vượt qua gian khổ khẳng định, ý chí của
mình. Viết văn, với ông hôm nay giống như những dịp trò chuyện với người tri
âm, tri kỷ, vẫn đậm đà, duyên dáng như xưa, song câu chuyện giờ đây lại thường
có được cái ý nghĩa thiết thực, lành mạnh mà người cán bộ Nguyễn Tuân cảm thấy cần
phải có mỗi khi nói điều gì đó, với đông đảo bạn đọc. Trong lúc ngòi bút ông trở
nên thân tình với đại chúng hơn, thì qua sự tiếp xúc, ngày càng nhiều người cảm
thấy cần nâng mình lên, để gần
gũi hơn với ông. So với trước 1945, độc giả của ông hôm nay đông đảo hơn hẳn.
Trong
lao động nghệ thuật, ngòi bút Nguyễn Tuân vẫn giữ được vẻ nghiêm túc vốn có.
Nguyễn Tuân thường bảo viết văn là một sự khổ
hạnh.
Khổ hạnh chuẩn bị, để có một tầm hiểu biết rộng rãi, một vốn
liếng văn hóa cơ bản. Lại khổ hạnh, kỹ lưỡng trong từng công việc cụ thể. Nghĩ
rằng lúc nào đó mình sẽ phải viết về những nhịp cầu trên đất nước, ông thu thập
cả một tập hồ sơ, về các loại cầu, các kiểu
cầu, trong đó có cả những tấm ảnh để
khi viết nhìn vào đó cho được cụ thể.
Vậy mà chưa đủ. Khi đến với cái cầu ông định tả, ông đếm kỹ xem ở đó có bao
nhiêu nhịp, tổng cộng bao nhiêu miếng ván, bao nhiêu ván ở bờ bắc, bao nhiêu
ván ở bờ nam, v.v.. Bao giờ Nguyễn Tuân cũng hết mình trong công việc như vậy.
Con mắt nghệ thuật ở ông quy tụ được những phẩm chất khác nhau: rất cụ thể mà
cũng rất thơ mộng; vừa nhạy cảm vừa uyên bác.
Tên
tuổi Nguyễn Tuân vốn gắn với thể tùy bút. Đó là một thể văn xuôi rất mềm mại, ở
đó nhà văn không cần nhân vật, không cần cốt truyện, chỉ đứng ra mà kể, mà tả trước bạn đọc. Bởi
vậy, tùy bút cũng là một thể
rất khó, nếu người viết không đủ bản lĩnh, tác phẩm rất dễ rơi vào nhàm chán. Về phần mình,
Nguyễn Tuân đã lui tới trong tùy bút khá thoải mái. Qua các thiên tùy bút, con
người Nguyễn Tuân có dịp hiện ra rõ rệt và quả thật, đã từng để lại ấn tượng đậm đà
trong tâm trí nhiều người chúng ta cũng như cả một số bạn bè nước ngoài. Đọc
Nguyễn Tuân, thấy người Việt Nam hôm nay
đã làm nên những sự nghiệp lớn lao đánh Pháp, đuổi Mỹ và giờ đây đang hàn gắn vết
thương chiến tranh, xây dựng đất nước. Nhưng đọc Nguyễn Tuân còn thấy con người
Việt Nam - trong đó có mỗi chúng ta thường vẫn thấy xao xuyến trước vẻ đẹp của
một nhành hoa, vẫn bồi hồi lắng nghe một điệu quan họ hoặc nhìn mãi không chán
một bức tranh làng Hồ, lại biết hết sức trân trọng tiếng nói thiêng liêng của
cha ông và muốn góp sức đề tiếng nói đó ngày mỗi thêm trong sáng, thêm giàu có.
Nhưng không phải chỉ có thế. Cùng với Nguyễn Tuân, chúng ta thấy yêu những bông
tuyết đầu mùa Leningrad, nụ hồng kỳ diệu Sophia, yêu Lỗ Tấn và B. Brecht, mê Dostoevskyv
à Picasso. Không gì tốt đẹp của nhân loại mà lại xa lạ với chúng ta cả!
Theo
các tài liệu chính thức, Nguyễn Tuân sinh năm 1910 và đến 10-7-1985, ông vừa trọn
ba phần tư thế kỷ làm người, trong đó có gần nửa thế kỷ cầm bút. Đúng là ông đã
khởi nghiệp trong sự gắn bó chặt chẽ với quá khứ (từ những Nguyễn Du, Tú Xương
mà ông sẵn sàng đọc đi đọc lại, đến Tản Đà, Thạch Lam mà ông có quen biết
riêng). Song phần chủ yếu ở ông là thuộc về nền văn học sau 1945. Trong đội ngũ
các nhà văn Việt Nam hôm nay những người đã làm tất cả để có thể có ích ngay cho sự nghiệp
cách mạng - Nguyễn Tuân là một trong những người đứng ở hàng đầu.
1985
XUÂN
DIỆU VÀ VIỆC TÌM HIỀU
GIA TÀI VĂN HỌC CỦA ÔNG CHA
Trong kho tàng văn học nước nào cũng vậy,
có một bộ phận được gọi là cổ
điền. Đó là những tác phẩm tác giả chịu được mọi thử thách của thời gian. Mãi
mãi, đó là những giá trị được bạn đọc yêu thích; dù đã đọc đi đọc lại hàng trăm
lần rồi, người ta vẫn cứ muốn có một bản trong nhà, thỉnh thoảng giở ra xem lại.
Tác phẩm như có mặt bên chúng ta, cùng chúng ta sống qua mọi vui buồn của cuộc
đời. Càng từng trải, càng có kinh nghiệm đời hơn, chúng ta càng thấu hiều và
tâm đắc với những điều từng được viết ra hết sức sâu sắc đó.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÔNG PHU
Khi nhận lấy việc bình giải, cắt nghĩa,
suy nghĩ thêm về thơ Nguyễn Trãi, Kiều,
thơ Hồ Xuân Hương, thơ Cao Bá Quát, thơ Nguyễn Khuyến, thơ Tú Xương, thơ Nguyễn
Đình Chiểu, Xuân Diệu đã nhận lấy
một công việc dũng
cảm: Nói về những cái tưởng như ai cũng biết rồi, ai cũng đã nhiều lần nghe tới.
Nói sao để
có những phát hiện mới, cái đó thật khó.
Có điều, đó cũng lại là một công việc chạm
đến tình yêu văn học của mọi người, nếu làm tốt, ắt những trang nghiên cứu sẽ
lan truyền rộng, xa. Phê bình nghiên cứu mà cũng có sức mạnh phổ biến, như
chính sáng tác vậy.
Và đó chính là ưu điểm nổi bật của bộ sách
chúng ta đang nói, hai tập Các nhà thơ cổ
điền Việt Nam (H. 1981-1982).
Những bài viết tập hợp ở đây thu góp công
trình tác giả theo đuổi đã mấy chục năm trời. “Công trình kề biết mấy mươi” -
đó
là những công trình nghiên cứu chững chạc, kỹ lưỡng. Viết về bất cứ tác phầm
nào, nhà nghiên cứu Xuân Diệu cũng đối mặt với từng dòng từng chữ, đọc đi đọc lại
nhiều lần; sau khi tìm kiếm khá đầy đủ những tư liệu liên quan trực tiếp đến
«đương sự», lại đọc rất kỹ những ý kiến trước mình đã viết về tác phẩm tác giả
đó, để thẩm định, kê cứu. Đọc sử.
Đọc các hợp tuyển
văn học. Khi cần, nghe thêm các chuyện “ngoài
rìa”. Viết về Tú Xương, không
quên viết về Nam Định hồi đầu thế kỷ. Viết về Nguyễn Khuyến, dừng lại ở từng điển cố đứng đằng sau hai
câu thơ chữ Hán, để
bàn về sự sâu sắc của cụ Tam Nguyên khi sử dụng những điển cố này v.v.. Tác phẩm
càng lớn - như trường hợp Kiều, thơ Hồ
Xuân Hương -
sự tìm kiếm tài liệu kê cứu càng nhiều. Nhờ thế cuối cùng, bao giờ Xuân Diệu
cũng có được cái tự tin ung dung “Vâng,
các vị bàn thế nào, tôi đã đọc cả; giờ tôi xin bàn thêm”.
Sự tin cậy của công chúng cũng như của anh
em trong giới đối với các bài viết Xuân Diệu từng cho đăng rải rác mấy chục năm
nay là bằng chứng chứng tỏ lao động nghiên cứu văn học của anh có chất lượng và
đạt năng suất
cao. Các bài viết vừa chắc chắn trên phương diện văn học sử, vừa vững vàng
trong thẩm định.
PHẦM CHẤT NGHỆ SĨ
Nhưng sở dĩ người ta nhớ và thích văn
nghiên cứu của Xuân Diệu, cái chính là do tác giả đã mang vào đây tất cả tâm
huyết của một người sống chết với văn học, yêu vô cùng tiếng mẹ đẻ, yêu sự nghiệp
của cha ông. Nói theo chữ Xuân Diệu thường dùng, cái “tình yêu đầy rẫy” đó đã thấm vào văn anh,
làm nên mạch đập run rẩy
trong mỗi dòng chữ, làm nên sức cuốn hút của từng trang viết.
... “Lòng
Xuân Hương là lửa, tay Xuân Hương có điện, nên các chữ đều sống cả lên”. Không cứ nói về Xuân
Hương, mà về bất cứ ai, Xuân Diệu cũng tìm bằng được cái lửa, cái điện của
riêng người đó. Mà tìm ở đâu? Tìm ngay ở những vang hưởng tác phầm gợi lên
trong lòng mình. Luôn luôn anh đặt mình ở cái thế còn phải vươn lên nữa, hoàn
thiện nữa, mới hiều hết cái đẹp cái hay của tác phẩm. Khi phân tích tác phẩm, anh
lại luôn luôn đặt mình vào địa vị người sáng tác, để nói cho thấu đáo từ việc
dùng một chữ, đặt một câu đến cấu tứ chung của cả bài.
Trên mọi trang sách, đối tượng được bàn cụ
thể là những nhà thơ cổ điền Việt Nam. Nhưng đằng sau đó, Xuân Diệu còn chạm đến
những vấn đề lớn hơn: thế nào là sáng tạo? Có phải sự sáng tạo thường công phu
và kỳ lạ biết bao, bởi vì, độc đáo thay, nó còn đây với thời gian, và người ta
có thể bàn mãi không hết?
Về phương diện này, Các nhà thơ cổ điển Việt
Nam của Xuân Diệu có thể rất có ích với những ai muốn hiểu và cảm thấy còn phải đọc
nhiều mới hiểu được thế nào là thơ, thế nào là văn học.
CUỐN SÁCH PHỔ CẬP
Trước khi trực tiếp viết về các giá trị
văn học cổ
điền, Xuân Diệu từng là tác giả của nhiều tùy bút, tiểu luận bộc bạch những cảm
nghĩ của một người làm thơ trong chế độ mới: Những bước đường tư tưởng của tôi, Phê bình giới thiệu thơ, Dao
có mài mới sắc v.v... Trong những áng văn xuôi đó, nhiều lần nhà thơ như muốn
kêu lên nỗi sung sướng là được sống trong thời đại này, có một công chúng rất
tri âm tri kỷ là đại chúng nhân dân, khiến mình phải cố gắng rất nhiều mới khỏi
phụ lòng những bạn đọc thân quý đó.
Với Các
nhà thơ cổ điển Việt Nam, lại một lần nữa ý hướng phục vụ đại chúng của
Xuân Diệu được bộc lộ rõ. Trong văn phê bình nghiên cứu, luôn luôn anh hiện ra
như một diễn giả kỹ lưỡng, tỉ mỉ. Anh không yêu cầu gì ở người nghe, ngoài một
điều tối thiểu
là lắng nghe anh. Về phần mình, anh đã chuẩn bị tất cả cho ta, và đã cho hết
lòng. Đối diện với mỗi tác giả tác phẩm
cổ điển, anh chia sẻ với ta từng biến thái
bé nhỏ xảy đến trong tâm trí. Đó là một lối viết muốn đào cùng tát cạn mọi hiện
tượng, phanh phui bằng hết mọi bí mật trong sáng tác văn học. Trong không ít
trường hợp, người đọc cảm thấy người nghiên cứu ở đây là một người lắm lời, và
có phần tán ra quá rộng, không tuân thủ một quy luật trong giao tiếp, một quy
luật mà chắc tác giả biết rất rõ cần gợi nhiều hơn nói; cần ngăn gọn, hàm xúc. Tuy
nhiên, đấy đã là cố tật của anh. Mượn một cách nói mà người ta vẫn nói về những
người có cá tính mạnh mẽ:
- Không
thế thì đã không phải là Xuân Diệu!
ĐI ĐẦU TRONG VIỆC TÌM KIẾM
GIA
TÀI VĂN HỌC CÓ ĐIỀN
Bên cạnh sáng tác thơ, sự nghiệp nghiên cứu
dịch thơ nước ngoài Xuân Diệu khá đồ sộ. Anh từng là tác giả của gần chục công
trình giới thiệu thơ thế kỷ XX. Đối với thế hệ nhà văn mới viết từ sau cách mạng
- phần lớn không có khả năng tự mình giao tiếp đón nhận sáng tác hôm nay của thế
giới - công việc môi giới của
Xuân Diệu quả rất có ích.
Nhưng tôi cho rằng cái công của Xuân Diệu
trong việc trở về với nguồn thơ dân tộc lại còn đáng quý hơn một bậc nữa.
Đọc văn thơ nước ngoài, hiểu được cái hay của nó, học
được nó, không phải là dễ. Nhưng sự lôi cuốn ở đây rất lớn, lúc nào ta cũng có
nguyện vọng muốn đọc thêm hiều thêm.
Trong khi đó, do điều kiện đặc biệt của
sáng tác văn học cổ
điền trong các thế kỷ trước, đối với những người cầm bút hôm nay, việc tiếp xúc
đôi khi là cả một trở ngại, cả về văn tự, lẫn thói quen cảm xúc, viết lách. Ta
có thể nói như vẹt rằng phải phát huy truyền thống dân tộc, nhưng lúc cầm trên
tay những trang văn xuôi Phạm
Đình Hồ, Thiên Nam ngữ lục hay Lục Vân Tiên... vẫn thấy ngần ngại. Thà để thì giờ hướng ra nước
ngoài hơn là đánh vật với những sáng tác lũng củng điển cố và vần vèo theo kiểu cách rất cũ đó! Nếu
không phải là thường xuyên thì đây đó, tôi, anh, nhiều người chúng ta đã nghĩ
như thế. Bởi vậy, chúng tôi càng thấy có thêm lý do đề ghi công Xuân Diệu. Với
những trang viết của anh và quan trọng hơn, với thái độ chân thành và hết mình đi
vào văn học cổ
điển của anh, lớp người viết
đi sau chúng tôi cảm thấy càng phải quyết tâm hơn trong việc trở lại với truyền
thống văn học dân tộc. Kết quả chúng tôi tìm, cách chúng tôi làm trong việc
phân tích đánh giá văn học cổ
điển nhất định là sẽ khác
anh. Nhưng một tình yêu lớn vẫn thống nhất chúng ta lại: tình yêu với những
sáng tác làm nên lịch sử văn học nước nhà. Mỗi thế hệ phải có phần đóng góp của
mình vào việc làm mới gia tài do ông cha để
lại.
1982
Ý THỨC VỀ THỜI GIAN.
CẢM GIÁC VỀ HẠNH PHÚC
Mượn
hình thức đối thoại với một người bạn -
nhà thơ Phạm Tiến Duật - bài
viết sau đây là những suy nghĩ của chúng tôi về thơ Xuân Quỳnh nhân tập thơ tuyển hơn hai chục năm của
tác giả: Sân ga chiều em đi.
V.T.N:
Trước Tự hát, Xuân Quỳnh đã là tác giả
bốn tập thơ khác (Chồi biếc, Hoa dọc chiến
hào, Gió lào cát trắng, Lời ru trên mặt đất). Khi chọn vào Sân ga chiều em đi, tác giả và nhà xuất
bản chỉ chọn lấy một ít bài đã có từ các tập đầu. Tôi cho rằng sự lựa chọn ấy
là đích đáng, nó gạt bớt những phần yếu khác lại, làm tôn cái phần mạnh của
Xuân Quỳnh từ trước. Nó cũng cho ta thấy sự
liên tục của tác giả.
P.T.D:
Từ những bài thơ đầu tay, người ta đã thấy rõ chất Xuân Quỳnh lắm. Cảm giác về
hạnh phúc, điều mà một vài anh em tìm thấy ở Tự hát gần đây, đã có từ ngày ấy. Một sự chủ động mà chỉ phụ nữ
ngày nay mới có; những ao ước nhức nhối về hạnh phúc lứa đôi và sẵn sàng
«giương vây» gìn giữ bằng được, đấy là Thuyền
và biển. Mặc dù còn trẻ,
khi viết Chồi biếc, Xuân Quỳnh đã có
ý thức về thời gian; đang Cùng anh sóng
bước, Tay ấm trong tay,
song đã cảm thấy có lúc Hết phiên, và
Sẽ bước qua đây là những cặp tình
nhân khác.
V.T.N:
Đấy là khía cạnh tình cảm quán xuyến trong thơ Xuân Quỳnh, và càng gần đây càng
rõ nét. Bài Hoa cúc viết năm 1980 (in
trong Tự hát) láy đi láy lại sự thay đổi đã đến với bản thân: Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế - chỉ em là đã khác với em
xưa.
Bao ngày tháng đi về trên mái tóc -
chỉ em là đã khác với em thôi. Đứng trước thời gian, mọi
người - không ai thoát -
già đi, cũ đi... Nhưng chính vì thế, hãy biết trân trọng tất cả những gì đang sống
hôm nay, vui với hôm nay. Đi theo cái mạch cảm xúc ấy, thơ Xuân Quỳnh có lúc tự
nhiên như vừa buột miệng nói ra:
Thôi
đừng nhắc chuyện xưa sau
Hãy
vui với sóng với tàu với em
(Tình
ca trong lòng vịnh)
Có điều đáng nói là chính cảm giác về hạnh
phúc và ý thức về thời gian lại làm nên động cơ thúc đầy con người này sống,
hành động, dù là trong những năm tháng rất gian lao:
P.T.D:
Anh muốn nói đóng góp của Xuân Quỳnh trong những năm chống Mỹ?.
V.T.N:
Điều ấy đáng ghi nhận lắm. Với nhà thơ, ít nhiều người ta có bắt gặp tâm tình của
lớp thanh niên trạc tuổi tác giả và cả những khía cạnh trong đời sống xã hội
hai chục năm nay. Thơ vốn có cách dung nạp chi tiết riêng của nó. Nhân đọc câu Yêu cả cái bực mình khi xe vướng phải nhau
trong bài Lòng yêu Hà Nội (tập Hoa dọc chiến hào), nhà văn Nguyễn Minh Châu
có lần nói với tôi, tỏ ý rất thích, cho là thơ còn nói được nhiều điều văn xuôi
chưa nói. Với con mắt văn xuôi ấy, Xuân Quỳnh đã khắc họa rất giỏi cảnh sơ tán,
cảnh chiến trường, vùng đất Quảng Bình - Vĩnh Linh gian lao, khắc khổ.
Củ
khoai ở đây nhỏ hơn củ khoai cánh đồng màu mỡ
Trái
mãng cầu rám vỏ gió đi qua
Đọng
nắng thôi cát chẳng đọng mưa
Bàn chân lún bàn
chân thêm bỏng rát.
P.T.D:
Tôi muốn gọi đấy là vùng cát. Dải đất hẹp miền Trung, rất nhiều người từng tới
và từng miêu tả trong văn học. Riêng Xuân Quỳnh không hiểu sao như bị ám ảnh vì
cát, khá nhiều bài viết về cát thành công.
V.T.N:
Như các cụ ta thường nói, tác giả nhìn cát thấy nó vận vào mình, nên mới hay nhắc đến nó như vậy. Có một lần tôi đã
hỏi đùa: “Có
phải người làm thơ nghĩa là người nhìn đâu cũng thấy mình?”. Và Xuân Quỳnh đã đáp lại
một cách nghiêm chỉnh: “Thế
càng khồ chứ hay ho gì!”.
P.T.D:
Nhưng cách vận vào mình đó lại làm cho nhà thơ có được một ít phát hiện. Chẳng
hạn, ở một đề tài mà tôi quen như các binh trạm, các cung đường, nói chung là
chuyện giao thông vận tải. Trong bài Viết trên đường 20, tôi nhớ có mấy câu Ánh đèn gầm mờ đục dẫn em đi - Ánh đèn này riêng cho
người cầm lái -
Như tình yêu anh chỉ mình em thấy. Là người đã viết
nhiều về lái xe, tôi vẫn rất thú với cái phát hiện nho nhỏ ấy. Mà những câu thơ
kiều đó trong thơ Xuân Quỳnh, không phải
là ít, dù là khi viết về những khu vực tác giả ít biết. Đây là những câu viết về
đê:
Sông
phóng túng, đê là mức độ
Sông
ồn ào, đê là sự bình yên
Chắn
nước lên là công của con đê
Đê
đứng đó nhưng chưa bao giờ nghỉ
Rồi viết về rau. Và rất nhiều là những câu
thơ viết về cỏ. Cỏ trở thành hình ảnh tiêu biểu của sự sống Cỏ dại quen nắng mưa - Làm sao mà giết được - Tới mùa nước dâng - Cỏ thường ngập trước -
Sau ngày nước rút -
Cỏ mọc đầu tiên.
V.T.N:
Muốn hiểu cho hết ý nghĩa của những biểu
tượng về cát, về rau, về cỏ dại trong thơ Xuân Quỳnh, ta nên trở lại với cả nền
thơ chống Mỹ. Còn nhớ, trong số những cảm giác mạnh mẽ nhất mà nhiều người
thanh niên cùng thể
nghiệm trong những năm tháng gian lao ấy,
có điều thú vị này: được đến với những miền rất xa trên đất nước, được chia sẻ cuộc sống gian lao với mọi
người bình thường khác. Đấy là tiếng reo của không biết bao nhiêu giọng thơ năm
nay trên dưới 40, nghĩa là trên dưới 20 khi bắt đầu chống Mỹ, tiếng reo khi ồn
ào, khi lặng lẽ trong thơ Bằng Việt và Lưu Quang Vũ, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh
Thảo, Nguyễn Duy và Nguyễn Đức Mậu v.v.. Đấy cũng là tiếng reo hồn nhiên trong
thơ Xuân Quỳnh. Và cũng như ở nhiều người cùng tuổi khác - rất nhiều nếu không
phải là tất cả - bài
học chính mà tác giả rút ra cho mình là thấy lại giá trị của những gì bình thường
trong cuộc sống. Tôi cho rằng chính anh, khi viết Tiểu
đội xe không kính, hoặc Thanh Thảo khi viết Bài ca ông cóng, đều chung mạch cảm xúc
đó, mạch
cảm xúc đã đến với Xuân Quỳnh khi viết về cát về rau, về cỏ dại... Nếu không sợ
quá, chúng ta có thể bảo ấy là “nét
tâm tình chung của cả một thế hệ”.
P.T.D:
Nhưng Xuân Quỳnh không lẫn với ai khác. Ngay cả những bài gọi là trung bình ở
đây vốn có duyên đọc được.
V.T.N:
Tôi không muốn nói sự lẫn hay không lẫn. Tôi muốn lần theo cái mạch chung của
tư tưởng và qua đó cắt nghĩa tại sao nói đọc thơ Xuân Quỳnh, bè bạn và những
người cùng lứa có thể tìm thấy những bước đi, những tình cảm của chính mình. Lấy
một ví dụ nữa, một ý tưởng cũng hay được lặp đi lặp lại trong Sân ga chiều em đi. Sau những gian lao
cái còn lại trong chúng ta là một tấm lòng nguyên vẹn:
- Một
tình yêu như thế vẫn y nguyên
Chỉ còn lại một
màu hoa rất trắng
- Đất
qua rồi những đau thương
Có
chăng lời hát vẫn còn mà thôi
- Thời
gian của ta không bao giờ mất
- Và
cát bây giờ vẫn trắng
-
…
Nghĩ cho kỹ thì thấy ở đây không khỏi có một
chút như là ảo tưởng: cái gì đã mất thì thôi, làm sao còn mãi được. Ít nhất nó
cũng mâu thuẫn với cái ý thức về thời gian mà trên kia chúng ta đã xác nhận và
cho là một chỗ mạnh trong thơ Xuân Quỳnh. Có điều, ý tưởng về một tấm lòng
nguyên vẹn đó cũng là tâm niệm ở nhiều người khác thuộc lứa tuổi chúng ta, và
tác giả Sân ga chiều em đi đã bắt lấy
nó, diễn tả về nó một cách thật tha thiết và cũng thật... ngây thơ. Nhưng thôi,
tôi muốn chúng ta nói sang một vấn đề khác. Một trong những dấu hiệu của một nền thơ thịnh
trị, hoặc nói hẹp hơn, bằng chứng của một giọng thơ có sức sống là thanh niên
đương thời tìm đọc nó. Nếu tôi không nhầm thì thơ Xuân Quỳnh cũng có cái may mắn
đó. Anh giải thích ra sao?
P.T.D:
Trong những lần gặp gỡ các nhà văn, nhà thơ nước ngoài, tôi đã nghe nhiều người
nói cái ý là thơ trên thế giới ngày nay đang khủng hoảng, đang báo động. Một học
giả lão thành ở nước ta, nhà văn Đặng Thai Mai đã quá cố, nói chuyện với tôi hồi
trước, cũng nói trong thời đại ngày nay, thơ phải định nghĩa lại. Nhưng định
nghĩa thế nào thì định nghĩa, thơ hay chắc cũng dễ có người tìm đọc. Như ở Sân ga chiều em đi và Tự hát hiện nay, tôi tin người ta đọc.
Vì Xuân Quỳnh luôn luôn từ mình mà nói với mọi người. Và lúc viết bao giờ cũng
hết mình.
V.T.N:
Mỗi bài thơ được viết như là bài thơ cuối cùng của đời mình, bao nhiêu vốn liếng
sẵn có, cho vào được cái gì, cho bằng hết, bài thơ bao giờ cũng ở vào điểm căng
nhất của sự sáng tạo.
P.T.D:
Đúng, không nửa vời, không vừa viết vừa tính, đôi khi là tính dành bớt câu này
ý kia cho bài thơ sau... bấy nhiêu sự lửng lơ, nó là chỗ chết của một vài nhà
thơ rất thông minh khác. Ở Xuân Quỳnh cả những suy nghĩ cũng là tự nhiên, xuất
thần, do nhạy cảm mà có, chứ không phải ngồi mà nặn ra. Có thể mạnh dạn nói đấy
là phong cách thời đại.
V.T.N:
Anh đã chạm tới cái chữ mà tôi muốn tìm. Nhưng theo tôi, nội dung nó còn rộng
hơn nữa...
P.T.D:
Hay cái cảm giác công nghiệp trong thơ? Một sự nhạy cảm với nhịp điệu, tốc độ, nó
làm cho thơ nhanh, hoạt hẳn lên.
V.T.N:
Nhất là trong những bài năm chữ tác giả rất sở trường... Nhưng theo tôi, cái chủ
yếu ở đây là một cách
cảm, cách nghĩ có phần khác với thói quen thông thường. Thử nhớ lại hai câu cuối
bài Thuyền và biển: “Nếu phải cách xa anh - em
chỉ còn bão tố”.
Một thứ “tuyên bố”, dù là có vẻ hơi sai. (Sao trong hạnh phúc
đã nghĩ tới đau khổ?).
P.T.D:
Cái lối nghĩ này trong thơ Xuân Quỳnh nhiều lắm. Ca dao xưa ví người yêu với mặt
trời. (Thấy anh như thấy mặt trời - chói chang khó ngó trao
lời khó trao) đã là chuyện tày đình. Bây giờ mở đầu
bài Con yêu mẹ, tác giả đã ví Con yêu mẹ bằng ông trời - rộng lắm không bao giờ hết,
rồi lại bác đi, và vân vì đủ thứ, đề rồi kết luận: Con yêu mẹ bằng con dế. Thật là trẻ con, mà cũng thật là liều, bỏ hết
lôgích thông thường.
V.T.N:
Lối suy nghĩ đó được Xuân Quỳnh đẩy
lên, đến cùng, tạo ra những câu thơ bất ngờ và đủ vẻ đa dạng. Ở bài này Hoa héo trước kỳ hoa nở, ở bài kia Hạnh phúc đang còn, tình yêu đã mất và ở một bài khác Lòng anh là đầm sen -
Hay là nhành cỏ úa. Người gần như sùng bái tình yêu như
thế, lại có lúc bảo: Em biết đấy là điều
đã cũ -
Chuyện tình yêu quan trọng gì đâu và người tưởng
như tha thiết với thơ vô cùng, coi làm thơ là lẽ sống của mình, lại có lúc bảo:
Anh hãy nghĩ khác ха điều tôi nghĩ - Thơ tôi làm không phải để anh theo.
P.T.D:
Kiều nói như thế, thì trong câu chuyện hàng ngày Xuân Quỳnh vẫn nói với tôi
luôn : «Ông đừng tin những điều tôi nói với ông hôm qua. Sau khi ra đến cửa,
tôi đã nghĩ khác rồi cơ mà».
V.T.N:
Đấy là cái cảm giác hiện tại mà Xuân Quỳnh rất giỏi lọc ra và sống hết mình với
nó. Lúc tiễn đưa ở sân ga Vừa nghe tiếng
còi tàu - Lòng đã nạm đã bắc; khi
qua đường: Em từ nhà đi tới ngã tư - gặp
đèn đỏ trước hàng đinh
thứ nhất - chờ qua đường, đèn xanh
vừa bật
- Em lại quay về thành phố mùa đông. Đặt những giây
lát hiện tại này cạnh nhau, ta sẽ thấy ở tác giả rất mạnh một cảm giác khác nữa
- cảm giác về sự thay đổi.
Kết luận: Người ta không thể hiểu hết chung quanh, như đã không thể hiểu hết
chính mình. Người ta luôn luôn mâu thuẫn. Vậy hãy sống, hãy vui với cái bây giờ
cho đã, cho hết, đừng nghĩ xưa sau gì cho thêm bộn.
P.T.D:
Đúng, trong thơ Sân ga chiều em đi có
cả cái gì động, như chợ búa, đường xá hôm nay, lại có cả cái gì đó rất tĩnh như
cây cối, đất trời, những cuốn sách xếp trong thư viện.
V.T.N:
Điều quan trọng trong cuộc sống một người là kết hợp hai cái đó ra sao. Mà theo
tôi, thơ Xuân Quỳnh làm việc này còn lập bập lắm. Quá nhạy với cái động nên nhiều
lúc rơi vào tùy tiện, cảm thấy muốn làm gì thì làm, làm gì rồi cũng tự biện hộ
được. Mà quá nhạy với cái tĩnh nên lại rơi vào ảo tưởng, lúc nào cũng nghĩ Em vẫn còn tất cả đề trao anh - … Em vẫn giữ một tình yêu mới
mẻ, lúc nào cũng có thể so sánh Lòng như trời biếc lúc hoang
sơ (ba bài thơ trên trang đầu báo Văn
nghệ 1-12-1984).
Ảo tưởng còn sinh ra tự tin, những tự tin
quá đáng. Như
trong câu thơ viết về biển hồi nào Biển vẫn quen theo quy luật
của mình, hoặc Chúng
tôi hiểu
sâu xa về sự vật quanh mình. Đây không còn là chuyện
hay hay dở, đây là lẽ đời: nên nghĩ lại để
nói sao cho phải. Tôi muốn nhấn mạnh điều đó, nhân một bài thơ khá hay gần đây
của Xuân Quỳnh, bài Có một thời như thế (đăng
báo Phụ nữ Việt Nam tết Ất Sửu). Cái thời nói ở đây là
quá khứ của mỗi chúng ta, rất tốt đẹp, bởi rất trẻ, thời của mơ ước viển
vông niềm vui thơ dại, cũng là thời luôn luôn hy vọng để rồi luôn thất vọng – tôi đã cười
và khóc những không
đâu... Ngoảnh lại cái thời đó, nhà thơ thấy mình
đã thay đổi,
đã già đi mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc.
Tôi cho rằng đây là một cảm giác lành mạnh, tỉnh táo của Xuân Quỳnh: dám nhìn
thẳng vào sự
đổi thay của mình, không “cưa sừng làm nghé”, không giả bộ ngây thơ.
Khi đã tự nhìn nhận một cách đúng mực, cố nhiên cái nhìn về chung quanh cũng dễ
sáng suốt thấu đáo. Tôi biết chắc mùa
xuân rồi cũng hết - Hôm nay non, mai cỏ sẽ già... Và sau hết, cảm hứng
chính của bài thơ là hướng về cuộc sống bây giờ, không tự mê hoặc mình bằng quá
khứ.
Quá
khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ
Nhưng đâu phải là
điều em luyến tiếc.
Tuy nhiên, trong bài thơ này, trong lúc tỉnh
táo nhất, tác giả vẫn đề chen hai câu thơ mà như tôi đã nói là ảo tưởng, tức là
nói điều mong muốn, hơn là sự thực:
Em
biết quên những chuyện đáng quên
Em biết nhớ những
điều em phải nhớ.
Đọc hai câu này, tôi nghĩ: đúng, đấy là
cái đích chúng ta phải phấn đấu, nhưng có ai dám nói là tới được! Vả chăng giá
lúc nào người ta cũng chỉ huy được cái nhớ cái quên của mình như thế, thì đã thật
hạnh phúc, mà cũng đại... bất hạnh (vì mọi vui buồn có lẽ cũng không còn gây
xúc động nữa!) Theo tôi, đấy là những câu thơ thuộc loại ngẫu nhiên, nhưng lại
đúng với bản chất cách nghĩ của Xuân Quỳnh, Thế cho nên nếu cần lấy một bài thôi
của Xuân Quỳnh...
P.T.D:
Tôi sẽ lấy... Ở, cũng khó chọn đấy chứ.
V.T.N:
Còn với tôi, thì không gì khác, là bài Hoa
dại núi Hoàng Liên trong tập Tự hát,
một bài rõ chất Xuân Quỳnh ngay từ cái tên của nó.
Hoa
nếp mỏng manh trong tâm gió thổi
Hoa
diếp vàng cô độc giữa thâm u
Và
bên đường hoa nghệ dại ngẩn
ngơ
Hoa
sim tím
một nỗi buồn hoang dã
Hoa
lay ơn đất vườn xưa còn nhớ
Mà
thấy người cành lá bỗng lung lay
Hoa mọc dưới chân
người
Hoa
mọc đến chân mây
Có rất nhiều thứ
hoa không biết rõ...
P.T.D:
Hoa dại ư, có đúng thế không? Vì về mặt nghề nghiệp, nhà thơ này nhiều khi đã
văn hoa quá. Cách đặt đầu đề, cách đưa thơ người khác vào thơ mình, cách chuyển
các thể thơ khác nhau trong một bài, cách đưa vào những câu thơ có vẻ không
đâu... tất cả đều tỏ ra có nghề. Anh Thơ ngày trước viết Ông già hút thuốc thở ra hơi, đọc lên thấy rất ngộ. Ở Xuân Quỳnh
bây giờ, rất nhiều câu như thế. Chẳng hạn, Nước
trong phích hoa trên bình gốm cũ, chẳng
hạn...
V.T.N:
Tôi hiểu. Nhưng ở đây, tôi muốn
nói nguồn thơ, cách tư duy thơ, chứ không phải trình độ nghề nghiệp người làm
thơ. Và nói hồn nhiên tự phát là bao gồm cả hai mặt mạnh yếu cùng sóng đôi bên
nhau, nó chi phối mọi tìm tòi về nội dung cũng như nghệ thuật. Hãy nhìn vào những
bài thơ lục bát in trong Sân ga chiều em đi. Quả là một thứ «hoa dại». Hầu như rất
ít khi tả thấy nó có được cái hơi vừa dân gian, vừa cổ điển mà mọi người đã quen.
Nhà thơ như mới bắt gặp nó lần đầu,
phải khó khăn lắm mới ghép được nó vào thành vần chỉnh tề.
- Con
sông nước chảy xuôi dòng
Mùa
mưa nước lũ quen dâng từ nguồn
Bên
bồi thì cứ bồi luôn
Còn bên lở vẫn lở
thường quanh năm
- Nằng
nồng cho áo mau khô
Bông hoa cúc biển
mùa thu nở rồi.
-
…
P.T.D:
Điều đó thì tôi công nhận. Sức hút của lục bát rất ghê, người ta dễ rơi vào sự
trơn tuột đi giống người khác, giống đám đông không tên. Trong trường hợp này,
thơ lục bát Xuân Quỳnh có cái riêng của nó, nó là hoa dại, nên gây nhớ lâu.
V.T.N:
Vậy là ta đồng ý với nhau về khá nhiều điều. Chưa phải lúc tổng kết về thơ Xuân
Quỳnh vì tác giả đang viết. Nhưng có thể
tin chỉ với những bài thơ hôm nay, Xuân Quỳnh đã có được điều cần thiết nhất với
một tác giả thơ: một cách nghĩ một cách nói của riêng mình. Từ nay trở đi, giọng
thơ đó có thay đổi
thì cũng là trên cái mạch hôm nay mà thay đổi,
biến hóa...
1985
HÌNH ẢNH NHỮNG NGƯỜI NGHỆ
SĨ
QUA TÁC PHẨM CỦA
NAM CAO
Trong số các nhà văn Việt Nam hiện đại,
thật ít có người nào lại viết nhiều về nghề văn, dựng nên nhiều nhân vật người
viết văn như Nam Cao. Chưa nói tới Đời thừa,
Trăng sáng, hãy nói tới một số trường hợp khác: Con người hay hối hận
và cảm thấy bứt rứt đau khổ ngay cả khi giành giật được chút may mắn như người đàn
ông trong Mua nhà, là một người cầm
bút. Người bố trong Bài học quét nhà
lúc nào cũng hí húi đọc sách và viết lách trong buồng, chắc là làm nghề ấy, chứ
còn nghề gì khác? Rồi một trong ba nhân vật trong Chuyện người hàng xóm. Rồi những bóng dáng thoáng qua trong Trẻ con không được ăn thịt chó, Truyện
tình... Và
đây, trong số bốn nhân vật thanh niên ngồi triết lý vụn về sự đời trong Nhỏ nhen, thì có đến hai người dính dáng
đến văn chương, một toan viết truyện, một ước ao làm nghề xuất bản. Về mật độ
người cầm bút trong thế giới nhân vật của một tác giả, nhất là so với các nhà văn đương thời,
tác phẩm của Nam Cao quả là một trường hợp đột
xuất.
Trước
tiên, việc Nam Cao nói nhiều về những người làm nghề cầm bút bắt nguồn từ một
vài vấn đề chung trong quan niệm về nghề văn của anh. Sở trường của Nam Cao là
phân tích đời sống tự ý thức của nhân vật; tôi nghĩ: ít có ngòi bút nào đi vào
phanh phui đời sống tâm lý chính mình và những người quanh mình sâu sắc đến như
thế. Nam Cao cũng không ngần ngại mang rất nhiều chi tiết trong đời sống riêng
của mình vào trong truyện. Lòng tin của tác giả ở đây: tôi đã tự biết tôi, tự
đánh giá được tôi công bằng, sòng phẳng. Hơn nữa, trường hợp của tôi cũng là
trường hợp của mọi người. Dùng tôi để nói về cả sự đời» thì cũng là một phương
pháp, một cách đề viết, như mọi cách thức thông thường vẫn được sử dụng.
Ân
đằng sau cái việc làm kia, cố nhiên tác giả đã phải bắt đầu với một quan niệm
không phải là ai cũng dễ dàng chấp nhận được: quan niệm rằng nghề viết cũng là
một công việc như mọi nghề nghiệp khác. Quan niệm rằng số phận của nghệ thuật
là gắn bó với mọi giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, nghệ thuật không phải
là một cái gì đứng cao hơn, đứng ra ngoài những quy luật của xã hội. Mỗi cá
nhân người làm nghệ thuật ở đây có thể trở thành một thứ điển hình, như mọi người
khác, thuộc các tầng lớp khác. Bởi chỉ khi đó, việc nói tới nghề văn mới có ý
nghĩa với đông đảo bạn đọc, và ở một người
vốn
quan niệm về nghề nghiệp nghiêm chỉnh như Nam Cao, tác giả mới có được tự tin đề
có thể tiếp tục tự phân tích, tự nói về mình. Nay thì trước mắt chúng ta, một
vài người viết văn như Điền, như Hộ... đã trở thành những khuôn mặt quen thuộc.
Nhiều người viết văn lớp sau đã cùng thể nghiệm cái cảm giác này: càng vào với
đời sống, thấm thía những vui buồn nghề nghiệp, càng thấy thông cảm với những
giọt nước mắt của những kiếp người không thể gọi cách nào khác là những mầu đời
thừa mà Nam Cao đã miêu tả.
*
**
Nói
là có nhiều khuôn mặt, e có phần không phải. Với những cái tên khác nhau, khi
Điền, khi Thứ, khi Hộ... các nhân vật người viết của Nam Cao đều có những nét
hao hao giống nhau, làm nên một khuôn mặt chung, một loại nhân vật của riêng
tác giả Lão Hạc, Sống mòn, không lẫn với ai khác.
Đó
là những bản sao khác nhau về con người Nam Cao, như chúng ta từng biết. Đó là
một người thừa sức mạnh về tinh thần, nhưng lại quá yếu kém về sức lực, đến nỗi
xoay đủ mọi nghề đều thất bại, cuối cùng đành yên lòng với nghề cầm bút. Sau những
năm tháng chăm chỉ học hành với bao mộng tưởng tốt đẹp, «hắn » – đại từ ngôi thứ
ba mà Nam Cao thường dùng là hắn, y, gã.... « hắn chợt cay đắng mà nhận thấy
hình như xã hội chẳng chào đón gì cái ý hướng cao cả và tấm lòng trong trẻo của
mình. Viết như một cách đề kiếm sống. Viết như người ta đã làm mọi nghề khác độ
thân. Loay hoay một hồi, nhà văn chợt nhận ra kết luận cuối cùng của mình chỉ
có thể là như vậy, không thể nào khác. Nhưng
điều
bị đát là ở chỗ đồng thời với
việc kiếm sống, chân không bao giờ vứt bỏ được cái mộng dùng trang sách đông
góp với đời. Đáng lẽ phải liều lĩnh, ầu xị, viết lách quấy quá đề kiếm được
càng nhiều tiền càng tốt! Khôn nỗi «hần chỉ biết có một cách làm ăn lương thiện,
và lương thiện quá chừng. Cuộc sống là giằng xé giành giật, cá lớn nuốt cá bé,
biết vậy mà hắn không thể làm được; trong cái xã hội cũ, con người nhà văn ấy mới
lạc lõng, bơ vơ làm sao! Càng dần vặt suy nghĩ, càng cảm thấy bất lực và không
có lối thoát.
Về
một mặt nào đó, Đời thừa có thề đội cái tiêu đề: « Một ngày làm việc bình thường
của văn sĩ Hộ». Một ngày bình thường, quãng thời gian thu nhỏ của chuỗi ngày
dài dằng dặc và giống nhau như lột của một đời người. Trong các truyện của
mình, Nam Cao không ngại đề cho các nhân vật viết văn có đủ mọi thói hư tật xấu
của người đời. Hộ muốn sống đúng đắn, có thể nói muốn sống cao cả nữa. Hộ làm
việc không tiếc sức, cố dứt ra khỏi những phút bốc đồng và sự ham mê quá đáng,
nguồn cơn của mọi tội lỗi. Nhưng nào có được, cuộc sống chung quanh cứ cám dỗ,
lôi cuốn đi, Hộ đành bất lực. Rồi Hộ thường xuyên hối hận. Con người viết văn
trong Hộ những lúc tỉnh táo lại, biết bao là hối hận, vừa trách đời, vừa trách
mình, thấy đời tàn phá mình, hành hạ mình, không sao cưỡng nổi. Và đó cũng là
thái độ nhìn đời sống của các nhân vật trong Mua nhà, trong Nước mắt. Khi tỏ ra
thông cảm với những lầm lỗi của từng cá nhân một, những nhân vật người viết
trong các truyện trên cũng như thái độ của chính Nam Cao mà chúng ta thấy toát
ra qua các truyện ngắn khác, nhất trí ở khía cạnh này: họ hiều rõ vấn đề không
phải là một hai cá nhân riêng lẻ, mà là không khí chung, hoàn
cảnh
chung. Đọc xong mỗi truyện, một khao khát đồi đời một ước muốn phá tung cái cuộc
sống bất công hôm nay cứ thấy xoáy lên trong lòng người đọc. Không thê sống mãi
như vậy : Đó là cái điều khẳng định được nghiền ngăn cay đắng trong lòng và nêm
ra xã hội như một thách thức. Riêng đối với những người cầm bút, rồi ra sẽ có
lúc Nam Cao đi tới cái kết luận về công việc phải làm như Trăng sáng. Trước sự
vây bủa của cái hiện thực nhờ nhờ đen tối, khó chịu, thái độ của nhà văn là thế
nào? Phải dũng cảm sống hết với nó, đề viết, đề tố cáo. Câu trả lời thật quả
quyết, dứt khoát. Từ đây đến chỗ đọc báo Cứu quốc tham gia Văn hóa cứu quốc thời
bí mật, chỉ có một bước. Trong đời văn của Nam Cao, có thể nói Trăng sáng đóng
vai trò một thứ tuyên ngôn nghệ thuật khá đanh thép.
Trở
lên, tạm gọi là sơ đồ phát triển tư tưởng các nhân vật viết văn trong truyện ngắn
Nam Cao trước Cách mạng. Xét trên âm hưởng chung, thì sự quẫn bách cùng khốn,
những mảng màu xám. những tình cảm uất nghen... vẫn là cái cảm hứng chủ đạo
toát ra qua hầu hết những trang viết của tác giả lúc này. Vào trong không khí của
một truyện ngắn khá tiêu biều như Những truyện không muốn viết (in trong tập Một
đám cưới) chúng ta như bắt gặp một sự truy đuời, xã hội truy đuổi, hành hạ một
người viết văn. Nhân vật ở đây cũng lại là một mẫu người gắng gỏi nhưng bất lực.
Là một người cầm bút, được dư luận chú ý, được ve vẫn bởi đủ thứ lý lẽ cao
siêu, nhưng thật ra anh ta chẳng có quyền gì hết. Viết gì cũng bị lôi thôi,
không động chạm tới người này thì bị kẻ khác làm phiền phức. Và hình như bất cứ
ai trong xã hội cũng có thể dí mũi vào việc của anh ta mà xoi mói và hạch sách.
Cho đến khi thu mình lại, trở về với nơi ẩn náu cuối cùng
là
gia đình, vợ con và công việc rồi, thì vẫn không thoát. Thật là một sự vây bủa
khôn cùng. Người viết, cái mạng sống yếu đuối mong manh đo, làm sao mà đương đầu
nổi 1
Trong
các truyện ngắn của Nam Cao, Những truyện không muốn viết gợi ra một cảm giác
khá bị thẩm. Cả thiên truyện như một thứ cười gần, một sự chán chường sâu xa đến
không cưỡng lại nỗi. Trong một xã hội thiếu đói, mỗi người lo niêu cơm cho mình
và gia đình mình không xong, sao lại trớ trêu còn có những người làm văn
chương, nhất là còn ước ao những tác phầm, văn chương có giá trị. Biết nên gọi
là dũng cảm, hay gọi là dở người? Văn chương có thể có một tác động nào đó,
nhưng có thấm thía gì, so với bao nhiêu thế lực khác đang xô đầy con người trong
xã hội về những phía khác. Bao nhiêu gắng gỏi như trong Đời thừa, Trăng sáng khẳng
định, thật không đủ đề làm gì, người viết văn vẫn hoàn toàn bất lực, vẫn cứ «mốc
lên, rỉ đi, mòn ra, mục ra» không có lối thoát, nếu như không có Cách mạng.
Theo
tài liệu do những người quen biết thuật lại. Nam Cao đón Cách mạng tháng Tám ở
cái vùng quê quen thuộc của mình, tại đó, anh mê mải tổ chức Việt Mình rồi cướp
chính quyền ở huyện và làm chủ tịch xã ». Sau này, anh còn đi về cái làng nhỏ ấy
nhiều lần, nhưng chủ yếu đi làm phóng viên mặ trận, hoạt động văn hóa cứu quốc,
viết bài cho tạp chí Tiên phong. Cả trên phương diện công dân lẫn phương diện của
một người viết, việc nào anh cũng dốc sức dốc lòng, như cái cốt cách riêng của
con người anh, mà qua văn chương, chúng ta đã đoán nhận.
Dĩ
nhiên, đề nói về những người nghệ sĩ, ở đây là những người viết văn Việt Nam
trong cách mạng, có thề kể tới nhiều trường hợp khác, Tô Hoài và Nguyên Hồng,
Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Huy Tưởng..., mỗi người một hoàn cảnh, đều đã đi tới
cách mạng, gặp nhau trong tồ chức Văn hóa cứu quốc từ trước 1945 và sau cách mạng
hoạt động rất sôi nổi. Một Xuân Diệu chẳng hạn, tác giả Thơ thơ hào hứng đón lấy
ngày vui của dân tộc, reo mừng cùng thắng lợi trong tráng ca Ngọn quốc kỳ. Và rất
nhiều nhà văn nhà thơ khác, có mặt ở nhiều miền đất khác nhau, tham gia vào nhiều
công việc khác nhau. Thơ văn Cách mạng lúc này là một tiếng hát phấn đấu lạc
quan. Cách mạng giải phóng cho dân tộc, cách mạng cũng đưa lại cho nghệ thuật,
từ niềm tự hào công dân đến quyết tâm đóng góp vào công cuộc xây dựng một nền
văn hóa dân tộc lành mạnh. Chỉ cần có lương tri tối thiều, người ta đã có thể
hiều như vậy. Nếu chưa lao vào hành động, mỗi người cũng đã nao nức với bao dự
định.
Giữa
các bạn bè đồng nghiệp, Nam Cao là một ví dụ tiêu biều. Đã được giác ngộ bước đầu
từ hồi còn bóng tối, đối với anh, những ngày sau Cách mạng là đi tiếp chặng đường
đã chọn. Xa lạ với mọi thói bốc đồng và những hành vi xu thời, con người kỹ lưỡng
trong anh đồng thời lại có những say sưa chưa từng có; say sưa tới mức bộc lộ một
cách rất thành tâm cả những hiều biết còn chưa thấu đáo của mình về Cách mạng.
Đó là trường hợp cái truyện ngắn đội chính tiêu đề Cách mạng, viết năm 1946. Đọc
cái tác phầm khá thật thà» đó, thấy Nam Cao miêu tả một sự kiện lớn lao làm
thay đồi cả đời sống dân tộc hình như chỉ là việc chung sức đánh đuồi giặc
Pháp, hàn gắn lại những quan hệ tình cảm do chế độ cũ làm rạn nứt, ngoài ra
không thấy hé ra một
vẫn
đề gì khác có tính cách thực sự cách mạng, tóm lại là một cách hiều khá sơ lược,
nông cạn, có những khía cạnh sai lạc nữa là khác. Với một sự kiện lớn lao như
Cách mạng tháng Tám, quả thật, phải dần dần trong thời gian, chúng ta mới có điều
kiện đề hiều biết đầy đủ. Sẽ quá khắt khe nếu ngay từ những ngày đầu đòi hỏi những
người trong cuộc có được nhận thức đúng đắn như thời gian về sau. Trái lại, ở
những văn nghệ sĩ và nhiều tríthức lúc ấy, cách hiều như của Nam Cao trong truyện
ngắn Cách mạng khá phổ biến. Lúc bấy giờ, cái chính là phần nhiệt tình, là ý hướng,
là những hoạt động cụ thề mỗi người đóng góp vào sự nghiệp cách mạng. Đối với một
người như tác giả Chí Phèo, Sống mòn... hôm qua, dường như hết sức bị quẫn,
«cái gì không có cũng thèm muốn, cái gì đương có cũng chán ghét, tất cả đều
không nghĩa, tất cả cứ chết mòn không lối thoát» (1), thì những niềm vui được
diễn tả trong Đường vô Nam chẳng hạn, là một cố gắng vượt bậc. Như sau khi ốm dậy,
đầu óc tinh thần sảng khoái, niềm vui tràn ngập, mà cái chân cái tay còn chưa
chịu nghe lời mình, con người vẫn cứ là ngượng nghịu, mất thăng bằng. Nhưng một
ngày mới đã bắt đầu, những hiểu biết sơ lược ban đầu sẽ bị vượt qua nhanh
chóng, một người như Nam Cao sẽ tới cái độ chín của nhận thức. Đó là trường hợp
nhật ký ở rừng và truyện ngắn Đôi mắt.
Trong
số các tác phẩm của Nam Cao viết sau Cách mạng, quả thật có nhiều truyện còn có
vẻ dưới tay » so với một ngòi bút đã đến độ thuần thục như tác giả Lão Hạc, Chí
Phèo... Tuy nhiên, riêng hai tác phầm viết về
(1)
Theo Tô Hoài Một chặng đường Môi, 12-1971. tạp chí Tác Phầm
người
nghệ sĩ trong cách mạng thì vẫn giữ được sinh khí. Có lẽ chính trong quá trình
hành động mê mải như trên đã nói, con người văn nghệ sĩ trong tác giả đã trải
qua một cuộc đấu tranh nội tâm sâu sắc, đề rồi có thể tự chiêm nghiệm, suy nghĩ
và nâng lên thành vấn đề chung, nên lúc vào truyện, câu chữ mới có sức ám ảnh đến
thế.
*
**
Đôi
mắt gắn bó với quá trình sáng tác trước đây của Nam Cao bắt đầu từ hình ảnh nhà
văn Hoàng, một bóng dáng vốn khá quen thuộc với những người làm văn nghệ ở Hà Nội
trước Cách mạng. Không phải chỉ có những Điền, những Hộ..., giới văn chương
cũng là cả một xã hội, trong đó có những nhân vật như Hoàng, một kẻ anh chị
trong nghề, một thứ người sống cũng như viết, dữ dần, ghê gớm. Sự có mặt của
Hoàng luôn luôn là một sức nặng đè lên cuộc sống của những người khác. Không thề
gọi Hoàng là một người lao động lương thiện, càng không thể gọi đó là một người
trí thức chân chính có lương tri, có hiều biết.
Theo
cách miêu tả của Nam Cao, ngay lúc gặp lại Độ ở một làng tản cư, cái nhìn của
Hoàng không phải là không tinh tế, sắc sảo. Những nhận xét của Hoàng có vẻ là rất
có lý. Ít ra là đến lúc bấy giờ, Hoàng cũng phục kháng chiến, cũng tin lãnh tụ.
Song nhìn chung, đối với thời đại mới, thì Hoàng đã hiện ra vừa hài hước, vừa
bi thảm. Trước sau, anh chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực, mà không nhận ra đâu là
phía tích cực của cuộc sống. Anh chẳng làm gì đề đóng góp cho kháng chiến, anh
cứ đứng sang một bên, xa lạ, lạc lõng, và như là chưởng anh ách nữa là đằng
khác. Do không cảm nhận được những đồi thay
Cách
mạng đã đến với xã hội, anh trở nên mất phương hướng. Sau này, Hoàng còn trượt
dài trên những lầm lỗi của mình; song ngay ở đây, năm 1948, anh đã hoàn toàn bế
tắc. Anh chỉ loay hoay với con người cũ, trong khi mãnh đất dưới chân anh,
không khí mà anh hít thở, hình như tất cả đã thay đổi rồi.
*
Không phải chỉ trong giới văn nghệ, mà giữa những người đã sống và làm việc dưới
chế độ cũ, nay đi theo cách mạng, không thiếu gì những người nhìn kháng chiến
giống như Hoàng. Trong chừng mực nhất định, có thể nói đó chính là một ví dụ về
ý nghĩa điền hình của các nhân vật văn nghệ sĩ mà Nam Cao đã dựng tạo nên. Những
người làm văn nghệ không độc quyền về những lầm lẫn và mọi ý nghĩ tiêu cực,
song đồng thời, trong họ cũng không thiếu gì những nhân tố tích cực. Bên cạnh
Hoàng, cũng rất điền hình là trường hợp của Độ. Độ biết nhìn ra đâu là mặt chủ
yếu, mặt đáng yêu của những người chung quanh. Và Độ sống hết lòng với kháng
chiến làm từng công việc tưởng chừng nhỏ nhặt miễn sao có thề phục vụ kháng chiến.
Phải nhớ lại tiền kiếp của Độ, là những Điền, những Hộ trước đây, mới thấy bước
chuyền của Độ, một mặt rất hợp lý, mặt khác vẫn là một bước chuyển lớn lao đến
như thế nào.
Trong
khi miêu tả hai nhân vật Hoàng và Độ, Nam Cao có ý tạo cho hai người cái thế
khá tế nhị: Hoàng tỏ vẻ biết nhiều, nói nhiều, nhận xét đủ thứ. Còn Độ, Độ -
nói rất ít, mà lại nghĩ ngợi nhiều hơn. Không phải là Độ không dứt khoát trong
nhận thức: chính là ở Độ có một thoáng như là mỉa mai, đùa bỡn, điều đó chứng tỏ
anh đã hoàn toàn chín trong ý nghĩ và cách nhìn của mình. Độ rất tự tin. Độ cầm
chắc mình đúng. Đó là một lẽ khiến Độ có thể hoàn toàn bình tĩnh và có thể nói
là độ lượng nữa. Song ở đây, có thể còn có một lý do khác.
Không
phải là không có lục Độ đã từng phải lo gạt bỏ cái phía như Hoàng trong con người
của mình. Độ không hoàn toàn xa lạ với những quan niệm mà rất dễ thấy là không
hợp thời kia. Biết làm thế nào, tình cảm là cụ thể, sự phấn đấu về mặt tình cảm
là rất cụ thể. Quá trình trưởng thành của một người như Độ sẽ được Nam Cao trình
bày một cách đầy sức thuyết phục trong nhật ký ở rừng. Với tác phầm này, tác giả
lại triền khai một khía cạnh khá tinh tế khác trong mối quan hệ giữa người nghệ
sĩ và cách mạng.
***
Về
mặt thời gian, đoạn đường mà nhật ký ở rừng ghi lại không phải là dài: từ
19-10-47 đến 18-3-48. Đó là thời gian Nam Cao cùng với một số đồng chí khác được
phân công làm một tờ báo, trên vùng đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc. Mới nhìn,
có thể thấy công việc rất xuôn xẻ, mỗi người cán bộ ở đây đã được cách mạng
giáo dục, rất yên tâm với phần việc của mình, tin tưởng ở tình hình chung. Song
le, dưới hình thức nhật ký, là thể loại có thề bộc lộ nội tâm một cách sâu sắc,
lại thấy hiện ra một con người văn nghệ sĩ không phải là hoàn toàn đơn giản,
như phần lớn, nếu không nói là tất cả những người quanh ta vốn không hoàn toàn
đơn giản bao giờ.
Ở
những nhân vật viết văn trong truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng, luôn luôn thấy
có sự dằn vặt trong nội tâm, một cuộc đấu tranh tư tưởng dai dẳng, và một hiện
tượng như là sự phân thân về mặt tâm lý. Trong hành động, mỗi người tìm được
cách xử thế đúng mực lương thiện. Nhưng trong thâm tâm, có thiếu một ý nghĩ gì
mà những người đó không nghĩ tới, dù chỉ nghĩ thế, rồi lại xấu hồ và tìm cách gạt
bỏ tức khắc! Giờ đây, một
mặt
anh muốn tự cải tạo trong công việc chung, muốn sống khỏe, sống hòa hợp với những
vui buồn của mọi người bình thường. Mặt khác, tân trong thói quen cảm xúc, tận
trong tiềm thức sâu xa, một con người cũ vẫn thức dây như một ám ảnh, muốn dứt
bỏ mà không dễ nào. Qua những trang nhật ký, chúng ta bắt gặp một Nam Cao bao
giờ cũng tìm cách nhìn thẳng vào tâm hồn mình và hết sức nghiêm khắc với mình.
Nhưng nếu như ở xã hội cũ, mỗi người phải vật vã khô sở mới tìm được cách chống
chọi với hoàn cảnh và tự bảo vệ được mình, thì giờ đây, vào những năm đầu của
cuộc kháng chiến chống Pháp, cả xã hội ở vào cái thế đi lên, chung quanh lúc
nào cũng như giục giã cá nhân nỗ lực cho kịp với thời đại. Một sự hòa hợp giữa
cá nhân và hoàn cảnh, ở đây là sự hòa hợp giữa người nghệ sĩ và xã hội, hiện
lên rất rõ qua tác phẩm của Nam Cao. Đó cũng là tinh thần chủ đạo của cái thời
kỳ trong đó anh sống những năm tháng cuối cùng của cuộc đời mình, thời kỳ đề lại
những tác phầm khá độc đáo trong nền văn học sau cách mạng, thời kỳ những năm đầu
kháng chiến, từ 1947 đến khoảng chiến thắng Biên giới.
Trong
cuộc trò chuyện giữa Hoàng và Độ (Đôi mắt), chỉ có một lần Độ hỏi người bạn cũ
của mình về chuyện viết lách. Độ do lằng chuyện mà hỏi, Hoàng cũng trả lời một
cách tầm phào, thế thôi. Về căn bản, hai người vẫn nói với nhau trên phương diện
công dân. Chưa thề bàn tới chuyện sáng tác một cách thấu đáo, vì ngay về cách sống,
họ đã nhìn nhận khác nhau. Còn như khi ở rừng, trong đầu óc nhà văn, không lúc
nào không dậy lên những ý nghĩ về việc viết một cuốn sách của đời mình, quyền
tiểu thuyết lớn về đồng bằng, nó là cái mong mỏi trong Nam Cao suốt từ những
ngày đầu kháng chiến. Đối với một người viết, động đến tác phầm là động đến một
cái
gì
cốt tử, làm nên lẽ sống của một đời người. Chẳng phải nghệ thuật đứng cao hơn
các mặt hoạt động khác, nhưng đối với mỗi người viết, đó lại là lý do tồn tại
cũng là vũ khí đề chiến đấu phục vụ cách mạng. Sự lo lắng của một người viết đến
ngòi bút của mình là một cái gì rất thực tế: Người ta có thể làm ra vẻ sống tốt,
nhưng không thể gắng gượng đề có tác phẩm tốt. Sự viết bao giờ cũng công bằng,
sòng phẳng. Và Nam Cao hiều muốn thành thực với người đọc, trước tiên phải
thành thực với chính mình. Như một số tác phẩm trước đây của Nam Cao, Ở rừng có
tính cách một lời tự thú cởi mở. Trong nhật ký, con mắt nhà văn soi mói chính
mình không chút nương nhẹ, nhưng lại cũng biết đối xử với mình như đồng chí,
như bạn bè. Con người cán bộ cách mạng biết mở đường cho con người nhà văn làm
việc, nhìn nhận đời sống, tin cậy, nỗ lực. Trong khi phấn đấu đề sống cho tốt,
thì một niềm tin rằng sẽ có ngày viết được có sức lôi cuốn người viết ghê gớm.
Như Tô Hoài kề, Nam Cao hằng tin thế nào rồi cũng viết nên một cái gì. Và trước
tiên, tin ở chung quanh, tin ở chính mình. Riêng việc nhìn nhận và đánh giá
đúng đắn về mình và những người giống mình đã chứng tỏ Nam Cao đồi mới khá nhiều.
Một con người mới khỏe mạnh hơn về mặt tình thần, dần dần hình thành. Bên cạnh
những thoáng bồn chồn, một số trảng nhật ký Ở rừng có được cái thanh thoát vui
vầy mà tác phẩm của Nam Cao trước Cách mạng không thể nào có nồi.
**
Đứng
trên phương diện lịch sử mà xét, Nam Cao và những người như anh chưa phải là những
nghệ sĩ của cách mạng. Với cách mạng Nga, một Gorki, một Maiacôpxki
chẳng
hạn là những nghệ sĩ phát ngôn nhiều vấn đề nói lên tiếng nói của cách mạng, bản
thân họ cũng khởi xướng những cách tân hết sức lớn lao trong nội dung và hình
thức nghệ thuật. Trong văn học Việt Nam, chúng ta nhớ tới những chiến sĩ trong
tù, và những tác giả trở thành nhà cách mạng đồng thời với việc làm thơ, dùng
ngay thơ làm một vũ khí hoạt động, tuyên truyền cổ vũ quần chúng.
Nam
Cao và những bạn bè cùng lứa không nằm trong số đó. Trước khi bước vào cách mạng,
các anh đã có một quá khứ nghề nghiệp đáng kể, và với tư cách nghệ sĩ, các anh
tham gia vào hoạt động chung như mọi tầng lớp xã hội khác. Nhưng đâu là những
nét làm nên đặc điểm của người nghệ sĩ Việt Nam trước 1945? Ngoại trừ một số rất
ít làm tay sai cho chính phủ thực dân, và hoạt động trong các đảng phái phản động,
còn phần lớn ít đề tâm tới các vấn đề chính trị. Nghệ thuật được hiều như một
nghề tự do. Mấy tiếng nghệ sĩ thường được dùng đề chỉ những người có cốt cách
tài hoa, lãng mạn. Họ phản kháng trước hiện thực đời sống, nhưng là lối phản
kháng của những người khinh bạc, bất cần. Khá nhất trong họ là bộ phận gần gũi
với nhân dân (chủ yếu là nông dân), và nói lên tiếng nói tố cáo hiện thực, mong
mỗi một ngày mai tốt đẹp. Nhưng xã hội sẽ vận động theo những quy luật nào,
không ai biết, nghệ thuật có thề đóng góp được gì, không ai có ý niệm rõ ràng.
Thiếu, rất thiếu các nghệ sĩ của những vấn đề chính trị, các nghệ sĩ đồng thời
là nhà tự tưởng. Trước Cách mạng, phần lớn lớp nghệ sĩ này sống một kiếp sống vật
vờ, mặc sự xô đầy của xã hội. Bởi vậy, cũng như phần lớn các tầng lớp nhân dân
khác, khi Cách mạng tới, họ đón nhận một cách thành tâm, hồ hởi, nhưng cũng
chưa bao giờ hiều rõ cách mạng và ý nghĩa một sự kiện như Cách
mạng
tháng Tám trong đời sống dân tộc. Những thói quen cũ còn ăn sâu sâu trong mỗi
người rất nặng nề. Ấy là không kề do tính chất của nghề nghiệp, trong những nghệ
sĩ tiến bộ cũng không khỏi có ít chút ảo tưởng về tự do, về vinh quang nghề
nghiệp. Vì thế, sau Cách mạng, trong khi tích cực tham gia mọi hoạt động chung,
nhiều người vẫn mang nặng những suy tư tính toán cũ, và có những người, việc cải
tạo là cả một chặng đường gian khở. Do tính chất đặc biệt của Cách mạng tháng
Tám, một sự kiện lớn lao như vậy mà ngay từ đầu không gây nên quá nhiều xáo trộn
trong đời sống tư tưởng xã hội, cũng như trong đời sống tinh thần mỗi người. Lực
lượng cách mạng đã đoàn kết với tất cả những ai có thể đoàn kết được, để tập
trung vào việc lật đồ ách thống trị của thực dân Pháp, ngoài ra, nhiều vấn đề tạm
đề lại, tiếp tục về sau. Nhưng như một biến đổi xã hội căn bản, trước sau cách
mạng đòi hỏi mỗi người phải tự thay đồi, phải xét duyệt lại nhiều quan niệm cũ,
thói quen cũ, phải hình thành dần những nền nếp mới. Đây là một yêu cầu tất yếu,
nhất định phải tới, dù chậm rãi, dù dần dà. nhưng không thể thiếu phần dứt
khoát mạnh mẽ. «Bao
nhiêu
vấn đề đều phải đặt lại tất cả cùng một lúc » (1). Riêng
trong
lĩnh vực nghệ thuật, làm sao đề xây dựng một nền nghệ thuật mới, làm sao có được
một lớp nghệ sĩ mới, nói lên đúng tiếng nói của cách mạng, giáo dục ý thức cách
mạng cho quần chúng? Mà muốn vậy, rất nhiều quan niệm, nhiều thói quen cũ về sống,
về viết, cần xem xét lại. Sự phấn đấu ở đây lại là cụ thể, không chỉ ở lý lẽ,
mà còn ở tận những vui buồn hờn giận hàng ngày, những rung - động có vẻ như
thoáng qua, nhưng nó cũng là chỗ sâu xa nhất của những tâm hồn tiều tư sản. Bấy
nhiêu vấn đề
(1)
Nguyễn Đình Thi - Mấy vấn đề văn học.
đặt
ra khá cấp thiết, và đặt ra với cả những người đà tiếp xúc với cách mạng từ
trong bóng tối như trường hợp Nam Cao. Hơn ai hết, Nam Cao sớm hiều. Nam Cao muốn
nhìn thẳng vào những vấn đề đó, đề trao đổi, suy nghi tự mình vượt mình. Đi
theo cách mạng đã khó; hiều được cách mạng, sống theo nếp sống của người cách mạng
càng khó. Làm một công dân tốt là chuyện phấn đấu; làm nghệ sĩ cách mạng, còn
phải phấn đấu nhiều hơn
Nam
Cao như tự nói với mình và nói với mọi người như vậy. Những chuyện mà tác giả
nói tới trong Đôi mắt, Ở rừng... nhìn lại đôi lúc thấy đơn giản quá đi, nhưng
trong thực tế đã là chuyện phấn đấu cụ thể của bao nhiêu người, trong bao nhiêu
ngày suốt cuộc kháng chiến trường kỳ và cả những ngày tiếp theo. Dĩ nhiên cuối
cùng, trong khuôn khổ của cuộc cách mạng dân tộc, quá trình cách mạng hóa tư tưởng,
quần chúng hóa sinh hoạt >> đã đạt tới những kết quả đáng kề, chúng ta có
một đội ngũ văn nghệ sĩ thuần nhất về tư tưởng, sẵn sàng làm tròn mọi nhiệm vụ
mà Đảng và nhẫn dân giao phó. Hóa ra, cái phần sức lực trong mỗi người còn rất
lớn, chúng ta có thể làm được nhiều việc, miễn là mỗi người luôn luôn tự cảnh
giác, luôn luôn phấn đấu đầy lùi những giây phút cọn người cũ trở lại trong
mình...
Trên
ý nghĩa ấy, Đôi mắt và ở rừng của Nam Cao vừa có giá trị hiện thực vừa có ý
nghĩa tiên tri. Những vấn đề của người nghệ sĩ trong khi đi theo cách mạng diễn
biến về sau, suy cho cùng, cũng là triền khai trên hai hướng mà Đôi mắt và ở rừng
đã gợi ý. Nhìn chung từ thời tác giả viết Đời thừa, Nước mắt, tới giai đoạn
này, có thề nói rằng: Khi trả lại cho lớp văn nghệ sĩ cái vị tríđúng đắn của họ
giữa các tầng lớp quần chúng của giai đoạn lịch sử mà Cuộc cách mạng tháng Tám
đóng vai trò
bản
lề, khi nói rằng phần lớn văn nghệ sĩ cũng là những người lao động bình thường
với những mặt tích cực cùng là những mặt tiêu cực của họ, Nam Cao đã mang lại
cho tác phầm của mình một sức khái quát khá rộng rãi. Dù thuộc bất kỳ tầng lớp
nào, những người đọc hôm nay vẫn có thể tìm thấy ở những tác phầm đỏ của Nam
Cao những bài học sâu sắc.
1976
QUẢ NHỎ
HAY LÀ CÂU CHUYỆN SỨC TRẺ
Ở MỘT NGƯỜI LÀM THƠ TUỒI
ĐÃ GIÀ
Khi viết, người ta không có tuổi... Tất cả những gì ta
viết, thuộc về năm tháng, thì sẽ biến mất; những gì không thuộc về năm tháng
thì sẽ còn mãi không thôi.
Mấy câu trên đây
là do tôi tình cờ nhặt được trong một bài báo ghi lại cuộc trò chuyện giữa hai
nhà văn xô viết lão thành (1). Tuổi trẻ có cách nói chuyện của tudi trẻ. Những
người già có cách nói chuyện của người già. Nhưng ở đây, chúng ta lại một lần nữa
thấy rõ ở cái phần sâu sắc của nó, những câu chuyện già – trẻ là rất thống nhất.
Ở đây, các cụ nói về những quy luật trong nghệ thuật. Câu thứ hai có ý hướng
người ta vượt lên trên cái ngẫu nhiên hàng ngày
đề đi tới cái khái quát, và nhờ thế, viết được những gì gọi là đọc được mãi.
Nhưng tôi thích hơn cả là câu thứ nhất. Tác giả muốn nói: khi viết, người ta
bình đẳng, không câu
---
(*) Quả
nhỏ, tập thơ của Khương Hữu Dụng, Nhà xuất bản Văn học - 1973.
(1) V.
Selopxki nhà văn xô viết nổi tiếng, tác giả hơn 40 quyền sách, và nhiều
công trình nghiên cứu về Đốtxtoiepxki, Tônxtôl, nói chuyện với P. Antôkônxki, nhà thơ đã sang thăm Việt
Nam. (Trích ở báo Tuần lễ,
phụ trương tờ Tin tức, số đầu 1973).
nệ và không có quyền được
chú ý mình là gì cả. Bài viết tự nó có tiếng nói của nó, có sức thuyết phục của
nó, và chỉ có thế!
Những ý tưởng ấy
như có gì liên hệ với tập thơ mà tôi có trong tay hôm nay: Quả nhỏ. Nhà thơ hiều tuổi tác của mình lẫm. Tôi là một nhà thơ già miền Nam Việt Nam - lời nói rưng rưng cảm động! Nhưng cái cảm giác đầu
tiên cũng là cảm giác quán xuyến sau khi đọc xong tập thơ: đây là những gắng gỏi
chống lại tuổi tác, thời gian. Đây là thơ của một người muốn trẻ.
Trong trí nhớ người
đọc, nhất là những thanh niên lứa chúng tôi, Khương Hữu Dụng là một người làm
thơ gần như không có tuổi trẻ. Chúng tôi chỉ bắt đầu đọc ông từ sau khi hòa
bình lập lại 1954. Khi bắt đầu đọc, chúng tôi đã được giới thiệu đấy là một nhà
thơ lớn tuời. Phần đóng góp quan trọng của ông là phần thơ dịch, ông dịch Lý –
Đỗ - Bạch, dịch Lục Du, dịch những nhà thơ cở Trung Hoa. Cái cốt cách của ông
xui ông đi tìm vào thơ người xưa rồi từ đó, thơ ông dịch lại nhập vào ông một
cách tự nhiên, nhập vào chính thơ ông viết ra. Thơ Khương Hữu Dụng không dễ
dãi, hời hợt (cái nhạt nhẽo hời hợt giờ đây lan đến cả những người có một thời
oanh liệt»). Nhưng ông cũng không có sức, sức quyến rũ mạnh mẽ -có một ít bạn đọc
nào đó có mắt xanh tri âm tri kỷ, thì tác dụng cũng là trong phạm vi hẹp. Nhưng
luôn luôn Khương Hữu Dụng bền bỉ, cần mẫn, chung thủy với thơ. Phải tới một lúc
nào đó, ta mới chợt nhận ra: Ông không chịu yên nghỉ, đứng lại. Ông muốn làm
cho thơ mình trẻ lại, kề cả làm thơ tình yêu, thơ thiếu nhi. Ông muốn tiếp lấy
cái khỏe, cái thô của đời sống thực tế.
Cách đây mấy năm,
chúng ta đọc trong tập Thơ chông Mỹ cứu nước những câu thơ chắc, khỏe:
Trèo lên đỉnh Côn Sơn
Ngó ra đồng Thồ Vị
Ruộng trũng nước mênh mông
Chim bay không chỗ nghỉ
Trâu nặng nhọc kéo cày
Người sục bùn xắp về
(Con gái Thô Vị)
Còn nhiều những ví
dụ tương tự ở thơ Khương Hữu Dụng. Trong Quả
nhỏ có một chùm thơ viết về ong. Một mặt đó là cái cách tác giả góp mặt
trong việc tuyên truyền ca ngợi nền nếp làm ăn mới. Mặt khác, tôi tưởng như
Khương Hữu Dụng muốn tìm thấy trong hình ảnh bầy ong một triết lý sống cho
chính mình. Lướt sáng một con ong, ong này đúng là ong trong tập Quả nhỏ: ong biết mình bé bỏng, đã lấy
cái nhanh nhảu cần cù đề bày tỏ sự tận tụy của mình với đời sống. Rồi đến một
đoạn sau, tác giả hạ một câu tâm huyết «
Thà làm ong nhỏ, hơn làm cây khô » – Câu thơ không đẹp, nhưng nó có tư cách
một lời tự nhủ. Người làm thơ ấy đã không muốn ảo tưởng, lại sợ những vinh
quang phù phiếm, có hư mà không có thực. Ngược lại, ông muốn gắn bó với đời sống
một cách sinh động trong phần sức lực của mình. Cái phần trẻ của Khương Hữu Dụng
bắt đầu từ đấy.
Có một quy luật khắc
nghiệt trong sự sáng tạo nghệ thuật:
quy luật về sự gắn bó trung thực giữa cuộc đời người viết và những điều anh viết
ra. Phải viết đúng như mình sống, phải chân
thành bộc bạch - nếu không, anh chỉ gặt hái được những kết
quả giả tạo. Thật là một điều oái oăm: khi nào Khương Hữu Dụng muốn làm ra trẻ,
cái trẻ bề ngoài, thì ông lại vẫn là già, và có thể nói, vẫn cô. Thanh niên hiện
nay thật khó tìm thấy ngôn ngữ tình yêu của mình trong những câu đại loại: Tay vít một nhành hoa. - Níu do mùa xuân hỏi
- Vì người công tác xa - Xuân ơi xuân có đợi. Có một âm hưởng quá tịch mịch trong những
bài thơ kiều ấy, thứ tịch mịch không hợp với cái năng động sôi nổi của thời đại.
Tôi cũng chỉ thấy quý, thấy trân trọng trước những cố gắng của tác giả Khi đọc
những bài trong chùm Ông cháu của tập
Quả nhỏ. Như tác giả đã nhận (đứa trẻ
Dạy ông biết lạ, Dạy Ông làm thơ), những
bài ấy mới chỉ có cái «lạ». Nhưng «thật Khương Hữu Dụng» nhất lại là chùm thơ Cha
con, và những bài thơ tâm sự về đời, về nghề. Cái thế của các bài thơ, cái thế
của tác giả trong những Thơ gửi con trong nó, Thắc mắc... hiện ra khá rõ, khiến
người đọc đễ cảm thấy đồng điệu. Ở đó có thể nhận ra một tiếng nói, một hình ảnh,
những bóng dáng của một người bình thường trong những năm này - trong trường hợp
Khương Hữu Dụng là một người cha, một ông già có những « thốn tâm tư » với dân
với nước, đã gửi tất cả hy vọng vào người con trai về chiến đấu trên chiến trường
cũng là trên quê hương - người cha ấy đã dành nhiều nước mắt vui buồn với con.
Đó cũng là một nhà thơ già Việt Nam đi giữa đường phố Mátxcơva còn cảm nghe tiếng
hô của Maia, hoặc vừa dịch thơ Đỗ Phủ, Lục Du, vừa liên hệ tới cuộc đời của
mình, tìm trong thơ người xưa lời động viên cả quyết sống, làm việc. Dịch thơ Lục Du là một thứ thơ cảm tác,
rút ra bài học, vậy mà nhờ có sự chân thành, nên lại có sức thuyết phục, kề cả
cái phút tác giả Ngừng dịch vùng nhỏm đậy - Viết
bài thơ tặng ông - một chuyền biến đột nhiên, cũng hòa hợp lý.
Có thể rút ra nhiều
kinh nghiệm khác nhau qua trường hợp Khương Hữu Dụng (ví như về quá trình vận động
của truyền thống thơ cô trong việc biều hiện hiện thực mới - mở rộng ra, về một mẫu người mang cốt cách sách vở
nhà nho sống trong thời đại có những biến đổi cách mạng). Thế nhưng trước tiên,
tập thơ Quả nhỏ gợi ra vấn đề già trẻ
như trên đã nói. Lâu nay, trong văn học, đây là chỗ có nhiều lẫn lộn. Ở chỗ này
chỗ kia, có lúc có người đại khái cho rằng già trẻ chỉ là căn cứ vào tưởi tác,
hễ người nào ít tuổi hơn và xuất hiện sau là trẻ, người nào nhiều tuổi, xuất hiện
trước là già. Kề ra, tính cả một quãng đường lịch sử, đúng là giữa các thế hệ
phải có những sai khác. Có điều, với từng người, trong từng trường hợp một -
trường hợp của thơ, của văn học -không hoàn toàn có một thứ xếp hạng kiều trời
cho như vậy. Đôi lúc có những tiếng nói trẻ, ít tười, chính thực lại là sự đầu
thai của cái già cũ, chẳng qua anh ta có được cái phong điệu của người mới vào
nghề, nên gây ngộ nhận. Thường cái mới cái trẻ trong trường hợp này là những
cái dịu nhẹ, hồn nhiên, có thề nói là những cải nón bợt, ngây thơ bản thân nó
là cái bóng của những gì già cũ, bởi vậy, nếu có được chính những người cũ nâng
niu khen ngợi thì cũng là điều dễ hiều. Còn trong đời sống cũng như trong văn học,
cái mới cái trẻ phải là một cái gì khác: một cách sống mới, một cách nghĩ mới,
qua nhiều bước đường tìm tòi, vật lộn, đến mức trưởng thành, cứng cỏi, trở
thành một yếu tố mới đóng góp vào quá trình lịch sử - với cả một thế hệ, có thể
nói rộng ra như vậy. Riêng ở từng người, đó là sự phấn đấu một cách có ý thức,
một khao khát muốn sử dụng hết những khả năng thời đại cho phép, phát huy hết sức
mình góp vào tiếng nói chung cái mới cái trẻ
đó có thể có ở bất cứ ai, ở mọi lứa tuổi, cả ở những người già. Tôi nhớ lối cắt
nghĩa của một nhà văn nước ngoài: Người ta khi bắt đầu viết, bao giờ cũng là một
sự bắt chước, cho nên bao giờ cũng hơi già. Phải mất nhiều thời gian, mới có thể
tìm được phương hướng cho mình, nghĩa là phải
mất nhiều thời gian người ta mới trở thành trẻ được (có những người suốt đời
Không bao giờ trẻ được, lại là một chuyện khác!). Trở lại trường hợp thơ Khương
Hữu Dụng. Tôi không nói rằng lúc nào ông cũng trẻ, cũng mới. Nhưng tôi thấy ở
ông những nhiệt tâm của một người hiều rằng không thể già, không nên già, và
trong một số trường hợp khi nào ông vượt qua mọi yếu tố tự nhiên trong mình,
ông thành thực là mình, khi đó, ông đã trẻ thực sự.
1973
CẢM
NGHĨ NGƯỜI MỚI CẦM BÚT
Trước tiên, tôi
nghĩ đến những đồng chí một tiểu đội với tôi hồi mới nhập
ngũ. Trên đường lên Tây Bắc, buổi tối chúng tôi qua phà Suối
Rút cũng là buổi tối đài phát thanh của ta báo tin Thanh Hóa, Quảng Ninh bắn rơi máy bay Mỹ. Đó là ngày 5.8.1964. Vào đơn vị, thực
sự chúng tôi cũng bước vào chiến tranh. Từ đó đến nay, tiểu đội, trung đội bao lần thay đổi: lúc đi chiến trường, lúc về xây dựng; có đồng chí
chuyền đi xa, có đồng chí ở đơn vị làm tiểu
đội trưởng rồi trung đội trưởng. Có đồng chí đi
học về phụ trách đại đội phó ngay đại đội trước kia.
Lùi về trước nữa,
tôi nghĩ đến những người bạn học cùng lớp, những người bạn khăn đỏ, những người
bạn cũng là người đồng chí kết nạp mình vào Đoàn. Thuở ấy, chúng tôi đã mượn
tên phim mà gọi một cách kiểu cách là mỗi đứa sẽ có một
số phận khác nhau. Vậy mà cũng chưa đứa nào hình dung ra hết rằng cả bọn lại đi
theo những ngả đường khác nhau, làm nhiều công việc khác nhau đến thế.
Lớp học nào, đại đội
bộ đội nào thường cũng có một vài người như kiểu
bọn tôi, vọc vạch làm thơ viết báo. Khi bài viết của chúng tôi bắt đầu được sửa
chữa và sử dụng trên một tờ báo in ở tỉnh hoặc ở
trung ương thì bạn bè đồng chí ai cũng
nhìn bọn tôi bằng con mắt rất nhiều khuyến khích. Vậy mà trừ một số anh bạo dạn,
còn phần đông không dám tâm sự với mọi người. Tâm
lý phố chiến là: cái công việc này quả thật phức tạp. Sức mình có hạn: “Mang nặng đẻ đau”,
làm xong rất muốn cho mọi người xem mà lại không khỏi giấu giấu giếm giếm bí mật
một cách rất vô lý. Cho đến gần đây, những bạn học cũ, những đồng chí cùng đơn
vị cũ, hoặc cả những người cùng lứa tuổi, những người bạn mới quen như đều có ý
hỏi tôi rằng: công việc cầm bút là như thế nào? Một số người bắt đầu học cầm
bút như bọn tôi hiện nay ra sao? Những câu hỏi ấy, chúng tôi vẫn thường đặt ra,
nhưng lại nghĩ không có gì đáng nói, tự mình cũng không trả lời mình cho trọn.
Vẫn tâm lý ngần ngại ấy... Trong số những lời dặn dò đầu tiên của các anh lớn
tuổi với những người mới vào nghề như chúng tôi, có một câu mà tôi chôn chặt
trong lòng: văn chương là thứ rất dễ dang dở, dễ nản lòng. Không thiếu gì người mới xuất hiện đột xuất, tài hoa,
nhưng rồi lại lụi đi rất nhanh, lại tắt rất mau chóng. Chẳng khác như Trình Giảo Kim trong Thuyết Đường bao giờ cũng được vài ba
búa đầu, đến búa thứ tư là bỏ chạy. Đến nay trong chúng tôi thỉnh thoảng vẫn có
người chưa tin rằng mình đã chọn đúng nghề, đã có thể đi suốt đời với văn
chương, nghệ thuật. Có điều, cứ gắng
sức làm, vừa làm vừa tính thêm. Đường đi nước bước của một người mới cầm bút
cũng bao gồm mọi chặng như một người thợ mới học việc, một cán bộ khoa học trẻ
trong những bước đầu. Tôi nhớ đến những cô thanh niên xung phong mà tôi đã gặp
trên nhiều nẻo
đường. Nhiều cô ra đi, bố mẹ ở nhà chưa bằng lòng, phải trốn theo bè bạn. Đang ở nhà vừa làm vừa nghịch, vào đơn vị
thì đủ mọi chuyện. Suốt dọc Trường Sơn, con gái cũng học chẻ lạt làm nhà, xúc đất đầy xe, rồi phá bom, đốt bộc phá. Hình như công việc của chúng tôi
cũng thế, cũng đòi hỏi phải thật hết lòng, thật tự nguyện, không ai bảo mà tự
mình buộc mình làm, lăn vào làm, say sưa, mê mải, rồi từ đó học thành người
luôn thể. Trong một lần đi với đơn vị xe, tôi lại nửa đùa nửa thật mà kháo với
mọi người: nghề viết có gì gần với nghề cầm tay lái ấy lắm. Công việc giao cho
từng người một, tính nết thế nào thì công việc ra thế. Từng người lo liệu nhưng
lại phải đảm bảo yêu cầu chung, đội hình chung. Tất cả những liên tưởng trên chỉ
để nói lên rằng: mỗi đơn vị, mỗi cơ sở, mỗi
lớp học tự chia mình đi bao nhiêu công việc thì chia một hai đứa vào nghệ thuật,
văn chương. Và chúng tôi có nên người hay không, có được việc hay không, chúng tôi
có trách nhiệm với chính mình, nhưng cũng là chịu trách nhiệm với bao nhiêu gửi
gắm, lo toan của bao nhiêu tập thể
mà chúng tôi đã từng được ở, từng được đùm bọc. Mối liên hệ với những cơ sở lớn
lên là một trong những điều kiện tồn tại của mỗi người viết. Đó là câu chuyện
lý luận mà cũng là câu chuyện tình cảm hàng ngày. Đến lượt mình, mỗi người
chúng tôi sẽ phải tự lo, bằng vào những điều mình đã thể nghiệm.
*
Cũng phải thú thực
rằng: tuy không được chia sẻ với nhiều người, nhưng
quả là một niềm vui rạo rực trong lòng mỗi chúng tôi khi bài viết đầu tiên được
sử dụng. Ai ở vào địa vị này cũng thế. Như
khi người ta cầm sản phầm đầu tiên sau thời gian học nghề chẳng hạn. Đó là sự
ghi nhận của một thành quả lao động. Hơn thế
nữa, đó là dấu hiệu của một khả năng để
có thể đóng góp tiếng nói với mọi người. Một phương hướng nghề nghiệp mở ra từ
đây. Sao không hồi hộp và trân trọng cho được?
Trong những lý do
để cắt nghĩa hầu như người thanh niên nào
cũng có lúc làm thơ, viết truyện, thì lý do quan trọng nhất là: lúc trẻ tuổi, cảm
giác trong người ta đang nhạy bén. Mọi điều đến với mình là thuở ban đầu, còn mới
lạ, còn tươi nguyên. Mới một thoáng rung thôi mà để lại những dấu ấn rất sâu sắc. Gặp cái gì cũng ngơ
ngác, ngạc nhiên, tưởng như thế giới vừa được phát hiện. Lại thích nói to lên.
Lại thích phân bày tình cảm của mình trên giấy, trao đổi với người khác nữa. Thật
là hồn nhiên, thật là duyên dáng, duyên dáng ngay ở cái vụng về ngượng nghịu của
mình.
Tôi đi giữa buổi đầu ngày – đi giữa
Buổi đầu xuân - đi giữa buổi đầu tiên
Như sáng nay cuộc đời vừa mới mở
Và ban đầu cây với gió cười duyên.
(Xuân Diệu)
Biết làm sao, sự
nhạy cảm đó là một đặc điểm nghề nghiệp, một thứ
tính trời cho, nhiều khi không hề có ý thức, có gắng gượng. Rồi ra, những cảm
giác ấy có thể khó đến hơn, nhưng vẫn là phải có. Có thể thưa hơn, ít mãnh liệt
hơn, và có thể giấu đi được, nhưng cũng không thể
biến hẳn, vì biến hẳn thì tức là mỗi người viết tự khóa đường mình lại, tự xóa
đi vẻ hồng hào trên nét mặt mình.
Lại có 'những mặt
người viết như già trước tuổi, và yêu cầu nghề nghiệp
này cũng thật bức thiết. Những
“vinh quang”
trong văn chương, nếu có thể gọi được như thế, đến rất
nhanh và qua đi rất dễ dàng. Trường hợp một người viết thuận buồm xuôi gió,
thông đồng bén giọt, viết cái gì cũng đúng là văn học cả, cái sau hơn cái trước - trường hợp đó xem ra rất hiếm hoi. Thông thường là nếu
anh không quá mê muội và tự lừa dối, nếu anh tỉnh táo một chút, anh sẽ sớm nhận
ra mình. Những vốn liếng dành dụm được vơi cạn đi một cách nhanh chóng. Một số
bài trước còn có hồn có cốt, những bài sau thì cứ thế mà bôi bác đắp điếm. Mới
trông có vẻ hào nhoáng kỹ thuật. Thật ra, càng kỹ thuật lại càng chóng chán.
Văn học không thể chỉ là một ít nhận xét tinh vi, hoặc là sự giỏi bắt chước, dễ
rung cảm. Bây giờ người mới học viết đứng trước một thử
thách rất quan trọng: hoặc là anh quan niệm văn học một cách hời hợt, nói cho
cùng là một thứ chơi văn chương, để rồi quanh quẩn
với những tác phầm đầu tay, đi tìm những cái bóng khác của nó, hoặc là anh tiến tới một quan niệm về văn học ngày càng
hoàn chỉnh, để lo lắng cho mình có một sức lực lâu bền,
có thể đi xa được.
Một người cầm bút
nghiêm chỉnh sẽ phải nhanh chóng khôn lên về nhiều mặt lắm. Trước hết là cần một
sự từng trải, một sự lịch lãm. Thật đáng ao ước nếu anh luôn luôn được sống giữa
những cơn xoáy của thời đại, nếu mọi thăng trầm của cá nhân anh luôn luôn ăn khớp
với mọi biến động của lịch sử, của nhân dân. Ấy là một may mắn không cùng. Có
người được, có người không, không phải ai cũng có những may mắn ấy. Nhưng mặt
khác, nói cho cùng, mỗi cá nhân vẫn có một khía cạnh điển hình của nó. Phân tích mọi người, mỗi người viết
cũng tự phân tích mình luôn thể. Bí mật của nghề văn là
biến cho được cái riêng tư đó thành cái chung mọi người. Cả cuộc sống của tuổi
thơ trước kia, dù nông nổi, dù bản năng, sẽ được huy động tới. Đọc sách là cách
nhờ người khác gợi lên trong mình những gì sẵn có. Đọc sách
để vượt lên trên thời gian và tuổi tác, để
có thể xuất phát ngay từ chỗ mọi người đã đến, rồi đây dù chỉ nhích thêm được một
tí thì cũng vẫn là đóng góp của mình. Tất cả những việc này xen kẽ vào nhau,
xuyên thấm lẫn nhau, theo hàng ngàn kiểu,
với hàng ngàn đường dây, ăn nổi ăn chìm, không phải bao
giờ cũng tách bạch được rõ ràng, có khi tưởng như không sao hiều nổi. Ngày tháng cứ qua đi với một vẻ bình lặng. Thực ra,
ở tận bên dưới, một quá trình phức tạp đang đẩy tới, mọi yếu
tố đều được vận động rất khẩn trương. Rồi tự nhiên đến lúc nào đó, những sự gom
góp của anh mới hiện ra thành những sinh sắc trên trang giấy anh viết. Lúc ấy
thì mỗi người khác nhau lắm rồi. Không ai tự hơn mình được. Nhưng cũng mấy ai
dám nói rằng thực sự mình đã biết mình. Đã đành giữa thực tế và quan niệm, cái
nọ bổ sung cho cái kia. Nhưng về từng người, trước khi đi vào thực tiễn, quan
niệm giống như cái địa bàn với người đi giữa rừng rậm, Làm sao đề có chủ kiến,
làm sao đề sớm nhận ra chỗ nào là mặt yếu, mặt mạnh của mình. Khi đã có hướng rồi thì mọi công việc dù
ngồn ngang bề bộn đến đâu cũng cảm thấy có từng có lớp, không phải quá lo lắng,
không nóng nảy phí sức nhưng cũng không cầu toàn rụt rè - tất cả những cái sau này chỉ làm cho người ta hối hận.
Trong suốt cuộc sống,
ở tuời thanh niên, mỗi người có biết bao là việc phải làm. Phải nhận thức mọi
chuyện đề ngay lập tức phải hành động. Từ việc chung là xác định những quan niệm
sống, những con đường phục vụ đến những việc cụ thể là chọn nghề chọn ngành, rồi
lo những việc riêng như gia đình nhà cửa - nếu anh không muốn là người khác thường
thì anh phải lo liệu xong trước ba mươi tuổi. Một anh bạn tôi nói: chúng ta bận
quá đến nỗi không biết bắt tay vào việc gì trước hết.
Đấy là tình trạng có thực của một số người. Lúc đó, người viết như phải phân
thân. Vừa làm tất cả công việc như faọi người, vừa phải tách ra suy xét, tự
mình xét mình, rồi tìm cách phô diễn, trao đời. Qua cuộc đời mình, từng trải của
mình mà nói những người khác. Từ một chi tiết bình thường đến những quan niệm lớn
lao, biết thứ gì là không cần cho mỗi người viết, biết thứ gì không thể không
mang vào trang sách nếu mình đã nhập vào nó, đã chiếu rọi cho nó một thứ ánh
sáng. Người yếu bóng vía sẽ rợn ngợp vì thấy như mình đứng trước một khoảng
không quá rộng, không biết đi theo hướng nào. Song chính đó là một thử thách.
Người chủ động, người có hướng sẽ có dịp đề mở ra tất cả sức lực và đi được
theo hướng riêng của mình.
Với bằng ấy bước
đường, quá trình đi tới một quan niệm về văn học đúng đắn là một quá trình gian
khô mà không phải bất cứ ai cũng đến được. Ở đầu mút quá trình ấy, ta có một
người viết với ý nghĩa rất nghiêm chỉnh. Đó là một người làm công tác tư tưởng,
công tác tâm hồn. Đó là một người biết giải thích những điều mọi người đều quan
tâm. Vai trò của người sáng tác là cống hiến cho xã hội một sự vật không ai có
yêu cầu và hình dung ra trước, nhưng khi đã tiếp thu rồi thì không ai là không
cần đến được. Quan niệm về vai trò của nghệ thuật trong cuộc sống, quan niệm về
người chiến sĩ - nghệ sĩ phải được hình thành vừa đúng đắn, vừa độc đáo, vừa được
xã hội chấp nhận vừa phù hợp với tài năng và bản lĩnh của từng người.
Đứng ở chỗ xuất
phát trên một con đường xa, với mỗi người cầm bút cái gì cũng cảm thấy thiếu,
chỗ nào cũng cần lo toan. Nhưng đáng lo toan nhất là điềm này, có nó rồi thì với tuổi đời và kinh nghiệm sống, với sự trao đôi và giúp đỡ
của mọi người, mọi vốn liếng khác sẽ dần dần bồi đắp được.
Có những người đọc
khi gặp người viết đâm ra ngạc nhiên. Hình như trước kia đọc văn, mình quan niệm
về người viết đó hơi khác. Loại trừ trường hợp người đọc kia do mới gặp và có
nhận xét không đúng, thì cũng có người viết sống một đằng viết một nẻo, còn người
trong văn chương không giống con người hàng ngày. Nói cho cùng, đó sẽ là một thứ
văn chương vay mượn, đôi khi là một sự bắt chước khéo tay rất dễ rơi rụng. Còn
sống giữa những người viết thật sự, bất cứ ai cũng sẽ có một cảm giác là người
làm sao văn thơ làm vậy, văn chương thế bởi người như thế, cả những điềm bề
ngoài ai cũng nhận thấy những điểm quanh co khuất khúc, bị nhòe đi dưới một ảnh
hưởng nào đó, theo một thói quen nào đó chỉ người thân thiết ở lâu mới nhận ra.
Điều đó lại càng đúng từ những ngày đầu tiên, khi người ta còn đang ở tuời
thanh niên. Cho nên tất cả những nỗi lo sống, lo làm người trước khi lo viết là
những điềm thuộc về lương tâm của mỗi người, và bây giờ đặt ra thì cũng không
còn là sớm sủa nữa.
*
Trông vào một nhóm
người tập viết, nhiều khi thấy những nét mặt khác nhau nhất. Người của quê
hương đồng bằng, lúc nào trong câu chuyện cũng có những con thuyền như bay trên
sông, những bãi đất sa bồi, những đêm trông máy bơm hợp tác. Người của biển cả
của những cơn sóng thần sóng lừng, và những cánh hải âu trên biển. Người lính
Hà Nội vào Trường Sơn nhớ mãi cánh
đại bàng đất và những mùa mưa dài. Còn bạn đị học ở nước ngoài về, vốn muốn giấu
đi nhưng bè bạn lại rất cần anh nói về Béthôven và Mikenlănggiơ, về Rômanh Rôlăng. và Sôlôkhốp. Chúng tôi vốn xuất
thân từ những môi trường khác nhau; về mặt tính khí, chúng tôi khác nhau nhiều
lắm. Vậy mà bấy nhiêu chỗ khác nhau như thế, bao giờ cũng được chúng tôi tô đậm
hơn nữa, có ý thức làm cho nó ngày càng rõ nét hơn nữa, đề cuối cùng đưa ra một
thứ gì khác tất cả những người khác trước mình, và bên cạnh mình. Rút cuộc, cái
chung nhất, cái làm cho chúng tôi quí nhau nhất chỉ là hiều nhau có những quan
niệm thống nhất. Đó là những nguyên tắc sống, những hướng nhìn xã hội, và cả những
khát khao làm việc, những mong mỏi và ao ước về nghề. Lắm lúc, tôi có ý nghĩ
hình như tạo hóa bố trí cũng công phu lắm. Cũng giống như mọi nghề mọi ngành, ở
đây có đủ bộ, đủ kiều, đủ phong cách. Những tính cách khác nhau bồ sung cho
nhau. Có những sự làm quen đến rất nhanh, và người ta chợt nhận ra rằng đúng là
lâu nay ta thiếu anh này mà ta không hay. Ở đây, không ai có ý niệm về ngôi thứ
cả.
Những câu chuyện của
chúng tôi cũng mỗi thời kỳ một khác. Nó cứ theo dần với sự trưởng thành trong
suy nghĩ của chúng tôi mà biến đồi. Khi đầu thì ồn ã, lúc nào cũng mang thơ văn
mình ra mà đọc, mang văn thơ người khác ra mà phầm bình. Nhưng cái thuở ban đầu
ấy qua đi nhanh chóng. Người nào cũng đã biết chỗ mạnh chỗ yếu của chính mình.
Thường xuyên hơn, kỹ lưỡng hơn là những tâm sự, những bàn bạc về cuộc đời, những
ý nghĩ sau một chuyến đi, một ít điều thu hoạch được qua một quyền sách. Thảng
hoặc có, đọc nhau và trực tiếp trao đổi về nhau thì những nhận xét cũng kín đáo
hơn, sắc nhọn hơn... Nhìn chung câu chuyện xem chừng chậm rãi, mỗi người như ít tranh luận đi, gặp nhau đề
nghiền ngẫm những ý nghĩ là chính. Nhưng đó lại là chỗ cần thiết, chỗ còn lại của
những lần trò chuyện. Sau khi gặp nhau, người nào cũng cảm thấy như được thúc
giục: Vừa có phân tự tin hơn, thấy mình hòa hợp trong những băn khoăn lo lăng của
bạn bè. Vừa thêm phần lo lắng cho việc viết, thấy mình phải cố gắng đề xứng
đáng với mọi người. Rồi ra, nếu ai có viết gì thì bè bạn – đó chính là những
người đọc đầu tiên. Gạt đi mọi thứ thiên lệch cá nhân, có lẽ không đâu người ta
nhìn rõ nhau như ở giữa những người viết. Chúng tôi theo dõi nhau, tính đến quá
khứ và tương lai của nhau trên từng bước một. Không ai cản đường ai cả, chúng
tôi muốn tất cả đều theo hướng của mình và viết tốt hơn nữa. Rơi rụng người nào
thì tiếc người ấy. Và một điều vui sướng bậc nhất của những người viết là lúc
nào đó ngồi với nhau, tìm ra được những giá trị mới, nhận thêm được những người
bạn mới, theo dõi, tin tưởng. Chẳng những người cùng nghề, mà cả nhân dân đất
nước lúc nào cũng mong chờ có thêm những tài năng. Ở cái ngành này, tài năng vẫn
còn là hiếm hoi lắm. Nhiều người trong chúng tôi đã nhiều lúc nghĩ chẳng qua
mình chỉ đóng vai trò bắc cầu. Sẽ có những người đang lăn lộn ở những ngả đường
xa nhất hôm nay. Sẽ có những người ở chiến trường về. Sẽ có những người thật sự
có tài. Bằng cả cuộc đời mình, những người ấy đã và đang chuẩn bị cho những
đóng góp lớn lao mà đất nước mong chờ. Nói lực lượng viết trẻ hiện nay còn những
mạch ngầm chưa ai tìm ra là với ý nghĩa ấy.
Một mối quan hệ
khác có tính chất tình cảm sâu sắc trong mỗi lớp người mới viết còn là những
trao đi đồi lại với lớp người đi trước. Có lẽ người thanh niên ở ngành nào đôi
lúc cũng sung sướng chợt nhận ra mình bỗng được là đồng nghiệp với các bậc cha
anh. Riêng trong phạm vi văn học, niềm
sung sướng của chúng tôi còn lạ lùng hơn nữa. Ở đây, chúng tôi được tiếp xúc,
được trò chuyện với những người mà tên tuổi đã in sâu vào tâm khảm từ ngày ngồi
ghế nhà trường. Thỉnh thoảng lúc vui câu chuyện với các anh, tôi vẫn nhắc lại
những tác phẩm mà tôi còn ghi nhớ tường tận cho đến cả vị trí in trên trang
báo, một bức tranh minh họa, mấy chữ in sai. Có gì là lạ. nhưng cái đó là những
bài học vỡ lòng của chúng tôi. Công việc sáng tác phần lớn bắt nguồn từ những ấu
trĩ mô phỏng theo cái gì mà người thanh niên thấy hay. Chúng tôi tự nhận là những
học trò, dù học trò không bao giờ biết mặt thầy cả.
Những lần gặp gỡ đầu
tiên với các anh lại càng đề lại trong chúng tôi những ấn tượng sâu đậm. Sau
này tôi được biết rằng nhiều anh cũng đề tâm lo lắng cho chúng tôi nhiều lắm,
Sau những hàn huyên vui vẻ, các anh sớm bảo chúng tôi về những vất vả khó khăn
trong công việc. Với cái nhìn của một người trong cuộc, hơn nữa, một người lớn
tuời, các anh phân tích cặn kẽ và đầy sức thuyết phục về từng bước đi, từng thành
công và thất bại của chúng tôi. Ngược trở lại, chúng tôi cũng sớm nhìn các anh
như những người có thể tin cậy được đề tâm sự, đề nhờ trả lời cho bao nhiêu
khúc mắc trong lòng về cuộc đời và nghề nghiệp. Không khỏi có lúc, các anh cố
giấu một mụ cười trước những dự định trẻ con và ngớ ngần của chúng tôi. Nhưng
ngay lập tức, các anh lại biết rằng không có những mưu đồ ấu trĩ, những dự định
viền vông kia, thì chúng tôi lại bông phèng và vô vị một cách vô duyên hơn nữa.
Lịch sử đi theo đường xoáy trôn ốc. Những thế hệ sau bao giờ cũng lặp lại những
bước đi của thế kệ trước, chỉ có khác là những bước ấu trĩ ngày càng rút ngắn,
sự trưởng thành nhanh hơn. Điều tâm tình lớn nhất các anh nói với chúng tôi là
trong văn học không một sự chiếu cố,
khuyến khích, một sự đỡ đầu nào có thể dựng lên được một người viết. Điều quyết
định nhất vẫn là ở từng người viết tự lo liệu lấy. Nói thế thôi, chứ chính các
anh vẫn cần mẫn chỉ bảo, vẫn theo dõi cặn kẽ. Và bản thân tấm gương sống và làm
việc của các anh khi chúng tôi được ở gần biết rõ một cách tỉ mỉ, đã là sự đỡ đầu
quan trọng, sự gợi ý chí tình rồi. Đến một lúc nào đó, các anh cũng thấy phải
mà chúng tôi cũng thấy cần nói chuyện với các anh một cách khác. Không phải chỉ
có lắng nghe mà còn bàn bạc tranh luận. Không phải là một mà có khi còn tồn tại
những ý kiến khác nhau. Bây giờ mỗi bên lại có công việc thực tiễn bảo đảm đằng
sau. Nhưng bao giờ cũng thế, chỉ ít lâu thôi, mọi người đều hiều những sai biệt
ấy về mặt thái độ chẳng có gì quan trọng, mà về mặt công việc lại là chuyện tất
nhiên, Đã thật yêu quí nhau thì việc gì mà lúc nào cũng phải nôi với người kia
về tấm lòng của mình! Một cách rất là chân thành, có anh đã nói đến sự vượt lên
của chúng tôi mà các anh coi như chuyện tất nhiên phải có,
*
Làm công việc cầm
bút, đã nhiều lần chúng tôi được nghe tâm sự của nhiều người cùng tuời. Những nỗi
lòng sâu kín, những bước đường quan trọng của những người quen lâu và mới gặp,
của anh bộ đội cũng như của người sinh viên, của đồng chí cán bộ huyện và của
cô thanh niên xung phong. Bao giờ thì những nỗi niềm tâm sự đó cũng ánh lên một
vẻ trong sáng, toát ra một không khi tốt đẹp, và tình cảm tin yêu, và cái nhìn
hướng về đằng trước. Với tất cả những ấu trĩ vụng dại, thậm chí những lỗi lầm nữa, người thanh niên nào cũng cảm
thấy mình đang lớn lên, thấy tự hào và có đủ can đảm đề kể lại, đề chia sẻ những
gì riêng tư của mình với mọi người khác. Do sự mến yêu và tin cậy hết lòng, các
bạn đã chuyện trò và gửi gắm những cái đó cho chúng tôi. Trước khi viết lên
trang giấy, đúng hơn là bắt nguồn cho mọi thứ sẽ viết, tấm lòng chúng tôi cũng
xôn xao những mong chờ, những lắng nghe, cùng vui, cùng buồn, cùng thấy cần tâm
sự. Nếu nói đến những niềm tự hào trong nghề thi đó chính là nỗi vui, là niềm tự
hào thứ nhất.
Bây giờ đến lượt
chúng tôi tâm sự trở lại. Có bao nhiêu điều cần nói ra, có bao nhiêu điều ấp ủ
bấy lâu từng làm chúng tôi băn khoăn nghĩ ngợi. Chính chúng tôi cũng chưa hiều
hết công việc, hiềuhết mình, mình là thế nào và có thể thành những gì. Chính
chúng tôi còn đang tự nghe và nghe được hay không còn là ở khi làm việc, mà
chúng tôi thì mới bắt tay làm việc. Có điều, như từ đầu đã nói, cảm giác đầu
tiên và quán xuyến mà mỗi người ngày càng thề nghiệm (ít ra là một người như
tôi quan niệm) là thấy nghề này cũng giống như mọi nghề, việc mình cũng giống mọi
việc khác, cũng ở tình trạng tương tự, may mắn và bất hạnh tương tự. Phải trông
vào chung quanh, đề không sốt ruột, đề yên tâm và gắng sức làm. Ai có công việc
người ấy, sẽ có người nào lo liệu việc này thay hộ ngoài chính chúng tôi?
Lại một lần nữa,
tôi muốn nhắc đến những điều mà các anh lớp trước tâm sự. Vốn rất yêu mến thanh
niên, một anh có lưu ý rằng tuổi trẻ cần cố gắng nhìn mọi thứ cho nghiêm chỉnh.
Không bước đi theo những lối mòn nhưng cần trân trọng những gì người đi trước
đã làm được. Nhất là với công việc của mình, có lẽ nên bớt «đùa», mà trả lại
cho nó cái ý nghĩa cần có. Không hiều các bạn khác thế nào, riêng tôi, tôi
không khỏi giật mình. Quả là trước đây mình
đã «đùa » hơi nhiều. Đùa với văn học và đùa với cuộc đời. Đùa với mọi người và
với chính mình. Văn học như một trò chơi, tôi nghĩ thế, đấy là quyền của cá
nhân, thích thì làm không thích thì bỏ. Không ai có quyền yêu cầu mình cái gì hết.
Không ai giúp mình được và mình cũng chẳng bảo được cho ai. Cho đến gần đây,
tôi mới nhận ra rằng cái lõi đùa này không phải vô hại. Nó sẽ trói chân trời
tay mình lại. Nó sẽ làm hỏng cả một đời người. May mà chưa có tác hại gì lớn.
Đã đến lúc cần nhìn vào công việc với một thái độ đúng mức. Cần nhìn cho hết ý
nghĩa của mỗi dòng chữ, mỗi trang báo, cho đến mỗi lời nói, mỗi việc làm hàng
ngày. Những vất vả gian khồ của bè bạn đồng chí cũ trên chiến trường và trong
nhà máy, cả những hy sinh thầm lặng của bao nhiêu người mẹ người chị, rồi tỉnh
thần ngàn năm của nhân dân đất nước, thành quả hơn ba mươi năm nay của cách mạng
hai miền-có thể ứa nước mắt lắm chứ, khi ta nghe một điệu hát hoặc được báo một
cái tin, tất cả những cái ấy không cho phép mình một phút nghỉ ngơi lơi lỏng, một
thoáng qua quýt tầm phào.
Yêu cầu của xã hội
ăn khớp với mong mỏi của cá nhân. Chúng tôi rất yêu nghề, mong muốn dùng tất cả
sức lực đề làm việc. Bao giờ đó chẳng phải là một may mắn hiếm có. Cho nên nhập
với niềm tin của bao nhiêu người, của các thế hệ trước và của bè bạn, từng người
một cảm thấy tự tin hơn. Tin rằng mình sẽ làm được công việc đã tự nguyện làm.
Không làm được là một điều đáng xấu hồ!
1970
NHỮNG
NGƯỜI ĐỌC CỦA CHÚNG TA
Đơn vị mà tôi đến
công tác, chiến đấu trong một hoàn cảnh đặc biệt. Từ hậu cứ đến chiến trường,
đường xa mất chừng mười lăm, hai mươi ngày. Tự đảm nhiệm lấy việc vận tải, tiếp
tế, đơn vị đi theo đường dây riêng; tất cả trên vai người lính, từ cái tăng, cải
vông, cho đến khẩu phần gạo, lạng muối. Trước lúc lên đường, nhiều anh em tần
ngần mãi bên chiếc ba lô. Họ bàn soạn rất kỹ. Họ tính đếm xem nên mang cái gì,
bỏ cái gì. Những thứ còn lại trên vai phải là những thứ thiết yếu, không sao
thiếu được, mà cũng không thể tìm được ở rừng núi hay lấy được của địch trên đường,
trong đồn. Thành thử, trong số những thứ phải mang đi, rất ít khi có mặt những
quyền sách. Dẫu sao, sách báo cũng không phải là cái loại cần coi trọng đầu
tiên - Người ta tặc lưỡi và tự nhủ như vậy, khi
nhìn cái ba lô đã căng phồng quả rồi.
So sánh với những
ngày ở hậu phương, thời gian của người chiến sĩ ở chiến trường có nhiều chỗ
khác. Có những lúc phải thật nhanh, thật linh hoạt: trong một vài ngày, vài buổi,
có khi anh phải làm công việc mà đáng ra mất hàng tuần, hàng tháng. Làm không
quản đêma ngày, làm bằng được. Nhưng thỉnh
thoảng lại có những phút thật rảnh rang. Giá kề lúc này có một quyền sách! Bấy
giờ nhiều người mới lại ước thầm và tiếc đã không chịu mang sách đi theo. Rồi đề
giết thời gian, anh em lại ngồi tán chuyện vui, giở cái rá ra đan, hoặc gò cái
ca, cái bát.
Cho nên, khi gặp một
số anh em làm công tác văn nghệ, bao giờ các đồng chí cũng hỏi chúng tôi có
mang theo quyền sách nào không? Và cầm quyền sách trên tay là người lính chúi đầu
vào đọc, người nọ đăng ký», xếp hàng ngay sau người kia. Nhiều buồi, tôi ước ao
có một cái máy ảnh, ghi lại cái cảnh đáng yêu: một anh đang cầm sách đọc, anh
khác đợi không chịu được, ngần ra một lúc rồi quay vào ngồi dối diện, đưa tay
giở mấy trang cuối và ghé mất, chớp qua cái mục lục, hay là đọc mấy mầu tin cuối
cùng. Xem thế thì dễ mỏi cờ lắm! Được một lúc, anh đành quay ra nói chuyện với
chúng tôi. Anh hỏi han về nhà văn này nhà văn khác, dường như đó là những người
anh thân từ lâu, dù chưa bao giờ anh gặp. Anh thăm dò thêm một vài chuyện nghe
được về giới vẫn nghệ. (Sao mà những chuyện này có cánh bay nhanh thế!). Càng
nói, câu chuyện càng sôi nồi hơn. Những lần chuyện trò như vậy bao giờ cũng
mang lại cho cả hai bên những niềm vui, nó cũng chính là sự tiếp sức thường
xuyên của người đọc đối với những người viết.
*
Khi nào thì câu
chuyện giữa hai người mới gặp có thề sôi nồi ngay từ phút đầu ? Đó là khi người
ta cùng có những người quen chung, bạn bè chung; nói rộng ra, khi người ta có
những mối quan tâm chung, sống theo những nguyên tắc chung, thì lạ lẫm đến mấy
rồi cũng trở thành thân thuộc. Ở đây
sau sự quan tâm chung và đà biểu hiện sự quan tâm chung, chúng tôi còn chung một
ngôn ngữ đó là nghệ thuật, đó là văn chương. Cho nên, nếu câu chuyện giữa một
người viết và một người đọc có thể nhanh chóng nhạy bén, quen thân, thì cũng là
phải.
Rất nhiều người viết
đã nói về những ngạc nhiên trước trình độ hiều biết và tấm lòng ưu ái văn học
khá sâu sắc ở những người đọc mới. Văn học cồ và văn học mới, văn học thế giới
và văn học Việt Nam, hầu như ở lĩnh vực nào, người học sinh hôm qua – người bộ
đội hôm nay cũng có những từng trải, nó ăn vào thành những cách ăn, cách nói,
thành tình cảm, và một vài nhân vật văn học đã thành những con người có thật,
len vào mọi lúc chuyện trò. Yêu cầu văn nghệ đối với đời sống vốn là một yêu cầu
có thực, và cũng thật lớn lao. Câu chuyện có thề miên man kéo từ nhân vật nọ
sang nhân vật kia, từ quyền này sang quyền khác. Ai đã từng đặt chân lên những
con đường mòn chỉ đủ một vài người đi, hoặc hành quân, hoặc lầm lụi vác gạo, tải
đạn; ai đã từng suốt ngày ngồi bên hầm chốt, đón lõng, chờ địch đồ bộ, đủ hiều
lối nói chuyện miên man, nhiều khi rất lặt vặt, với những câu hỏi không đâu vào
đâu và những lần cãi nhau dường như vô nghĩa này. Chiến tranh nhiều lúc có những
khoảng trọn vẹn dành cho cá nhân, hoàn toàn cho phép mỗi người chìm vào những
suy nghĩ riêng tư. Chưa tiếp xúc với cái gì mới, người ta hãy quay về lật đi lật
lại quá khứ. Những kỷ niệm nhỏ nhất hồi ở gia đình bỗng dưng bật dậy. Một bài học
thuộc lòng quên tự lâu lắm, tự nhiên trở về trong đầu. Nếu biết lo liệu và tận
dụng một cách đúng đắn, đây là một dịp người ta có thể đánh giá lại quá khứ, và
suy xét trước về tương lai. Về mặt văn
học, cách thức càng dễ. Đôi hỏi của lịch sử là mỗi thế hệ sẽ có một sự khám phá
riêng, nó là cách đóng góp độc đáo của họ vào việc tìm hiều và đánh giá văn học
quá khứ.
*
Nhưng có lẽ điều
người đọc quan tâm nhất phải là những tác phẩm văn học hiện nay, những tác phầm
hàng ngày hàng giờ ra đời, đi theo mọi chặng đường gian lao, có khi đến với người
lính ngay ở tuyến trước. Đó là một lẽ thường tình. Nghe tin có người viết văn
viết báo đến đơn vị, nhiều cán bộ và chiến sĩ hoặc kín đáo, hoặc công khai,
nhưng đều nói một cách thẳng thắn:
- Anh lại chỗ tôi
chơi! Bọn này có vô khối chuyện kè đề cho anh có thể viết được.
Từ những bài học
chính trị cơ bản, người chiến sĩ vốn đã hiều rõ vị trí của mình trong cuộc chiến
đấu chung. Cũng bắt đầu từ đó, anh hiều rõ chính mình phải là nhân vật chủ yếu
của nền văn học hiện nay. Anh có ý thức đầy đủ rằng cuộc sống mà mình đang sống
là một thực tế lớn lao, nó cần được ghi lại, được phản ánh như một bằng chứng của
lịch sử về đời sống của dân tộc trong những năm này, ngày này. Anh không bằng
lòng chỉ là một người đọc thụ động. Hơn thế nữa, anh còn muốn là một người kiềm
tra những điều nói tới trong văn chương. Chính đây là chỗ xuất phát quan trọng,
mà cũng là chỗ khác nhau rõ rệt giữa người đọc hiện nay và những người đọc trước
kia. Trong xã hội cũ, một nhóm người rỗi rãi tìm đến văn học như tìm một sự giải
trí. Giờ đây, với đông đảo quần chúng, yêu cầu giải trí đó cũng có, nhưng yêu cầu
nhận thức lại nồi lên hàng đầu. Khi lặn lội suốt ngày đi chọc đường (1), cỏ gianh cửa tóe máu tay, tối ăn nằm
gạo rang rải tấm ni lông ra nằm tạm; lúc đi mệt mãi mới đến nơi nghĩ, ngả lưng
ngay tảng đá lớn giữa suối, chia nhau mấy quả vải rừng... lần nào cũng vậy, người
chiến sĩ lại nhìn vào văn nghệ, tìm một sự đối chiếu.
-
Đấy, cuộc sống của chúng
tôi đủ những phút vui buồn như vậy, mà đã có quyền truyện, bài thơ nào nói được
đầy đủ?
Có một thoáng ngượng
ngập, nhưng nhiều hơn là những vui mừng dậy lên trong lòng người làm công tác
văn nghệ. Một nhận thức quan trọng đã ăn sâu vào suy nghĩ người đọc kia. Các
anh nắm được sức mạnh lợi hại của văn nghệ. Các anh dành cho người viết một
lòng tin thật sự và mong đợi ở văn nghệ khá nhiều. Trong lời nói, cách nhìn các
anh dường như đã ngầm giao ước: các anh có thể vất vả, có thể vui lòng chịu đựng
mọi gian khô hy sinh, có thể làm mọi thứ đề giúp đỡ chúng tôi, miễn là chúng
tôi làm được công việc ghi lại đời sống, tâm tình của các anh, ghi lại lịch sử
hôm nay, nói lại với nhân dân, đất nước, nói với cả gia đình, làng xóm về những
điều các anh không nói được nên lời. Có được những người đọc như thế theo dõi,
lo toan, lẽ nào những người viết có lương tâm còn dám lơi là, chểnh mảng?
---------
(1) Mở đường mới.
*
Rất nhiều lần, tôi
đã được nghe nhiều người chiến sĩ kề lại kỷ niệm với những trang sách mà mình
đã đọc. Trong vô vàn những thứ góp phần nhen lên trong lòng người học sinh ý
chí lên đường, diệt thù, có vai trò của văn học
Nhiều bài thơ và
những nhân vật trong truyện đã vẫy gọi anh, giục giã anh ra đi, và bây giờ vẫn ở
bên anh. lặng lẽ thúc giục anh kiên trì chiến đấu. Đó là vai trò đặc biệt của nền
văn học trong bốn mươi năm cách mạng, kề cả những tác phầm mới viết trong những
năm chống Mỹ gần đây. Về phần này, những người đọc bao giờ cũng nói tới với một
tình cảm độ lượng và mến thương. Càng ngày các anh càng có những chỗ thông cảm với
người viết, dần dần nắm chắc tiếng nói riêng của nghệ thuật, thấu hiều cho những
vui buồn của một người trong nghề. Kịp đến khi đôi bên thân thiết như bạn bè,
người chiến sĩ sẽ nhờ người viết trao đổi kỹ thêm ý nọ ý kia, và ngược trở lại,
mạnh dạn nói thêm ý kiến của mình về các tác phầm. Từ những vấn đề lớn, như nội
dung, tư tưởng, cho đến cách viết, chữ dùng, các anh đều có ý kiến đóng góp.
Thường các anh đòi hỏi văn học phải hiện thực hơn, quần chúng hơn, mà cũng
không sa vào vụn vặt, tầm thường. Một năng khiếu thẩm mỹ như thế, về căn bản là
lành mạnh, đúng đắn.
Trong khi nghe người
chiến sĩ bìn về văn học nghệ thuật, tôi hiều rằng không phải mọi ý kiến của họ
cũng đều đúng cả. Ngay chính tự anh em cũng biết tính chất xô bồ và tự phát
trong ý kiến của mình. Điều thú vị chỉ là nhiều khi những ý kiến ấy có một dáng
vẻ rất lạ, vừa cụ thể, vừa sâu sắc, rất đáng ngạc nhiên. Còn những chỗ có mặt nọ
mặt kia - tất cả đều đáng cho ta nghiên cứu. Tất cả đều có lý do hình thành của
nó. Phải từ đó mà lý giải: Bắt nguồn từ đâu, người đọc lại có một khẩu vị như
thế? Tự lúc nào, và trong điều kiện nào? Trước tình hình ấy, trách nhiệm người
viết là như thế nào?
Do những sự khác
nhau trong ý kiến - chắc chắn cái đó còn kéo dài, còn phát
triền - mới thấy vai trò của lý luận là cần thiết như thế nào! Điều đáng mừng
là người đọc hiện nay bắt đầu ngày càng chú ý tới
những bài phê bình, nghiên cứu, trao đồi trên báo chí. Cũng chính là vì yêu cầu
nhận thức của văn học đòi hỏi như vậy. Cuộc sống càng phong phú, nó càng đòi hỏi
người ta không được chết chìm vào những hiện tượng cụ thề, mà phải nắm được cái
gì là chủ chốt. Lý luận mở ra cho người đọc một đường hướng, đưa ra những tiêu
chuẩn chung. Việc đọc lý luận không thay thế cho việc đọc tác phẩm cụ thể,
nhưng lại nâng cao nó lên. Có lần, tôi gặp một đồng chíanh nuôi, tuổi đã hơn ba
mươi, ngồi đọc một quyền sách rất dày. Anh em kháo: “Ông này ghê lắm, đọc Mác-Ang ghen tuyền tập đấy!”. Mà anh em nói thật. Tôi hỏi:
-
Thế đồng chí đọc thì hiều
phần nào nhất?
-
Hiều phần Nguồn gốc của gia đình, tư hữu và chế độ nhà
nước.
Tôi tin rằng đồng
chí đó đã đọc hết, và trả lời đúng với nhận thức của mình. Ngoài việc nâng cao
trình độ chung tất cả những điều đó còn có thề giúp các đồng chí thêm hiều,
thêm cảm thông với văn học.
*
Kể từ khi lo tính
về một bài viết, đến lúc nhìn thấy nó sáng sủa gọn gàng hiện lên trên trang giấy
in, dường như mọi người viết đều trải qua những dần vặt. Liệu những điều mình
viết ra có đúng những điều mọi người đang quan tâm tới? Liệu người đọc bình thường,
người đọc vô tư nhất sẽ đối xử với bài báo, trang sách của mình thế nào? Trước
mắt anh, yêu cầu xã hội hiện ra qua những khuôn mặt cụ thể. Lòng tin vào người
đọc chính là hóa thân từ lòng tin vào cuộc đời. Cái công việc này vốn phụ thuộc
vào tình cảm, hứng thú rất nhiều. Chỉ
một câu nói thoáng qua thôi, đủ làm người viết hăng hái gấp bội, hoặc buồn nản
xỉu đi; hoặc viết ra những dòng chữ có hồn, hoặc đánh vật mãi với trang giấy chết,
Nếu không có một lòng tin bền chắc, liệu có ai dám viết làm gì? Hóa cho nên, vốn
ít chính thức bàn bạc rõ ràng, kỳ thực sự tìm hiều và lắng nghe người đọc vốn
là một công việc thường xuyên, chi phối rất nhiều tình cảm mỗi người viết, nó
cũng là một bảo đảm đầu tiên đối với công việc cầm bút.
Tôi cho rằng trước
hết phải đặt người đọc hiện nay vào chính cương vị xã hội của họ. Đó là tất cả
những người bình thường. Những cán bộ, những chiến sĩ, người kỹ sư và người bán
hàngv.v... với những công việc, những lo toan thiết thực của họ. Họ là những
con người của đất nước ta, trong. những năm này, ngày này... Riêng về mặt đời sống
tinh thần chẳng hạn, với một chiến sĩ ở đơn vị, anh phải tính Trước đây, anh ta
đã được học hành trong một nhà trường thế nào? Bước vào đời lính, anh ta đã được
học những bài chính trị cơ bản thế nào, tâm lý tình cảm chuyền biến ra sao? Tưởng
là giản đơn, nhưng đó là những thứ người viết phải biết. Chi li ra, cần phải nắm
người chiến sĩ – người đọc kia, thời giờ ở đơn vị khi nào rỗi, khi nào bận, lúc
rỗi nhiều nhất đọc được độ bao nhiêu trang sách, và tổng cộng một năm đọc độ
bao nhiêu trang. Cần một sự điều tra, một thứ thống kê khoa học như thế lắm, đề
cuối cùng, chúng ta có một ý niệm về người đọc cụ thể. Từ những điều kiện tâm
lý, tư tưởng đó, một cách tất yếu, có thể suy ra khẩu vị văn học của người đọc.
Sau những điều kiện
chung ấy, riêng về, mặt thẩm mỹ, lại chính người viết, lứa này tiếp lửa khác.
góp phần tạo nên, bồi dưỡng nên khẩu vị của những người đọc. Trách nhiệm người viết có thể vượt qua những điều
cụ thề nói rất nhiều. Mỗi bài một ít, dần dà, người đọc sẽ lấy ở từng người viết,
ở tất cả những người viết một lối nhìn, một cách nghĩ, từ đó sinh ra những đòi
hỏi mới, những mong mỏi mới.
Lần đầu tiếp xúc với
một lớp người đông đảo như một đơn vị bộ đội, một công trường, một đội thanh
niên xung phong, nhiều lúc thấy như bao la quá, rối rắm quá. Người đọc nhiều, mỗi
người một tính nết, mỗi người một trình độ, một người viết giống như một người
thời cơm nấu thức ăn, vừa miệng người này thì không vừa miệng người kia, làm
sao được tiếng khen chung của mọi người cho được. Ấy là không kề văn chương vốn
có những ngôn ngữ riêng cần được giảng giải có những khía cạnh riêng cần cảm
thông. Mà các anh thì bận bịu nhiều quá, một trăm công việc kéo tới, làm gì có
thời giờ đề nghe người viết tâm sự, trao đổi đôi điều.
Một quần chúng có
khẩu vị tốt là một sự đỡ đầu rất quý cho nghệ thuật. Nhưng, đề có một công
chúng như vậy, công việc phấn đấu còn rất lâu dài. Đối với người viết lúc này,
chỉ còn một cách duy nhất là tranh thủ mọi sự đồng cảm, tranh thủ bạn đọc ngày
càng gần gũi và hiều biết văn nghệ hơn. Cách thức duy nhất là có nhiều tác phầm
hay ! Những tác phầm ấy, tự nó biết nói chuyện và người đọc sẽ nghe nó chăm chú
hơn cả, đọc nhiều tác phầm giá trị, tự khắc khẩu vị của quần chúng sẽ phát triền
đúng đắn, sẽ không còn hiện tượng giả thật lẫn lộn, khen chê không phân minh. Với
những tác phầm hay chứng minh, những lý luận chân chính sẽ biến thành lý luận
chung; và mọi thứ ngộ nhận, đủ đến với người đọc bằng cách nào, cũng đều bị đẩy
lùi.
Những công việc lớn
đòi hỏi người ta bắt đầu bằng một lòng tin. Nhưng ở đây, không phải là một sự
phỏng đoán phiêu lưu. Sau cái bề ngoài ồn ào, bộn rộn,
trong đời sống tinh thần chung, một cái gì ồn định nhất vẫn nằm ở tận bên trong
và nó đang nhích lên, nhích dần lên. Nhịp với sự phát triền ở một hoạt động
khác, nhận thức của quần chúng về văn học ngày càng có nhiều dấu hiệu đáng mừng.
Những người đọc mới, những người đọc của chúng ta, đáng cho chúng ta tin tưởng
như vậy.
1971
PHÊ
BÌNH CŨNG CÓ THỀ CÓ ĐÓNG GÓP
(Mấy
ví dụ về hoạt động của những ngời bút làm nên nhịp sống bình thường của phê
bình văn học).
I
- LÊ ĐÌNH KỴ với Đường vào thơ.*
Lê
Đình Kỵ đặt tên cho tập sách phê bình của mình là Đường vào thơ. Chừng ý anh muốn
coi công việc phê bình là môi giới, đưa đường. Ta tạm bằng lòng với cách hiều
như thế và vui mừng thấy anh đã làm công việc này khá thành thục. Khi nói trên
mọi trang viết, Lê Đình Kỵ đã chỉ rõ cái gì, là thơ, cũng tức là nói anh đã dẫn
người đọc đến những phong cách khác nhau trong thơ ta mấy chục năm vừa qua: cái
hùng tráng và tấm lòng yêu thương của Tố Hữu, một chất thơ bình dị và sâu xa
trong Đất nở hoa của Huy Cận; phong cách chính luận trong thơ Chế Lan
Viên.v.v..
Nếu
như không ít nhà văn ở ta vào nghề bằng cách làm thơ – hãy tập sự làm một ít
thơ đã, rồi chuyền sang thì hầu như nhà phê bình nào cũng có viết văn sau
(*)
Nxb Văn học, 1969.
lần
viết về thơ. Ấy là vị: sự bồi đắp hiều biết của chúng ta về thơ chừng như rất sớm,
nền thơ dân tộc đã qua những chặng đường dài. Từng người chúng ta dễ hiều thơ,
lòng ta dễ ngân vang theo thơ lắm. Có điều, từ khi cảm thấy đến chỗ phân bày
trên mặt giấy, khoảng cách vốn khá xa. Và không phải nhiều người đến được một sự
hiều biết về thơ như Lê Đình Kỵ. Anh nhập được vào tác giả như một người trong
cuộc, đề thấy chỗ dễ, chỗ khó. Càng những chỗ mịt mờ sương khói, thơ lung linh ẩn
hiện, - như ở giữa cái dễ dàng và dễ dãi, cái say và cái tỉnh, cái khái niệm và
tư tưởng thơ ca... Lê Đình Kỵ lại càng tỏ ra có sự tinh tế của một nhà phê
bình. Anh vừa theo sát các tác giả trong từng bài thơ, từng câu thơ, lại vừa
chú ý đề từ đó mở rộng ra, nâng cao, khái quát. Hơn một sự phầm bình cụ thề,
người viết muốn truyền đến ta một tình cảm, một cách nhìn, một lý tưởng thầm mỹ
như anh vẫn nói... Rồi ta sẽ vào các bài thơ khác dễ dàng hơn...
Khi
ráp các bài viết lẻ tẻ lại, phê bình của Lê Đình Kỵ, không bị phân tán, chéo
giò». Ngược trở lại, ai cũng đễ thấy một cái gì thống nhất, một tác giả thống
nhất. Một người có tình với sáng tác và cũng khá tỉnh; từng trang, từng dòng ở
đây được chất lọc từ một tâm hồn mang nhiều cảm xúc. Nhưng không khỏi vì thế có
lúc anh đã đi quá đà, đến nỗi đề lại trên trang sách những đoạn những câu cầu kỳ
và rắc rối, những nhận xét còn có phần chủ quan.
Với
Đường vào thơ, lại thêm một trường hợp, đề người ta hiều phê bình cũng có thể
đóng góp, cũng thành một thứ văn học với đúng nghĩa của nó. Sau khi đã cùng
công nhận như thế, chúng ta có quyền nói thêm điều mong mỏi ở tác giả Đường vào
thơ. Câu chuyện bắt nguồn từ quan niệm. Đối với nhà văn phê bình, nói đưa đường
có
lẽ
chỉ là một cách nói. Cái chính là qua việc đó, anh có những gì ký thác, gửi gắm
của riêng anh. Sau sự tinh tế, người đọc chưa thấy Lê Đình Kỵ bao quát và đặt
ra những vấn đề trong văn học ta, trong thơ ta một cách mới mẻ. Từ những hiện
tượng, những người và việc văn học hôm nay lại muốn đòi hỏi tác giả nâng lên
thành những vấn đề của đời sống. Trong văn học, dù sáng tác hay phê bình, bao
giờ đó cũng là những điều cuối cùng mà người viết và người đọc cần trao đổi.
1970
II
- TRIỀU DƯƠNG với Tìm hiều và suy nghĩ(*).
Có
lẽ tính hẹp trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học, Triêu Dương có được một
số người biết tới. Còn như giữa các cây bút đang sáng tác và phê bình đều đặn
làm nên nhịp sống sôi nổi của nền văn học hôm nay, quả thật tên anh chưa gợi ra
một cảm tưởng gì rõ rệt. Vậy mà Tìm hiều và suy nghĩ, cái tác phầm đầu tiên ấy
trong khu vực này, lại đã trở thành cuốn sách cuối cùng của anh. Ở tuổi năm
mươi, Triêu Dương đã vĩnh viễn nằm xuống cuối năm 1980. Tôi nghĩ đến cuộc đời
khiêm tốn của một số đông chúng ta. Hình như không ít người chỉ mới chứng tỏ là
có khả năng làm việc, biết làm việc thì đã già, nhưng bởi lẽ, ta tin rằng con
đường mình đi là đúng đắn, nên, như những người đi bộ, ta vẫn bền bỉ mà đi, được
tí nào hay tí ấy, không có gì phải ân hận.
Nếu
đã quen biết Triêu Dương, người ta không khỏi có lúc nghĩ giữa cuộc đời và
trang viết của anh sao mà
(*)
Nxb Tác phẩm mới, 1982.
khác
nhau, thậm chí công nhau khá mạnh! Với dáng gầy gò lẻo khẻo, con người tác giả
Tìm hiều và suy nghĩ dễ gợi lại hình ảnh những hàn sĩ ngày xưa. Anh rất lắm bệnh.
Anh đau yếu luôn. Song anh lại là một ngòi bút hết sức nghiêm khắc. Lĩnh vực
thành thạo nhất của Triêu Dương lại là thời kỳ văn học cận đại, khi Pháp mới
sang, cái thời rất nhiều nhà nho búi tó củ hành của chúng ta xếp bút nghiên đứng
dưới cờ nghĩa quân, và làm rất nhiều bài thơ hùng tráng mà bị thiết (một số
trong họ đã trở thành nhân vật chính được nói tới trong hai bài viết quan trọng
ở phần giữa tập Tìm hiều và suy nghĩ, một về thơ văn yêu nước Nam Bộ cuối thế kỷ
XIX, một về văn thơ yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX). Từ những truyện vẻ
dân gian đầu thế kỷ XIX tới những câu thơ dậy sóng của một Phan Bội Châu nồng
nhiệt đều không xa lạ với Triêu Dương. Anh sống với cái thời cận đại này một
cách hết lòng, đề rồi lúc quay sang văn học hiện đại, anh lại đặc biệt quan tâm
tới tiều thuyết lịch sử là một lĩnh vực rất hóc búa, muốn hạ một hai câu phê
bình cho đích đáng, người viết phải dày công đọc lầm. Toàn là « những lối đoạn
trường khó khăn, khúc mắc! Lại nữa, đã viết về đối tượng nào, người thầy giỏi dạy
văn kiêm nhà nghiên cứu này cũng tự hành mình hết mức. Viết về 33 truyện ngần
chọn lọc, anh đọc tạt sang cả những tuyền tập truyện ngắn của Liên Xô, cuộc thảo
luận về truyện ngắn ở Pháp đề so sánh. Hoặc viết về cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến
thì kê cứu đề biết từ lai lịch từng bài thơ đến từng việc nhỏ trọng cuộc đời
riêng của cụ Tam Nguyên. Sự chiến thắng số mệnh », như người ta vẫn nói, ở đây
có một khuôn mặt cụ thể của nó: sự tận tụy. Có thể bảo rằng nhiều trang phê
bình của Triêu Dương còn dừng ở mức khảo chứng, mô tả, mà chưa lên đến mức những
khái
quát
sâu hơn. Cũng có thể bảo rằng ý kiến của anh thường lành quá, chưa tài hoa chưa
sắc sảo Nhưng bù lại, văn Triêu Dương bao giờ cũng mực thước, thận trong. và có
thể nói là văn có khí cốt với nghĩa thứ vẫn ấy rắn rỗi, chắc thiệt, bao giờ
cũng có ý đề nói. Anh thường ký lưỡng, tỉ mỉ nhưng không dài dòng.
Sau
hết, tôi muốn lưu ý đến thái độ điềm đam trong ngòi bút phê bình Triêu Dương,
biểu lô rồ nhất là trong những đoạn anh đối thoại với các tác giả nồi tiếng
đang sống: bàn với Chế Lan Viên về nghề nghiệp; bàn với Xuân Diệu về cách hiều
Nguyễn Khuyến và trò chuyện với Tô Hoài nhân đọc Người ven thành. Lời lẽ đúng mục
Ý tứ rõ ràng. Và cũng khá rõ là một niềm tự tin, hiểu hiện ở lối viết xưng tôi
» thoải mái và cách trình bày mọi chuyện rất mạch lạc: Không chút điệu bộ, anh
từ tốn nói hết ý của mình, lường trước mọi sự phản bác, bình tĩnh lắng nghe.
Tóm lại là một thái độ phê bình đáng quý, và dễ thuyết phục. Ở trên, tôi có nói
rằng trong giới sáng tác và phê bình văn học, người biết anh không phải nhiều.
Nhưng, ngay ở cái dạng mộc mạc của nó, những trang viết hay nhất của Triêu
Dương đã có sắc thái văn học, cách nhìn, cách nghĩ của anh là gần gũi với văn học.
Bởi văn học không thuộc về riêng ai, văn học thuộc về tất cả những người sống
tâm huyết với cuộc đời này.
1984
III
- MỘT ÍT KỶ NIỆM VỀ NHỊ CA
Hình
như một lần nào đó, nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nói rằng ông theo nghề
đó một cách bất đắc dĩ. Tôi không rõ có đúng Hoài Thanh vào nghề như vậy
không
nhưng theo tôi hiều, trường hợp mà ông nêu lên không phải là ít, và trong số
đó, có một người từng nhiều năm phụ trách công tác lý luận phê bình ở Tạp chí
Văn nghệ quân đội, người đã từng hướng dẫn tôi và Ngô Thảo đi theo nghề này, và
cũng là người sau khi cho in 12 cuốn sách cả viết lẫn dịch, vừa trút hơi thở cuối
cùng, từ giã cuộc đời và văn học, ngày 28-10-1984.
Người
đó là Nhị Ca.
Nhị
Ca tên thật là Chử Đức Kính, sinh năm 1926 tại Hà Nội. Sau khi nhập ngũ, anh đã
chuyền qua đủ thứ công việc, khi thì là phóng viên, là trợ lý văn nghệ quân
khu, khi phụ trách một đơn vị trong văn công quân đội khi là cán bộ thư viện,
cuối cùng, gần 40 tuổi, mới đi hần vào nghề phê bình văn học. Không kề những
tác phầm dịch, không kề tập sách mỏng Viết hồi ký thì mãi 1972, khi đã 46 tuổi,
tập bài phê bình đầu tiên của anh mới được in ra. Đó là tập Từ cuộc đời vào tác
phầm. Sự thực số đầu sách của Nhị Ca đâu có nhiều : Về sau, anh cũng chỉ cho in
thêm có tập bài Dọc đường văn học (1977) và một cuốn chuyên khảo mang tên Gương
mặt còn lại – Nguyễn Thị (1983) Trong cuộc đời có phần tẻ nhạt của số đông người
viết phê bình chúng tôi, kè ra như thế là Nhị Ca cũng đã đạt được cái mức mà những
người khỏe mới làm được. Và nếu tính cả việc làm báo, biên tập, hướng dẫn những
người đi sau, thì đây đã là một nhà phê bình có đóng góp, trong đó cái đóng góp
chủ yếu của anh, cái phần đề lại sâu đậm nhất trong tâm trí chúng tôi, là anh
tìm được một cách sống bình tĩnh, thoải mái, một cách sống khá phù hợp với nghề
nghiệp và con người minh.
Xin
được bắt đầu bằng một kỷ niệm riêng.
Hà
Nội, mùa đông 1968. Với số đông anh em phóng viên, biên tập của Văn nghệ quân đội
thì việc trở lại ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế sau mấy năm sơ tán cũng chỉ là chuyện
bình thường, như việc viết bài, ra báo vốn là chuyện bình thường. Nhưng đối với
tôi, không phải như vậy. Tôi chỉ mới được chuyển về đây, chưa đầy một năm, vả lại,
địa điểm mà tôi đến nhận công tác là một làng quê Sơn Tây, bởi thế, ngôi nhà
này đối với tôi thật nhiều lạ lùng bỡ ngỡ. Căn gác như rộng quá. Người còn vắng
quá. Thường khi trong tôi bao ý nghĩ bồn chồn, bao câu hỏi day dứt, tất cả đều
liên quan đến sự bí mật ghê gớm» là những sáng tác mà tôi cảm thấy từ nay mình
được dự phần! Ôi, mới ngây ngô làm sao, những sốt sắng của tôi lúc ấy! Rất nhiều
trưa, tôi đã không ngủ, như những đứa trẻ con, vốn thích la cà khi người lớn ngủ.
Trong trường hợp này, người phụ trách trực tiếp, mà cũng là người cùng phòng với
tôi, là Nhị Ca, thì lại có vẻ như vô tâm, chả đề ý gì, chả dự định gì. Trưa
nào, anh cũng đánh một giấc đàng hoàng, trở dậy, mang chậu xuống dưới nhà, rửa
mặt, đánh răng, rẽ đầu ngôi đâu vào đấy rồi mới bắt tay vào công việc, không
chút vội vã.
Đấy
là con người của mực thước, của sự đều đều, cuộc sống anh đi theo một nhịp có sẵn,
và anh tự tin như thế là phải, một sự tự tin đến mức sống bên cạnh anh tôi đâm
ra ngượng ngùng vì những thảng thốt vô lý của mình. Dần dà, thái độ của tôi đối
với sự bình thản của anh có cả hai phía.
Có
lúc, tôi không hiều nỗi; nhưng lại có lúc, tôi ghen tị, thèm được như vậy nà
không theo được, nhất là về sau, khi đã tìm ra nhiều vẻ mặt khác nhau của nó.
Trước hết là trong cách hiều về văn học. Những tưởng là một thanh niên Hà Nội
cũ, thông thạo tiếng Pháp, đã từng dịch Anna Karênhina như anh, ắt hẳn phải có
một quan niệm
phóng
từng tự do lắm. Nhưng không, phải nói ngược lại mới đúng. Trừ việc riêng không
kẻ - đã gọi việc riêng, ai nói làm gì – còn trong công tác, Nhị Ca rất đúng mực.
Theo
anh không có gì sai, nếu bảo văn học là những công việc thiêng liêng trọng đại,
đặc biệt là với những người đã chọn việc cầm bút làm nghề nghiệp. Nhưng, vẫn
theo lời Nhị Ca, trong thời này mà nói, nhất lại là trong chiến tranh, còn bao
nhiêu việc trọng đại, có ý nghĩa quyết định bằng mấy. Người ta còn phải lo gạo,
lo đạn, lo cho bộ đội có tinh thần chiến đấu vân vân và vân vân... Vậy thì hãy
xếp cái thảng thốt của anh lại, đừng có tố nó lên, và nhất là đừng có vớ vẫn
nói chuyện đâu đâu, hãy lo công việc cụ thề đi. Vâng, đừng có vớ vẫn nói chuyện
đâu đâu, đấy là lời chê nặng nhất mà Nhị Ca giành cho những cơn nóng lạnh của
chúng tôi. Anh không thích kiều vớ vẫn ấy.
Anh
thích nói tới những nhiệm vụ mà chúng tôi phải gánh vác. Công việc cơ quan, anh
làm đều đều và trong khuôn khờ những công việc được quy định ở đó – kề cả viết
- anh cảm thấy niềm vui của mình, sự thanh thản của mình. Dù đọc dù viết, trông
anh lúc nào cũng khoan thai, thậm chỉ cả những hàng chữ anh viết lúc nào cũng đều
đặn không lúc to lúc nhỏ như ở những người khác.
Một
lúc nào đó, tôi phải công nhận trước mình là một người có cá tính, có bản lĩnh.
Tới lúc ấy, không phải là Nhị Ca «lý luận » nữa mà anh tâm sự:
Rất
nhiều người, trông mặt tôi hồng hào, cứ tưởng tôi khỏe lắm. Khi bắt tay tôi, họ
mới kêu lên «Sao tay ông nóng thế?». - Lâu nay, mình chỉ làm việc được bằng một
phời, lấy đâu ra khỏe».
Vâng,
cái đó tôi biết...
Đề
tôi nói tiếp về hoàn cảnh của tôi những năm đó: bấy giờ, bệnh lao còn là một bệnh
đáng sợ lắm. Nhiều
thẳng,
bênh không nặng như mình, song vì bi quan quả đầu hàng bệnh tật mà chết. Có thằng
tự tử. Cả cái lán bệnh mười hai thằng nằm dài thế này, đã bao nhiêu lần, mười một,
thằng đi» chỉ còn lại mình tôi rồi lại mười một thằng khác «đi» tiếp. Tôi sống
được, một phần chỉ bởi tại tội cố sống, không muốn tin rằng là mình sẽ chết.
Lòng
tin ấy ở tôi mạnh mẽ khe khắt. Chẳng hạn như trong chuyện ăn. Đang ốm, nhiều
khi có thấy ngon lành gì đâu nhưng cần phải ăn là ăn, tự nhồi mình như nhồi vịt
vậy. Rồi sẽ thấy thích và quan trọng hơn, rồi sẽ khỏe.
Xưa
nay, tôi vẫn thấy cần quan niệm như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử vẫn dạy,
tức là hoàn cảnh tạo nên tính cách con người. Khi tôi còn khỏe, tôi làm đủ việc,
tôi phụ trách đội cổ động tuyên truyền cho kháng chiến, tôi làm trợ lý, tôi đi
họp với cụ Ngô Tất Tố, ông Nam Cao, ông Trần Văn Cần về văn nghệ. Rồi tôi làm
thơ, thơ in đá ấy mà, có ra gì đâu, nhưng mà đã in ra. Tóm lại, là tôi đủ việc
như mọi người. Còn bây giờ tôi ốm, thì tôi làm việc theo kiểu bây giờ, không thể
phung phí sức lực như những người đang khỏe và chính mình lúc đang khỏe. Ông
chưa thì hiều tâm trạng của một người ốm nặng trở về, đơn giản là vì ông chưa ốm,
thế thôi. Nhưng ông phải nhờ xưa kia, tôi cũng như ông và nếu ở hoàn cảnh tôi,
ông cũng như tôi. Chúng ta chẳng có gì là khác nhau. Khi nghĩ thổ, cô thề lại dễ
sống hơn.
Trong
phạm vi thân tình, Nhị Ca đã giảng giải với tôi khá kỹ lưỡng. Anh không nói tới
một lý thuyết xa xôi phức tạp nào. Anh chỉ cố nói rõ nói đúng những gì anh đang
sống. Trong guồng máy công tác văn nghệ đang hoạt động đều đặn, anh tự nhận
mình như một đinh ốc nhỏ, có việc của mình và làm đủ những việc đó. Anh kính trọng
những anh em thường xuyên lăn lộn ở các đơn vị, những anh em đi thực tế và trở
về, viết ra được những tác
phẩm
có giá trị, thành niềm kiêu hãnh của phong trác sáng tác trong quân đội nói
chung. Phần anh, anh lặng lẽ ngồi trước bàn, chiếc bút chì xanh đỏ trên tay chọn
thơ (bấy giờ Văn nghệ quân đội còn rất ít người và có một thời gian dài, Nhi Ca
phải trực cả tò thơ) lo mục phê bình giới thiệu của tạp chí, khi có điều kiện
cũng đi dự một vài buổi mừng công ở các đơn vị. Hàng tuần, cũng như nhiều anh
em khác, nếu không bận gì lắm, Nhị Ca đến Câu lạc bộ quân nhân. Nhìn anh ngồi
trước vại bia mới thấy hết vẻ bình thản sống và lòng yêu đời của anh. Tuy Nhị
Ca không nói gì, nhưng cả con người anh, cả nét mặt anh như muốn kêu to lên : «
Tôi không đòi hỏi gì hơn! Như thế này đã là mãn nguyện lắm rồi! Được sống trên
đời này đã là sung sướng lắm rồi!». Chính đó là nhận thức cơ bản của anh, điều
không những anh thích nói to lên mà còn thành tâm hướng theo nó, coi nó là
phương châm chỉ đạo của mình trong cuộc sống, trong công việc.
*
**
Trong
một bài viết mang tên Ý nghĩ phê bình văn học (in lần đầu tiên trên tạp chí Văn
nghệ Quân đội, đầu năm 1974), Nhị Ca từng trình bày cách hiều về công việc của
mình.
«
Từ trong nguồn gốc sâu xa của nó, sáng tác và phê bình chỉ là hai mặt nhất trí
của một nhu cầu tinh thần sáng tác là hành động, phê bình là nhận thức và dương
tri của hành động đó.
Phê
bình ở ta luôn luôn tìm cách khẳng định những điều tốt đẹp có thực, những đóng
góp dù nhỏ nhất của những người làm ra của cải tâm hồn.
Phê
bình cũng như sáng tác đều đại diện cho lợi ích xã hội và phê bình rất có quyền
và cần phải đưa đơn đặt hàng cho nhà văn, hướng nhà văn vào việc góp phần giải
quyết những vẫn đề trung tâm của cuộc đấu tranh cách mạng.
Đây
cũng là những quan niệm được anh tuân theo mỗi khi cầm bút. Với anh, dù mỗi bài
phê bình có ký tên ai đi nữa, thì đấy vẫn là tiếng nói của dư luận, của chỉ đạo,
và sau đó mới là ý kiến riêng yêu thích riêng của cá nhân. Vậy thì phải tỉnh
táo, lý trí phải vững, dù có bị chê một tí cũng chẳng sao. Trên cương vị một
người phụ trách công tác lý luận phê bình của Văn nghệ quân đội trong những năm
ấy, Nhị Ca thường phải lo mấy loại bài sau đây:
Một
là những khi các sách sáng tác, lý luận của các lãnh tụ được in ra như thơ Hồ
Chủ tịch, thơ đồng chíSóng - Hồng, thơ Tố Hữu, Tạp chí cần có tiếng nói của
mình; hoặc những khi kỷ niệm 25 năm, 30 năm ngày thành lập Quân đội, Tạp chí cần
có bài tổng kết một giai đoạn v.v... và v.v...
Hai
là những khi có các sáng tác của anh em ở chiến trường gửi ra, hoặc một số đồng
chí ở tạp chí đi công tác về viết được những cuốn sách tốt, cần khẳng định như
khẳng định một phương hướng, một cách làm việc.
Trước
những yêu cầu quan trọng như vậy, Nhị Ca bao giờ cũng vui vẻ đón nhận công việc,
và viết bài với tất cả sức lực của mình. Anh đã viết về Những cuốn sách của Bác
Hồ dẫn chúng tôi đi, về Những trang thơ hùng tráng và thiết thực. Anh đã viết về
văn xuôi Nguyễn Đình Thi Nguyên Ngọc, Hữu Mai, Nguyễn Minh Châu về thơ của
Chính Hữu và Phạm Tiến Duật v.v...
Một
trong những điều anh hay dặn dò chúng tôi: phải công bằng trong đánh giá. Trên
tạp chí có tồn tại những cách viết khác nhau cũng là chuyện tất nhiên. Mỗi tác
giả có độc giả của họ. Nếu phê bình chỉ nói những ý thích riêng của người viết
thì theo Nhị Ca, nó sẽ rơi vào hỗn loạn, thậm chí có hại cho sự đoàn kết. Trong
số những kỷ niệm về quan hệ Nhị Ca với những người sáng tác, tôi còn nhớ như in
câu chuyện sau đây: Một lần, do vô ý thế nào đó, Nhị Ca làm cho nhà văn X. cảm
thấy bị chê. Anh X. giận lắm, lần sau ra sách, không tặng Nhị Ca nữa. Nhưng Nhị
Ca vẫn mượn sách của X. về đọc thật kỹ tới trang cuối cùng, sau đó nói với tôi:
«Trong khu vực này, thằng này viết vẫn « bợm nhất đấy. Tôi không làm cách nào
chuyền nhận xét đỏ đến với X. song coi đây là một bài học đối với công việc.
*
**
Lúc
còn làm việc bình thường, Nhị Ca sẵn có thái độ trân trọng với lớp người đi
sau. Anh tin khi mình không làm việc nữa, sẽ có những người khác làm, và nửa
đùa nửa thật, anh bảo biết đâu, khi mình gặp chuyện khốn khó, những người đó chả
giúp mình được ít nhiều!
Những
tưởng đó chỉ là những điều Nhị Ca vui mồm nói chơi, nào ngờ, trong đời anh, lại
có lúc trở thành sự thật: Sau khi từ Tạp chí Văn nghệ quân đội chuyền về Hội
liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam ít lâu. Nhị Ca bị đứt một bên mạch máu
não, phải nằm liệt một chỗ, trong khi bản thảo cuối cùng, cuốn Gương mặt còn lại
Nguyễn Thi còn dang dở. Một đồng nghiệp trẻ của anh, anh Ngô Thảo, đã gánh vác
việc hoàn chỉnh chuyên khảo này của Nhị Ca, nhờ đó, cuối năm 1983 cuốn sách được
in
ra, trong sự vui mừng, hơn nữa, sự thanh thản của Nhị Ca: những gì làm được,
anh đã làm, có thể yên tâm ra đi.
Suốt
bốn năm nằm trên giường bệnh, Nhị Ca vẫn tỉnh táo nghỉ ngơi, ăn uống (ăn uống
lúc này là một công việc), chịu đựng mọi đau đớn, sẵn sàng chấp nhận những diễn
biến sắp tới. Và khi có điều kiện, anh đọc sách, suy nghĩ về đời sống, nhớ lại
mọi vui buồn trong hơn năm chục năm làm người của mình. Nhiều bạn bè đến thăm
anh không khỏi ngạc nhiên, bởi thấy người bệnh còn quá tỉnh, thân thể thì héo
tàn đi, nhưng đầu óc sáng suốt thêm, không oán, không giận, từ tốn hỏi chuyện
anh em đang khỏe đang làm việc. Có hôm anh nói đùa đối với tôi : «Có phải đứa
nào cũng hỏi thăm rằng Nhị Ca đã chết chưa phải không?». Lần khác, nghe nói hai
người bạn trẻ một nam, một nữ tính chuyện gắn bó với nhau, mà lại ngượng ngùng,
giấu giếm, anh nhấn: «Về bảo với chúng nó, đừng tranh cướp của người khác, đừng
phạm pháp là được, còn bằng tài năng của mình, bằng lao động của mình, ai thêm
được một bát cơm ngon cứ ăn, một chén rượu ngon cứ uống, một mối tình tốt đẹp cứ
hưởng. Nhân danh một thằng sắp chết tôi muốn nói với mọi người như vậy. Trong
giọng nói đã lạc đi của anh, trong nụ cười nhiều khi không thành của anh, trước
mắt chúng tôi vẫn là một Nhị Ca tha thiết với đời sống này. Lại nhớ những kỷ niệm
về cuộc sống một thanh niên Hà Nội cũ, mà lúc vui chuyện, anh từng kề. Lại nhớ
những lúc mắt anh sáng lên bên chén rượu. Lại nhớ những lúc anh, sau giờ làm việc,
ngất ngưởng cái mũ vải trắng trên đầu hỏa nhập một cách tự nhiên vào đường phố
Hà Nội, và sau 1975, là đường phố Sài Gòn, hòa nhập vào đó, đề rồi mất hút đi,
với cuộc đời riêng trong đó hết sức thoải
mái.
Anh bảo tôi nếu còn khỏe, sau Nhà thờ đức bà Pari anh rất muốn dịch Décaméron của
Bôcátxiô, một cuốn sách ca ngợi hạnh phúc trần tục, ngay trong cuộc đời chúng
ta đang sống. Nhị Ca không làm được ước muốn cụ thể ấy, nhưng tinh thần của
anh, tinh thần của cách sống mà anh tuân theo, chúng tôi đón nhận, trân trọng,
bởi càng ngày càng thấy không chừng trong sự dễ dàng của nó, đó là một cách sống
đúng.
1984
MỘT
CÁCH HÌNH DUNG VỀ NHÂN VẬT TIỀU THUYẾT
Đây đó, chúng ta
thường thấy có những trẻ nhỏ đứng trước mặt người lớn thì đụt, chậm, gọi dạ bảo
vâng, có vẻ rất hiền lành nhưng lúc đứng với bè bạn thì lại tự nhiên thoải mái,
vừa ngây thơ hơn, vừa hóm hỉnh hơn. Lúc ấy, xét nét một chút thì dễ nhận xét đứa
trẻ chưa thật ngoan ngoãn, nền nếp, nhưng sao vẫn thấy thích thú theo dõi xem
em ra sao, cảm thấy như thế mới đúng là trẻ con và có thể yên tâm rằng mình hiều
đúng về đứa trẻ.
Có thể là sự so
sánh của tôi còn hơi thô thiền một chút, nhưng thử hình dung khoảng cách giữa
nhân vật trong đời sống và nhân vật trong tiều thuyết, tôi vẫn muốn nhắc ví dụ ấy:
Một số tính cách trong các tiểu thuyết của ta hiện nay mặc dù đã được những tay
nghề thành thạo miêu tả, khá tinh tế, hấp dẫn nhưng
sao vẫn cứ như đứa trẻ đứng trước người lớn. Ít nhiều họ còn thiếu sinh sắc. Họ
không mau mắn, sắc sảo như người đời mà cũng không có những lúc... nhạt nhẽo,
khờ dại, vô lý như người đời. Như là xấu hồ, nhân vật không chịu trình diện trước
độc giả, Thoáng cái là nhận ra họ ngay mà không sao thấy được nét mặt họ. Thật
khó lòng suy xét về họ, không biết nói về họ thế nào, không yêu, không ghét, chỉ
thấy tưng tức, và nếu được nói, thì chắc có thể nói thẳng với họ một câu rằng họ
không phải là như vậy!
*
Phải nói ngay ở
đây không có ý đòi hỏi nhân vật tiều thuyết phải giống y như con người ngoài đời.
Giữa trang sách và cuộc sống không bao giờ có sự trùng khít hoàn toàn, đó là một
lẽ nhiều người đã biết. Về đại thể, thế giới trong tác phẩm là một thế giới dễ
hiều hơn, so với cuộc đời thực. Cuộc sống bao giờ cũng phức tạp, nó triền khai
vô tận trong không gian và nối tiếp thường xuyên trong thời gian. Người nghệ sĩ
mang lại cho nó một sự hạn chế, ít thì một vài câu thơ, cùng lắm độ nghìn trang
tiều thuyết. Trong một khung cảnh nhất định, nhân vật văn học phức tạp nhất
cũng bị thu hẹp, bị cắt xén.
Vậy thì tại sao, tại
sao cùng là những con người bị cắt xén đó, mà kẻ thì sinh động tự nhiên, kẻ thì
cử như là hình nhân, cử chỉ vụng ngượng, lời ăn tiếng nói khô cứng? Nhân vật
không hiện lên được, bởi nó chưa có cái động cơ thúc đầy mọi hành động cử chỉ,
quy định mọi mặt tính cách, cũng tức là chưa có bộ mặt thật. Và lý do &
đây, như chúng ta đều biết, trong một số trường hợp, là do người viết còn dừng
lại ở những biều hiện thuộc về bề
nồi của nhân vật. Vẫn mượn cách so sánh trong trường hợp trên, vì như cần phải
miêu tả một đứa trẻ, thì một số tác phẩm của chúng ta mới chăm chăm chú chú dựng
lại cái thần thái lờ đờ của các cộ các cậu lúc đóng kịch » trước các bậc cha mẹ,
mà không thấy được nhiều mặt tính nết của đứa trẻ, không thử tự hỏi chính em thật
ngoan ngoãn hay chỉ làm ra vẻ ngoan ngoãn đề vừa lòng mọi người, và sau cái vẻ
bề ngoài kia, em còn nghĩ ngợi những điều gì khác: Đi theo hướng đó, dù có khéo
léo ghi chép và kề chuyện có duyên đến mấy đi nữa, rút cục vẫn là đưa ra một
nhân vật ở trên sân khấu, không phải ở bên cạnh và ở sau sân khấu mà tập hợp tất
cả những biều hiện này mới làm nên bộ mặt thật của nhân vật.
Lâu nay, văn học
chúng ta đang có nhiều cố gắng đề nâng cao chất lượng tiều thuyết, và một trong
những cố gắng đó là làm sao đề cho tiểu thuyết ôm trùm được những thời gian
dài, nhiều sự kiện nhiều mối quan hệ, nhiều nhân vật. Ở trong cái hoàn cảnh đó,
mỗi con người như có điều kiện tự bộc lộ. Có người gọi đó là cách làm cho nhân
vật có một cuộc đời, có cái làm nên số phận. Kề ra, nói số phận hay nói thế nào
cũng được, có thêm hoàn cảnh đề nhân vật phát triền tính cách thì còn gì bằng!
Có điều, nói tới số phận, cái chính vẫn là xem xem có phải tác phẩm đã tìm thấy
quy luật phát triền của nhân vật, chỉ rõ nhân vật trong nhiều bình diện tính
cách của nó. Khi chưa tìm cách lật hết mọi phía khác nhau trong nhân vật, thì
dù có đi vào bao nhiêu lớp lang. chương mục, đó vẫn là «cuộc đời», «số phận của
những hình nhân. Đại đề nó vẫn là câu chuyện về đứa trẻ đứng trước mặt cha mẹ,
duy có khác trước chỉ em với cha mẹ,
nay thêm khách khứa, bè bạn, đề cho em phải đứng lâu hơn, ra ra vào vào nhiều lần
hơn, song tính cách đơn điệu của em vẫn chỉ là một.
Số phận không có
nghĩa là biên niên, là liệt kê tài liệu. Thực chất của số phận là mối liên hệ
bên trong tính cách, cái thần của tính cách, do hoàn cảnh quy định. Khi đã nắm
được cái đó rồi, thì dựng lại một quãng đời ngắn, hay đi vào nhân vật từ bé đến
lớn, là chuyện tùy ý, đằng nào cũng được. Ví như những giây phút quan trọng: thỉnh
thoảng, mỗi chúng ta không khỏi trải qua những khoảnh khắc tự mình phải quyết định
nhiều chuyện liên quan đến cả cuộc đời mình và có thể, cuộc đời một số người
khác. Ở trong những giây phút đó, mỗi chúng ta có thể cảm thấy sức khống chế
ghê gớm của hoàn cảnh nó dồn ép mình, thúc bách mình, mặt khác bản thân vẫn gắng
gỏi giành lấy thế chủ động. Ở trong những giây phút đó, mỗi chúng ta say và tỉnh,
tính toán và liều lĩnh, tìm kiếm và buông trôi. Mỗi người có dịp đi hết một
phía nào đó của con người mình đề rồi thực tế là chạm phải cái giới hạn có sản.
Thời gian chỉ có khoảnh khắc, mà mức độ biến đồi trong con người mình rất lớn,
vượt xa hàng tháng hàng năm trì trệ. Đó là những giây phút số phận, có thề là đất
triền khai của văn học, đôi khi là điều kiện đề có thẻ có những tác phầm có sức
bao quát lớn.
*
Bây giờ thủ dừng lại
kỹ hơn ở trường hợp đã nêu về đứa trẻ. Ở đây, có điều cần phải phân biệt. Đứng
về mặt giáo dục thiếu nhi mà xét, chúng ta đều hiều là phải bảo ban các em thế
nào để các em tôn trọng cha mẹ; trước
mặt cha mẹ, thày
cô giáo, nói chung là trước mặt người lớn, các em thật thà, tự nhiên, nhưng vẫn
phải biết giữ gìn thận trọng, không lồ tồ tùy tiện như đứng trước bạn bè cùng
tuồi. Trẻ cần thoải mái trong đối xử, nhưng không phải được phép bừa bãi lung
tung, với ai cũng «cá mè một lứa». Sớm có ý tứ là đứa trẻ biết xử sự phân biệt,
trong những trường hợp khác nhau vẫn làm chủ được mình, sao cho lúc nào cũng
đúng mực. Một cách nhìn nhận đúng đắn về em không thề chỉ xem xét em lúc ra
chơi với bè bạn, cho là lúc đó con người em mới thực, còn mọi lúc khác đều là
chuyện đối phó. Nếu cứ thế mà suy, rồi sẽ rơi vào sai lệch cực đoan, cho rằng mọi
đứa trẻ đều hư đốn và giả dối.
Nhưng như thế tức
có thể nói trong một đứa trẻ bình thường, đã có ít ra đến hai bình diện, hai cuộc
đời điều này không những chúng ta có thể quan sát các em trong sinh hoạt hàng
ngày, mà cả trong văn học. Các nhà văn có kinh nghiệm viết về thiếu nhi đều biết
rõ sự tế nhị đó. Và họ đã không tách rời hai mặt, không chọn mặt nọ hy sinh cho
mặt kia, ngược lại, họ tìm bằng được mối ràng buộc hai mặt với nhau, lấy đó làm
đường dây phát triền tính cách. Một em nhỏ thận trọng, giữ gìn trước mặt cha mẹ,
lúc ra trước bạn bè vẫn có thể chơi nghịch thoải mái. Mà cũng đối với bạn bè
thôi, có lúc em đùa vui dễ dãi, có lúc ra dáng nghiêm nghị, tập làm người lớn,
như khi cần phải chỉ huy những đồng đội cũng đeo khăn đỏ như mình chẳng hạn.
Ngoài ra, các em học theo lời ăn tiếng nói người nọ, bắt chước người kia, cậu
này chu đáo lại hay làm ra vẻ vô tâm, cậu khác lười biếng vẫn ra dáng chăm chỉ,
cứ ai thiếu cái gì, thì hay nói tới cái đó. Nói một cách ước lệ, tức mỗi nhân vật
nhỏ tuổi đó đã bắt buộc phải đóng vai, mỗi em có nhiều vai, và có ý thức làm sao nhập vai của mình trong từng lúc một.
Nhà văn chỉ có thể trở nên chân thực khi đề cho nhân vật của mình đóng được những
vai khác nhau, mà vẫn chỉ rõ đó là một con người thống nhất.
Tính chân thực còn
làm cho nhân vật có sức lôi cuốn người xem, và đó là điều cũng sẽ đạt được từ
chỗ nhân vật có nhiều vai, tức có nhiều phía, nhiều bình diện như cách nói ước
lệ chúng ta đang nói. Quả thật, khi ấy, nhân vật sẽ luôn luôn hiện ra nhiều vẻ,
khiến người theo dõi phải chú ý. Và đây là cả một yêu cầu đối với tiểu thuyết.
Một trong những lý do khiến cho người đọc chưa thấy hứng thú khi đọc một số tiểu
thuyết hiện nay là lý do sau đây: Các nhân vật trong tiều thuyết đó cứ trần trần
» từ đầu đến cuối, vừa đọc ít trang phần một đã biết ngay là người thế nào, đến
những trang khép quyền truyện lại có phát triền thì cũng đại khái loanh quanh
như người đọc đã đoán sẵn. Cả tập sách không mang trong mình một yếu tố nào biến
động, do đó, lôi cuốn bất ngờ, hỏi làm sao gây được hứng thú? Ở đây, không phải
là chuyện cố ý chạy theo thị hiếu, làm cho nhân vật hấp dẫn - cái chính là tự
cách nghĩ của nhà văn về nhân vật. Có phải theo anh, trong mỗi đời người, tất cả
đã được vạch sẵn, mọi việc thông đồng bên giọt theo đúng «kế hoạch » đã định?
Hay cuộc đời trong tác phầm cũng có rất nhiều khả năng, mỗi con người luôn luôn
đồi thay và đòi hỏi được quyết định, quy luật chung luôn luôn hiện ra trong những
dáng vẻ riêng, nhờ thế, mỗi cuộc đời đều sinh động, không lặp lại, mỗi con người
là một thế giới nhiều hình nhiều vẻ, hơn nữa, một thế giới độc đáo, đúng như nó
có trong thực tế?
Qua một ví dụ thô
thiền cuối cùng, cái chính là chúng ta thử đi tới một cách hiều về nhân vật tiều
thuyết. Nếu đây đó, các nhân vật đó còn nhợt nhạt đơn điệu, thì đó không phải
là chuyện thủ pháp, mà cần tính tới một cái gì lớn hơn thuộc về cách hiều nhân
vật, cả nhân vật trong đời lẫn nhân vật văn học. Có phải giữa hai loại nhân vật
đó, quãng cách còn khá lớn? Con người trong sách với cách biều hiện của nó, còn
có phần tĩnh, lặng, gò bó? Mà những con người ngoài đời, được thực tế cuộc chiến
đấu chống Mỹ và sự nghiệp xây dựng chủỉnghĩa xã hội rèn luyện, đã trở nên phong
phú đa dạng hơn hẳn. Tự soi lại mình thì biết: Trong mỗi cá, nhân, có những con
người khác nhau, đấu tranh với nhau, nương tựa vào nhau. Mỗi cá nhân mang trong
mình rất nhiều khả năng, và sẽ bộc lộ thành những tính khác nhau, tùy theo hoàn
cảnh, điều kiện. Nhiều, rất nhiều những sự chuyền hóa, thay đồi, và tất cả là ở
mức độ mạnh mẽ mãnh liệt. Bởi đó là cả một xu thế lịch sử. Chỉ riêng một điều:
Trong những năm qua, mỗi người bình thường chúng ta phải đối phó với những vấn
đề lớn lao nhất của đời sống, đặt ra cho đất nước dân tộc. Trong khi đó, mỗi
người không thôi trở về với những mặt bình thường trong con người mình... Và những
mặt tính cách ấy cùng tồn tại.
Tóm lại, với tất cả
những cung cách riêng, con người Việt Nam chống Mỹ đã đi hết một phía nào đó của
con người nhân loại hôm nay. Đó là một tiền đề tốt cho sự phát triền văn học.
Nhưng việc vận dụng một cách nhìn nhận như thế vào trong công việc viết văn còn
đòi hỏi nhiều thề nghiệm,
Về mặt biểu hiện
con người, trong các thể loại văn học, xưa nay tiều thuyết vốn có nhiều ưu thế
đáng kể. Từ lịch sử hình thành và những thay hình đồi dạng của nó, tiểu
thuyết đã tự chứng tỏ nó đặc biệt có khả năng «co dãn » để thích ứng với với việc
miêu tả một đối tượng uyền chuyền, phức tạp như con người. Trước mặt chúng ta,
nếu có thể nói như vậy, tất cả những con đường đề đi vào những phía sâu xa của
các tính cách, các tâm hồn đều được đề ngỏ, và vai trò của mỗi người viết tiều
thuyết là tìm được con đường độc đáo của mình, trong số những con đường đó.
Trên cơ sở quan niệm đúng đắn và mới mẻ, các thủ pháp sẽ nảy nở lành mạnh. Có
người dùng lối biên niên, chất chồng thật nhiều sự kiện, đưa ra một toàn cảnh rộng
lớn. Có người dùng phép phân tích, đào sâu vào thế giới riêng trong nhân vật. Rất
nhiều sự pha trộn thể loại như tiều thuyết – trữ tình, tiều thuyết -du ký, truyện
sân khấu (mà ở ta đã có người sử dụng) nảy sinh do những yêu cầu cụ thể trong từng
trường hợp. Tác phẩm trở nên chủ quan hơn bao giờ hết cũng có (các nhân vật chỉ
xoay quanh một mẫu người của tác giả chẳng hạn); đồng thời, ở nước ngoài đã thấy
có trường hợp, tiều thuyết được kết cấu bằng cách nhân vật tự thuật một đoạn,
tác giả lại chen lời bình luận của mình một đoạn, vì cho rằng như thế mới bảo đảm
tính khách quan của tác phẩm v.v. và v.v. Tất cả những thủ pháp trên đều là những
thề nghiệm, và tự nó không mang lại giá trị gì cho tác phẩm, điều quan trọng là
người viết sử dụng nó như thế nào. Song, cũng phải ghi nhận, tất cả những cái
đó đều là những cố gắng nhằm làm cho tiều thuyết có thể biểu đạt càng sâu sắc
càng tốt tâm lý con người. Cách nào thì cách, ngày càng thấy có nhiều ý kiến
cho rằng nhà văn không nên tự coi mình là một thứ tạo hóa, biết rõ mọi chuyện,
bày đặt ra nhân vật nọ nhân vật kia như những cái cớ tùy tiện. Ngày càng thấy nồi
lên yêu cầu nhà văn phải đối xử với nhân vật
mình một cách bình đẳng, đề cho nhân vật nói lên tiếng nói của nó, và trong việc
dựng lên nhân vật, cái chính là phải thấy mỗi cá nhân đó gợi mở không cùng về
nhiều phía, tâm tư nhiều tầng nhiều lớp phức tạp, ràng rịt với nhau, điều cuối
cùng về nhân vật đó chưa được nói ra, nên tất cả các phía các mặt đều cần dò
tìm khai thác.
1974
SỰ
SÁNG TẠO TRONG TRUYỆN NGẮN
Cũng
như ở ký, ở tiểu thuyết, sự sáng tạo trong truyện ngắn vốn có khuôn khổ của nó.
Được hình thành từ sáng tác của nhiều người, một số cách viết lâu dần ổn định,
thành những đặc tính thể loại, người ta mặc nhiên công nhận. Ví dụ, truyện ngắn
nên viết về những quãng đời người, còn rất khó bao trùm cả cuộc đời nhận vật.
Ví dụ, truyện phải có cốt truyện, đề người ta dễ tóm tắt. Và, ở nhiều nhà văn
chuyên viết về truyện ngắn như Q. Henry, Môpatxăng, nghệ thuật viết truyện được
coi là đồng nghĩa với nghệ thuật hình thành những cốt truyện sắc nhọn v.v... và
v. v...
Nhưng
quy phạm nào cũng có tính tương đối của nó. Nếu việc tuân theo quy phạm đã
không bảo đảm cho bất cứ một sáng tác nào của những ngòi bút xoàng xĩnh học
đòi, thì việc đi ngược quy phạm lại luôn luôn có sức mời gọi những ngòi bút độc
đáo, Rất nhiều lần, những người này đã sây vầy, bởi những thất bại trong cuộc tấn
công vào quy phạm. Nhưng dần dà họ cũng có những thành công và những trường hợp
ngoại lệ giờ đây đã trở nên nhiều vô kề, một số được chung đúc thành những quy
phạm mới, đề rồi lại mời gọi những đợt công phá mới.
Thí
dụ như vẫn đề truyện «không có chuyện». Trong khi những thí nghiệm của Nguyễn
Công Hoan còn đơn độc, lẻ tẻ, thì một Pauxtốpxki chẳng hạn, đã rất thành công,
gần như tạo thành một môn phái riêng, với những truyện ngắn tự bao phủ trong một
thứ sương mù của những ấn tượng mung lung. Bước đầu được giới thiệu vào Việt
Nam những năm 59-60, lối viết này đã đẻ ra một số truyện, gây được sự chú ý của
nhiều người, tuy cũng nhanh chóng người ta nhận ra rằng thành công ở đây không
phải dễ, trở thành một tác giả trong khu vực này càng không dễ.
Trong
toàn bộ sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan gần như không có truyện nào
viết về cả một đời người, hoặc những ấn tượng bao trùm do cả một cuộc đời tạo
nên. Với Nguyễn Công Hoan, bao giờ truyện ngắn cũng là những mảng đời, những cảnh
đời nho nhỏ. Trong thâm tâm tác giả, hình như ý thức về việc viết các loại truyện
về cả một đời người không thấy đặt ra, chứ đừng nói thửlàm. Mà đâu chỉ riêng
Nguyễn Công Hoan, rất nhiều người khác nghĩ vậy. Nhưng ở Sêkhốp, Lỗ Tấn, Nam
Cao, Thạch Lam và nhiều tác giả khác, loại truyện bao quát cả một đời người vẫn
có và thường hiện ra với nhiều vẻ khác nhau. Là những nhà văn đặc biệt nhạy cảm
với những số phận bé nhỏ vất vưởng, họ hiểu rằng cuộc đời những con người này
nhiều khi chỉ cần một truyện ngắn là đủ. «Truyện ngắn là một thề tài dân chủ,
và một cuộc đời dù nhạt nhẽo đến đâu cũng đủ sức làm đầy một truyện ngắn - -
Sêkhốp đã nghĩ vậy, và đã viết Người trong bạo, Đusétca. Lỗ Tấn có Khồng Ất kỷ
có Chúc Phúc. Và Nam Cao, một phần con người Nam Cao cũng hiện lên qua Ở hiền,
Dì Hảo v.v. Còn ba chữ Một đời người thì được Thạch Lam dùng đề đặt tên cho một
truyện ngắn của mình.
151
Trong
một thiên truyện khác, mang tên Hai lần chết, Thạch Lam dựng lại quãng đời một
nhân vật nữ từ bé đến lúc lớn đi lấy chồng, và tự tử mà không chết. Có cảm tưởng
rằng Ở hiền của Nam Cao cũng như Hai lần chết của Thạch Lam đều được viết rất
thoải mái. Với loại nhân vật như thế, viết từng ấy trang như thế là vừa, &
đây không có chuyện phải cắt xén dồn ép gì cả.
Mới
xét trên hai quy tắc lớn của truyện ngân (truyện phải có chuyện và truyện chỉ cắt
ra một khúc, một đoạn, trong cả cuộc sống), chúng ta đã thấy một sự thực có hai
mặt: cả quy tắc đề ra cũng đúng, mà việc làm ngược quy tắc cũng đúng. Tính trên
số lượng thuần túy, những truyện tuân thủ quy tắc vẫn nhiều hơn, nhưng chính vì
thế mỗi lần được đọc những truyện không tuân theo quy tắc, chúng ta thấy có
chút ý vị riêng. Suy cho cùng, việc đi ngược quy tắc chỉ thành công trong điều
kiện nó xuất phát từ chính yêu cầu của nội dung câu chuyện, khớp với nội dung ấy,
là một bộ phận hợp thành chặt chẽ của nội dung ấy. Nhưng ngoài ra những lần phạm
quy tắc vẫn có cái vẻ hấp dẫn riêng của một trò chơi, và đứng về phía người
sáng tạo mà xét, có lẽ ai cũng không khỏi có những thoáng sung sướng khi đã được
tham dự những trò chơi như thế.
G.
Rođary là một nhà văn Ý, chuyên viết cho thiếu nhi. Trong một số truyện ngắn,
sau khi trình bày các dữ kiện chính, ông thử nêu ra vài kết luận khác nhau có
thể có, rồi tùy bạn đọc lựa chọn». Đấy là về mặt cấu trúc. Trong nghệ thuật kể
chuyện, nhiều truyện ngắn hiện đại còn có lối nhìn sự vật qua nhiều con mắt
khác nhau, rồi đảo lộn không gian, thời gian – ví dụ rõ nhất là trường hợp truyện
của W. Faulkner (Mỹ). Một truyện ngắn như Bông hồng cho Emily thường được coi
là ví dụ dễ hiều nhất và bút pháp Faulkner. Lại nữa là những
sáng
tạo nho nhỏ khác, kiều lấy đồ vật, hoặc các chim muông thú vật, làm nhân vật
chính hoặc viết toàn that từ, toàn nhật ký, toàn những tin đăng trên báo, toàn
đối thoại v.v. và v.v.
Trên
nét lớn, có thể nói truyện ngắn là nơi rất phù hợp đề tiến hành những sáng tạo
loại ấy. Chẳng những thế, truyện ngắn lại cũng đòi hỏi phải được đời mới, đề khỏi
nhàm chán, tẻ nhạt. Dù khác nhau rất xa trong phong cách biều hiện, những người
viết truyện ngắn đều có chung một cảm tưởng là ngòi bút luôn ở trong quá trình
sinh thành, vì mỗi truyện ngắn – cũng như mỗi bài thơ -dẫu sao vẫn là một sinh
thể độc lập, có cuộc đời riêng có sự trọn vẹn riêng. Dù bé nhỏ bao nhiêu, nó
cũng là một đầu việc, một mặt hàng, một đơn vị. Ngay trong phạm vi một tập truyện
ngắn, nếu được thấy giữa truyện nọ với truyện kia, có những đồi mới thì việc đọc
nó sẽ rất thú vị. Cố nhiên, trước đó đã phải giả thiết có một sự nhất trí chung
giữa các truyện, nó là bằng chứng của một ngòi bút có bản lĩnh, có sắc thái
riêng. Ở những « tác giả » loại hai loại ba, chuyên môn đi cóp nhặt, xào xáo lại
văn của người khác, thì những sự lập lòe, đa dạng của các truyện chỉ là một thứ
ánh sáng ma trơi không đáng nói tới. Sự đa dạng ấy vừa tất nhiên, vừa vô bồ.
Sự
đa dạng mà chúng ta nói ở đây khác hẳn: nó là sự sinh sôi nảy nở của một bản
lĩnh thống nhất.
*
**
Tuy
chỉ mới phát triền qua một giai đoạn ngắn ngủi (từ đầu thế kỷ XX đến nay),
nhưng truyện ngắn ở ta -truyện ngắn theo nghĩa hiện đại – đã có sự trưởng thành
đáng kể, trong đó việc hình thành tác giả được đặt lên hàng đầu.
Chẳng
hạn như vào khoảng 40-45, không hẹn mànên, cùng lúc, trong văn học thấy xuất hiện
mấy phong cách truyện ngắn: Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiền, Thanh Tịnh, Kim Lân...
Trước 1940 một mình cây bút Nguyễn Công Hoan đứng đó, đơn độc. Nay cả mấy phong
cách cùng lúc này nở, mỗi người một vẻ riêng, mà chỗ khác nhau đầu tiên của họ
là những vùng quê họ nói tới. Nam Cao và vùng quê riêng của ông, những vườn
mía, những vườn trầu. Bùi Hiền và những xóm chài Nghệ Tĩnh với rất nhiều hủ tục.
Mọi chuyện được Thanh Tịnh kề, đều liên quan đến vùng nông thôn ven Huế, chung
quanh làng Mỹ Lý. Một cốt cách ngoại thành Hà Nội riêng, là mầu sắc rất đậm của
Tô Hoài. Kim Lân lại còn «chuyên canh » hơn nữa: trong cái khu vực hẹp là đất
Kinh Bắc cũ, ông nói khá kỹ tới chuyện thả chim, chọi gà. Đối với sự hình thành
một tác giả truyện ngắn những vùng quê này không chỉ là một thứ giới hạn về địa
lý, mà còn giới hạn về những nguyên có xúc động và cách xúc động của một nhà
văn, về những mẫu người, những suy nghĩ, và điều suy nghĩ thường trực nhất là ý
nghĩa của mỗi kiếp người trong cuộc đời này. Đấy cũng là những yếu tố tạo nên sự
khác nhau thực sự giữa người viết này với người viết khác.
Đặt
bên cạnh Nguyễn Công Hoan, những tác giả nói trên viết không nhiều bằng. Ở họ,
cũng không thấy có sự hóm nghịch thường trực như ở Nguyễn Công Hoan, đặc biệt
là những hóm nghịch trong cách dựng truyện. Nhưng vì nhiều lẽ khác nhau mỗi người
vẫn hiện ra như một tác giả truyện ngắn.
Lấy
một ví dụ: Trường hợp Nam Cao. Cho đến nay, trong số những truyện ngắn của tác
giả Chí Phèo mà các nhà nghiên cứu sưu tầm được không thấy có truyện nào có lối
viết cho có vẻ khác đi một chút. Lúc nào cũng
vậy,
những rang viết xít vào nhau, những mảng văn đầy, đậm, là dấu hiệu của sự phân
tích của tác giả về trường hợp được ông nói tới: hoặc tình thế của một ông giáo
nghèo, một ông nhà văn thất nghiệp, hoặc cuộc đời kỳ cục của một người cùng đỉnh,
cảnh ngộ oái oăm của một cụ già hay một đứa trẻ. Cái mà ta nhận ra Nam Cao đầu
tiên là một hơi văn riết róng, mỗi câu nói như đứt từng miếng thịt, nói từng
câu nhát một, nhưng câu nọ cứ dính vào câu kia, như một cơn đay nghiến. Với một
cặp kính thấu đáo. Nam Cao phân tích từng khía cạnh tâm lý nhỏ nhất diễn biến
trong nhân vật. Và ta có cảm tưởng cần viết nữa, Nam Cao còn tìm thấy cái đề viết,
và còn có sức lôi cuốn người đọc.
Trường
hợp Nam Cao là một ví dụ về phong cách truyện ngắn độc đáo, có giọng riêng của
mình, và quan trọng hơn, những nhân vật riêng của mình. Từ các trang viết của
Nam Cao, Chí Phèo khật khưỡng đi vào văn học, tiếng cười của Bá Kiến nghe lạnh
bên tai; những Điền, Thứ cả nghĩ và hay làm liều, đề rồi hối hận; những Nhu (Ở
hiền), Dì Hảo... không nói gì nhiều, nhưng cuộc đời cứ là những thoáng bùi ngùi
không dứt ra nồi... Có tác giả truyện ngắn nào ở ta có được nhiều nhân vật đáng
nhớ như thế! Có cảm tưởng rằng, tuy chỉ dùng đến rất ít giấy mực, nhưng truyện
ngắn Nam Cao đạt tới hiệu quả mà đôi khi tiểu thuyết cũng phải ghen tị. Đọc liền
một lúc các truyện ngắn ấy chúng ta như lạc vào một xã hội đông đúc đậm đặc những
cái mặt người dị dạng. Đời sống trong truyện ngắn Nam Cao đúng là được nhìn qua
một cặp kính mầu tối, nhiều chỗ tối sầm sầm, có người đã kêu rằng ở đây sao mọi
chuyện gắt quá, chua cay quá, mà thiếu hẳn cái ngọt ngào và do đó, không phản
ánh được cuộc sống toàn diện. Nhưng với một tác giả truyện ngắn, làm được như
Nam Cao cũng đã là khá nhiều rồi, thông thường không mấy khi người ta đòi hỏi
nhiều đến thế.
Trong
ở chuột và một số truyện ngắn như Nhà nghèo, Lụa, Ông trăng không biết nói của
Tô Hoài, phần còn lại là phần không khí xã hội, những nghịch cảnh, và một cảm
giác rằng tất cả đều đang đi dần tới chỗ lụi tàn, tan nát.
Nhiều
truyện ngắn Thạch Lam giống như những phác thảo tâm lý, một «cảnh tượng nho nhỏ
giúp cho người ta hình dung một trạng thái tâm lý (trừ một vài trường hợp như
Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén, nhân vật được phác họa qua một số nét đáng nhớ).
Nguyễn
Tuân trong Vang bóng một thời cũng rất rõ cốt cách nhưng nhân vật lại nghiêng về
chất tạo hình hơn là ý nghĩa xã hội.
Mà
đây đều là những tác giả đã thành hình trong văn học Việt Nam trước Cách mạng,
Nhìn
vào truyện ngắn sau 1945, ta thấy ở các tác giả như Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên,
Vũ Thị Thường, Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Quang Sáng, Hồ Phương, Đỗ Chu... (1) đều
có sự phát triền đa dạng, truyện này đậm về nhân vật, truyện kia ăn ở không
khí, giọng điệu, Và nhìn rộng ra ở các nước khác cũng vậy, truyện ngắn cho phép
các tác giả của nó tồn tại ở nhiều cung bậc. Nếu có được các nhân vật sắc nét
thì càng hay. Nhưng nhiều khi, chỉ cần một chút gì đó thật đậm, đủ sức gây ám ảnh
và gợi ra cách hiều đời riêng của tác giả là đủ, ngoài ra là cách dựng truyện,
cách lên » tác phầm, cách viết cho gọn, chặt. Đơn vị tạo nên sự thống nhất ở
đây là bản thân tác giả, là khả năng luôn luôn chụp được những cảnh đời gọn ghẽ
xếp vừa một truyện, truyện ấy dù lui tới thế nào, vẫn mang dấu
(1)
Các tác giả này mỗi người đều có một tập truyện ngắn tiêu biều in lại ở NXB Văn
học.
ấn
rất rõ của người đã viết ra nó. Trong sự miên man của cuộc đời, người viết như
biết mang lại cho ta những trạm nghỉ đều đặn, ở đó ta đủ sức tiếp nhận ý niệm
chung về toàn bộ chuyến đi đề rồi sau đó, sẽ cùng với anh ta tiếp tục đi nữa.
Cái
chất riêng của ngòi bút, điều ấy vốn là đòi hỏi chung cho mọi thề tài, đến truyện
ngắn càng trở nên một đòi hỏi bắt buộc.
Con
đường đề một nhà văn đạt tới thế giới truyện ngắn riêng của mình, đôi khi là rất
giản dị, nhưng thông thường, rất quanh co phức tạp. Tôi nghĩ đến trường hợp
Nguyễn Tuân. Khi nói đến một ngòi bút độc đáo, người ta nghĩ ngay đến Vang bóng
một thời, ở đó có từ những nhân vật riêng, những khung cảnh riêng, đến những chữ
riêng chỉ tác giả mới sai khiến được. Nguyễn Tuân thành thục trong bút pháp của
mình đến mức ta tưởng bắt đầu cầm bút, ông đã có lối viết như vậy, ông sinh ra
đề làm một Nguyễn Tuân kỹ lưỡng, tỉ mỉ, kênh kiệu. Nhưng chúng ta lầm. Theo nhà
nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, trước khi viết Vang bóng một thời Nguyễn Tuân vốn
đã thề nghiệm đủ thứ bút pháp kề cả lối viết dựng lại những mảng đời thực với
giọng văn hài hước, như kiều truyện ngắn Nguyễn Công Hoan. Nam Cao trước khi viết
những truyện ngắn cay đắng chua chát của mình, từng là tác giả của nhiều bài
thơ trữ tình cuối mùa. Trong cuộc đời của nhiều nhà văn nổi tiếng xưa nay, vẫn
có những hành trang sau phải bỏ đi, nhưng bước đường phiêu bạt lạc lõng rồi, tới
một lúc nào đó, mới tìm thấy được cái phần đích thực mà mình vốn có và phải có.
***
Đi
từ những sáng tạo lẻ tẻ trong từng truyện ngăn cụ thề tới sự sáng tạo toàn diện
của một tác giả, chúng ta đã
thấy
một bước leo thang đáng kể. Tuy vậy lịch sử truyện ngắn còn biết tới những sáng
tạo cao hơn một nấc nữa. Trong một số trường hợp, sự sáng tạo này được đầy tới
mức sánh ngang mọi sáng tạo xuất sắc trong văn xuôi nói chung, kề cả trong tiểu
thuyết.
Đó
là trường hợp của những tác giả thật lớn, mà Sẽkhốp là một ví dụ.
Đâu
là chỗ cống hiến của Sêkhốp đối với truyện ngắn?
Trước
tiên là về số lượng. Ít ai viết nhiều như ông." Toàn bộ 30 tập Sêkhốp mới
xuất bản gần đây, 12 tập giành cho thư, 18 tập giành cho sáng tác trong đó truyện
ngắn chiếm phần chủ yếu. Ngoài ra chỉ có một vài bút ký và mấy vở kịch. Vốn
không bao giờ coi mình là một thiên tài, ở Sêkhốp không có cái lối quan trọng
hóanghè nghiệp. Ở đâu, và bất cứ lúc nào, về bất cứ việc gì, ông đều viết được.
Ông bảo: «Dường như tôi có thể viết mọi điều anh muốn. Giả sử anh bảo tôi viết
về cái chai này. Thế là sẽ có truyện ngắn nhan đề Cái chai». Có lần sau khi dự
một tiệc cưới, Sêkhốp cùng bạn bè kéo vào một quán ăn bình dân. Họ gọi mấy cốc
nước trà. Nhưng ở những lát chanh đặt bên cạnh cốc trà lát nào cũng thấy bốc ra
mùi hành. Điều gì đã xảy ra trong tâm tríSêkhốp, không ai rõ, chỉ biết, ông vui
vẻ bảo:
-
Tuyệt. Thế mà các cậu còn than thở là thiếu đề tài. đề viết. Đây không đáng là
đề tài sao? Chỉ thế này thôi, cũng đã đủ viết một truyện ngắn.
Dân
chủ hóa truyện ngắn, mang lại cho thề tài này khả năng vào sâu đời sống, thông
cảm được với mọi kiếp người xã hội, đóng góp về số lượng của Sêkhốp thật ra có
ý nghĩa như thế. Một nhà phê bình Nga cho rằng tất cả nước Nga đều được Sêkhốp
đề mất tới «phố xá mà chúng ta đi, những căn nhà trong phố, những người mà
chúng ta gặp trên đường và chính ta, chính bạn đọc nữa »,
Qua
các tác phầm Sêkhốp, ta biết khá tỉ mỉ cuộc sống nước Nga lúc đó.
Trong
diện chú ý của Sêkhốp người ta thấy từ lão quản Prisubêép (Nguyễn Tuân dịch
thoát là quản Bi) mấy người đánh xe ngựa, chú bé Vanca, đến những nhân vật kỳ cục
như người tu sĩ vận đồ đen, hoặc người trong bao », thầy giáo Bêlicốp. Nhưng
thành công nhất ở Sêkhốp phải kề là những nhân vật có đời sống tâm lý phức tạp,
những người chán cuộc sống này lắm rồi, nhưng không đủ sức thay đồi nó, không
tin có thể thay đổi nó. Không biết bao nhiêu lần, Sêkhốp đã mang vào tác phầm của
mình những nhân vật vừa khao khát vừa chán chường này, và mỗi lần lại cho nó một
sắc thái riêng, đến mức có thể nói loại tâm lý này mới là nhân vật chính ở Sékhốp.
Cũng như những Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài... trên kia đã nói, truyện ngắn
của Sêkhốp không chỉ cho thấy cả một thế giới với từng con người cụ thề trong
đó, mà còn là một cách hiều về cuộc đời này nói chung, một sắc thái về đời sống
mà chỉ với tác giả mới trở nên rõ rệt. Đối với tiều thuyết theo quan điềm thông
thường, điều đó hình như không được, nhưng trong truyện ngắn, nó lại được chấp
nhận. Gorki đã diễn tả rất tinh tế cái màu sắc riêng ở các truyện ngắn Sêkhốp.
Ông bảo đọc Sêkhốp người ta cảm thấy như vào một ngày cuối thu buồn bã, khi
không khí trong suốt như pha lê in đậm nét những thân cây trụi lá, những ngôi
nhà chật chội, những con người tẻ ngắt... Trí tuệ của tác giả như ánh nắng thu
soi rọi một cách sáng tỏ đến tàn nhẫn vào những dải đường thiên lý mòn nhẫn, những
con đường làng cong queo, những ngôi nhà chật chội bần thìu...»
Sở
dĩ chúng ta nói kỹ về Sêkhốp vì có lẽ không nhiều người chuyên tâm tới truyện
ngắn đến thế, cũng không mấy ai giải phóng cho truyện ngắn triệt đề đến thế. Đời
sống
vào trong tác phầm vừa vẫn là chính nó, vừa đã nhuốm một thứ ánh sáng riêng đến
mức không giống ở bất cứ ai khác. Đấy là hai mặt cùng lúc cảm thấy ở mọi sáng
tác thiên tài.
Đứng
về mặt nghề nghiệp người ta đã sớm nhận xét Sêkhốp đi từ loại truyện ngắn có cốt
truyện sắc nhọn đến loại truyện ngắn không cần đến mọi loại tình tiết gay cấn.
Sự mệt mỏi của tâm lý nhân vật về sau chuyền cả vào thành sự mệt mỏi của câu
chuyện, thành nỗi buồn trước một cái gì đáng lẽ phát triển mà không được phát
triền. Cốt truyện trong Sêkhốp, thời gian về sau là một cái gì đáng xảy ra, có
thề sắp xảy ra, rồi lại không xây ra. Bởi vậy, về một phương diện nào đó mà
xét, phải thấy Sẽ khốp thực đã thoát khỏi mọi thứ quan hệ thất nút cởi nút
thông thường. Ở những tác phầm về sau của ông, cách vào truyện – ra truyện rất
tự nhiên, y như một người đang đi giữa phố thấy bất cứ ai cũng có thề nói ít lời
về người đó, đến lúc phải chia tay thì chia tay, tuy không tuyên bố nhưng bao
giờ cũng ngầm có ý bảo rằng cuộc đời của mỗi người vừa sinh động, vừa tẻ nhạt,
vừa bao nhiêu là chuyện, lại giống nhau vô hạn, ai cũng thế thôi, mỗi người sẽ
tự lẫn đi giữa dòng người bao la. Một nhà văn từng bảo mỗi truyện ngắn là một đỉnh
núi, lên tới đó, ta không chỉ cảm thấy cái cao vợi của núi, mà còn thấy cả đồng
bằng bát ngát ở dưới. Truyện ngắn Sêkhốp có được cái đột ngột đó là của một cuộc
gặp gỡ -nếu không thì làm sao mỗi chúng ta còn cảm thấy điều gì đó cần phải đọc;
tuy nhiên, từng giây phút đột ngột đó không đánh tan cảm giác về sự nhạt nhẽo vốn
cũng vô tận của cuộc đời. Nói rằng triết lý trên đây của Sêkhốp tim thấy ở truyện
ngắn một nơi thề nghiệm đắc địa cũng được, mà nói rằng chỉ trong truyện ngắn,
cái triết lý trên của Sê-khốp mới hiện ra đầy đủ cũng được. Ở đây, hình thức và
nội
dung đã hoàn toàn xuyên thấm nhau, tan biến vào nhau Sẽkhốp hoàn toàn tự do
trong cái thể tài mà ông sử dụng.
Như
một nhà văn Anh là S. Maugham (Môôm) đã nhấn mạnh, không nên coi truyện ngắn
Sêkhốp là tất cả. Chỉ nên nói, với những đặc điểm trên, Sêkhốp là một cực phát
triển của thề tài này, trong khi Môpátxăng, O Hen-ry... là những cực khác. Tuy
nhiên, trong văn học, phải nói, chỉ những thiên tài mới có được những đồng góp
cỡ đó. Từ sau Sẽ chốp, nhiều nhà văn nói rằng họ không thề viết như trước đó vẫn
viết.
Bài
học rút ra qua trường hợp Sêkhốp: giống như chính cuộc đời này, mọi thề tài đều
có khả năng biến hóa vô tận. Một khi đã có được cách nhìn nhận mới mẻ về đời sống,
nếu nhà văn ở đây là người viết truyện ngắn còn tìm được hình thức thề tài
thích hợp, và đầy được những thề nghiệm của mình chín đầy tới mức trở thành những
hình thức ổn định, bình thản, thì sức sáng tạo nảy nở không biết đâu là cùng,
và sự đóng góp của nhà văn trong hình thức thể loại, cũng sẽ là không gì thay
thế nồi.
***
Sự
sáng tạo trong truyện ngắn thật không cùng. Nhưng sự sáng tạo trong truyện ngắn
lại bắt đầu từ những công việc bé nhỏ, tưởng như lặt vặt. Bởi vậy, niềm vui
sáng tạo – một niềm vui tưởng như không gì so sánh nồi có thể đến với chúng ta
hàng ngày. Nếu hiều dũng cảm là khả năng biết suy nghĩ tính toán đề vận dụng sức
lực của mình, làm việc một cách tốt nhất, thì trong cả đời văn lẫn trong lao động
cụ thể trên từng trang truyện, người ta đều cần dũng cảm. Đấy là điều sau hết cần
nhấn mạnh.
1983
MỘT
ÍT GHI NHẬN CHUNG QUANH SỰ ĐỒI MỚI GIỌNG ĐIỆU TRONG VĂN XUÔI
1.
Theo
dõi vở kịch Nhà tư sản quý tộc (mà trước kia quen gọi là Trưởng giả học làm
sang) của Môlie, không ai bảo ai, hầu như tất cả chúng ta đều bật cười khi nghe
ông Giuốc đanh phát hiện «Õ, thế ra hơn bốn mươi năm nay, tôi nói văn xuôi mà
tôi chẳng hay biết gì cả ».
Tuy
nhiên, trong cái phút ơrica này của nhà tư sản, không phải không có một chút hạt
nhân hợp lý. Đó là văn xuôi vốn rất gần đời sống hằng ngày. Văn xuôi có khả năng
biều hiện những sắc thái khác nhau nhất của hiện thực. Do đó ở cả tiều thuyết,
ký lẫn văn chính luận, khả năng biến hóa của văn xuôi là vô cùng đa dạng, bản
thân chúng ta chưa ngờ hết và do đó chưa sử dụng hết. Lấy ra từ những tác phầm
mới xuất bản khoảng 1975-1980, những ví dụ mà chúng tôi sẽ nêu trong bài mới là
những thể nghiệm nho nhỏ, có khi chỉ là những thề nghiệm tự phát, nhưng đã rất
nên đề ý nếu chúng ta cùng lưu tâm tới việc xây dựng một nền văn xuôi hiện đại.
-
Ký sự miền đất lửa là một tác phẩm viết về cuộc chiến đấu ở Vĩnh Linh đọc khá cảm
động.
Kề
chuyên chiến đấu và phác họa lại một số gương mặt bình di của Vĩnh Linh anh
hùng, đấy là một việc không mấy mới mẻ. Chọn cách nào đây? Các tác giả cuốn
sách chọn một con đường ngắn nhất là lấy ngay những chuyện mình đã sống đã chứng
kiến ra đề kề. Nhưng theo tôi, cái phần độc đáo đáng nói nhất của Ký sự miên đất
lửa ở chỗ này : cách dẫn truyện. Trong phạm vi 234 trang khô to (*), cả tác phầm
được chia làm bảy phần, bốn chục chương nhỏ. Và bốn mươi chương đó được viết từ
những góc độ khác nhau.
Có
chương là lời kề của từng tác giả, Vũ Kỳ Lân Nguyễn Sinh.
Có
chương là những đoạn nhật ký mà mỗi tác giả đó từng viết những năm 1965, 1967
(riêng phần của Nguyễn Sinh Trích số tay phóng viên).
Có
chương là lời kề hoặc nhật ký của những người khác, ví dụ chương 25 là nhật ký
của tiều đoàn trưởng Hoàng Công Thành; các chương 24, 26, 30, 31 là lời kề của
đồng chí Nguyễn Văn Hội, riêng chương 32 lại là lời kề của đồng chí Nguyễn Huy.
Những
lời kề, đoạn nhật ký... ấy từng cái đứng thành mảnh riêng, giữa cái nọ với cái
kia không cần có những vết hàn lộ liễu vẫn gắn bó với nhau góp phần tạo nên một
tác phầm hoàn chỉnh. Đó là một ví dụ về sự áp dụng thủ pháp môngtagiơ của điện ảnh
sang văn xuôi.
Nói
riêng về việc tạo ra những mảng độc lập.
Đã
gọi là viết văn, việc lấy tài liệu của người khác đề làm giàu thêm cho kinh
nghiệm của mình, kề cũng là chuyện thường tình. Nhưng lối đề tài liệu «mộc » rồi
đưa thẳng vào sách như thế này ít ra là đề độc giả có cảm tưởng tài liệu được đề
« mộc» và được đưa thẳng
(*)
Bản in lần thứ nhất, 1978
vào
tác phầm - có những chỗ rất hay. Về mặt giọng điệu, nó tạo ra ấn tượng trong
tác phẩm tồn tại những giọng khác nhau, cài chen vào nhau. Người đọc được thưởng
thức một bài hát có nhiều bè. Hiệu quả có phần thú vị hơn, và chắc chắn là khác
so với loại bài hát chỉ do một giọng thực hiện, dù riêng giọng đó đã rất điều
luyện.
Sau
đây là một ví dụ khác, rõ rệt hơn: Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải.
Nguyên
cuốn ký sự được hình thành sau những ngày tác giả, với tư cách một nhà báo, có
dịp tham dự chiến dịch lịch sử xuân 1975. Bất cứ ai ở hoàn cảnh này cũng dễ
lúng túng. Mặc dù biết rất nhiều, mỗi người thường vẫn chỉ biết từng mảng, các
mảng ấy không thật thuần nhất. Đề cho tiện, tác giả liền dùng lối «biết đâu kể
đấy». Chương I chép chuyện tác giả «xuất hành » và đi từ Hà Nội vào Huế. Chương
II thuật lại những chuyện bàn cãi giữa mấy nhân vật tư sản trí thức ở Huế, thực
tế cũng là một cách giải thích tại sao ta thắng địch thua. Chỉ từ chương III trở
đi, tác giả mới đi vào chuyện chính là những giờ phút của tháng ba lịch sử ở mảnh
đất Tây Nguyên. Nếu ở chương I, chương II và chương cuối, chương VI, ngòi bút của
tác giả là ngòi bút chính luận, thì ở hai chương chính này (chương III, chương
IV), tác giả chỉ lo một việc là thuật lại lời kề của nhiều người khác, từ đồng
chí tư lệnh phó mặt trận, đến người lính; lời kề mạch lạc, gọn ghẽ. Rút cục lại,
với Tháng Ba ở Tây Nguyên, ta có cảm tưởng như được đọc hai tác phẩm khác hần
nhau, nhưng cả hai lại bồi bồ cho nhau đề làm nỗi bật cái tư tưởng chính mà tác
giả muốn nói với người đọc.
Ở
Ký sự miền đất lửa, trước những sự kiện quan trọng của Vĩnh Linh, bên cạnh lời
kề của nhân vật chính, còn
có
những đoạn làm nền, đó là vắn tắt một số tài liệu rút ra ở các bản tin tham khảo,
kè lại khi thì một cuộc họp báo ở Nhà Trắng, khi thì một lời tuyên bố của người
phát ngôn Bộ tư lệnh Mỹ ở sân bay Tân Sơn Nhất. Trong Tháng ba ở Tây Nguyên,
tài liệu càng nhiều, bao gồm đủ loại như đệ trình của các tướng nguy Phạm Văn
Phú, Phạm Duy Tát... gửi cấp trên, công điện của Nguyễn Văn Thiệu gửi cấp dưới
v. v... Bảo rằng đó là bóng dáng của một thứ văn xuôi tư liệu thì cũng được.
Nhưng nói hẹp hơn, và có phần chắc hơn đó là cái cách làm cho văn xuôi kề chuyện
đỡ đơn điệu, nhất là khi thứ văn kề chuyện này không được một cốt truyện hoàn
chỉnh hỗ trợ.
**
Khi
tìm được hình thức hợp cũng là lúc nội dung một tác phẩm được tổ chức xong,
đúng như nó cần phải có.
Bởi
vậy, những đồi mới trong hình thức một tác phầm thường vẫn khởi đầu từ những đồi
mới trong nội dung mà riêng tác phẩm đó đòi hỏi.
Nhưng
việc tạo ra những hình thức kề chuyện khác đi như vậy còn chứng tỏ văn xuôi vốn
có một tiềm năng đáng kề. Nếu chịu khó khai thác triệt để, chúng ta có thể mang
lại cho nó những đồi mới hữu ích.
Xin
được nhắc qua một khía cạnh thuộc về lịch sử.
Trong
ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, ngay từ nghĩa gốc của nó, chữ văn xuôi vốn đã có
nghĩa đơn giản bình thường (trong khi thơ sớm được hiều như một hành động sáng
tạo thiêng liêng, cao cả).
Thoạt
đầu văn xuôi, còn lẫn với các thề khác không phải văn học (như triết học, lịch
sử...). Trong văn học dân gian, nó tồn tại dưới dạng những truyện kẻ không có
hình thức cố định. Chỉ dần dần, văn xuôi mới trở nên hoàn chỉnh và có cốt cách
như hiện nay. Nhưng bấy giờ, những chỗ yếu hôm qua của nó lại biến thành chỗ mạnh.
Nó trở nên mềm dẻo, linh hoạt. Nó có thể nói về những khu vực khác nhau nhất của
đời sống bằng một thứ ngôn ngữ gần với đối tượng đó nhất. Vả chăng, bản thân
ngôn ngữ trong văn xuôi không chỉ là phương tiện miêu tả, mà còn là đối tượng
miêu tả. Người ta phải lo truyền đạt cho được ngôn ngữ đời sống khi đưa nó vào
trang sách. Bởi vậy, trong văn xuôi, tiếng nói thường hiện ra đa thanh, có tiếng
nói của tác giả, lại có tiếng nói của các đối tượng được nói tới. Những tiếng
nói ấy cùng cất lên đua tranh với nhau rồi lại hòa vào nhau, tôn nhau lên. Với
những tác phầm đi hết khả năng văn xuôi vốn có, người ta như được chứng kiến một
cảnh diễn tưng bừng, ở đó mọi sắc thái vừa tự phân biệt, vừa hòa hợp với nhau.
Đọc
các tác phẩm văn học nước ngoài hiện nay, chúng ta thấy đặc điểm này của văn
xuôi được khai thác rất triệt để.
Một
mặt, người ta tìm cách làm cho giọng nói của tác giả tách ra, không lẫn với giọng
nói của nhân vật. Có phải bao giờ nhà văn cũng hiều đúng những anh A, chị B được
kẻ trong tác phần hay không? Trước câu hỏi này, một số nhà văn trả lời: chưa chắc.
Bởi vậy, trong khi tìm cách đi rất gần nhân vật, nhà văn vẫn vạch rõ ranh giới
giữa mình với những anh A, chị B đó. Thậm chí đã
thấy
có những cuốn sách sau một đoạn nhân vật nói, lại có một đoạn bình luận của tác
giả, đại ý nhắc nhở người đọc là nên hiều như thế này, như thế kia mới đúng.
Mặt
khác, giữa các nhân vật không phải bao giờ cũng có sự hiểu biết chính xác về
nhau, nhận thức mọi văn đề giống nhau. Bấy giờ, cách tốt nhất là làm cho từng
người trong họ có dịp nói ý kiến riêng của mình. Lấy vi dụ ở một số tác phẩm mới
dịch sang tiếng Việt. Như trường hợp Ngược dòng (Nhà xuất bản Tác phẩm mới,
1979): trong lời giới thiệu của người dịch ở đầu cuốn sách, chúng ta thấy nói tới
thủ pháp mỗi sự kiện lại được trình bày qua sự tiếp nhận không phải chỉ của một
người mà của nhiều tính cách rất khác nhau. Hoặc trong Hai mươi giờ (Nhà xuất bản
Tác Phẩm Mới, 1978): Xâu chuỗi lại một sự kiện xảy ra trong quá khứ, tác giả
dùng lối dàn cốt truyện ra thành hai mươi mầu ghi chép, mỗi mầu là một cuộc gặp
gỡ. Mục đích lối dàn truyện này nhằm làm cho tất cả các nhân vật « nói một cách
khác nhau, từ nhiều góc độ, về cùng một chuyện» (Xem Phụ lục tham khảo ở cuối
sách).
Tóm
lại, ở ký cũng như một loại hình văn xuôi đã có cốt truyện như tiều thuyết, việc
tạo ra sự đa dạng trong lời văn kề chuyện vẫn được các nhà văn nước ngoài hết sức
lưu ý.
Đầy
lên một chút nữa, câu chuyện đang nói còn động chạm đến những vấn đề phức tạp
như thời gian trong văn học, thời gian hiện tại và thời gian quá khứ; tiếng nói
bên trong và tiếng nói bên ngoài của con người; dòng ý thức v.v.... Tất cả nghe
đều có phần xa lạ với chúng ta, song thực ra, đều là những vấn đề mà mỗi người
cầm bút từng có lúc phải đối mặt.
Trong
các tác giả văn xuôi của ta hiện nay, có một người kiên trì tìm tòi theo hướng
này, đó là Nguyễn Thành Long, Toàn truyện Con trai con gái Cụ Hì của anh (in
trong tập Giữa trong xanh) được viết theo lối các đoạn độc thoại nội tâm của
hai nhân vật chính đặt nối tiếp nhau, xen kẽ vào nhau. Do chỗ hai nhân vật
chính ấy một chiến sĩ giải phóng và một cô gái cơ sở – trong hoàn cảnh bị kìm kẹp,
đối mặt mà không được nói với nhau một lời, nên lối dùng độc thoại nội tâm là
có lý. Nôi chung, trong văn Nguyễn Thành Long, những đoạn nhân vật vừa nói với
mình, vừa nói với người khác, rồi những ảnh hưởng bên ngoài đứt nối giữa dòng độc
thoại nội tâm dày đặc,... không phải là hiếm, bạn đọc hơi khó theo dõi, nhưng
khi hiều ra, thấy có thể chấp nhận được.
**
Những
người có dịp theo dõi sân khấu mấy năm gần đây đều biết giới đạo diễn ở ta đang
có những nỗ lực đáng kề để mở rộng không gian sân khấu. Giữa lúc các nhân vật
đang trò chuyện bỗng đèn tắt, chỉ có một luồng ánh sáng dọi vào nhân vật nào
đó, và nhân vật này lên tiếng tự nói một mình – việc ấy đã quá quen. Gần đây
hơn là một số cách làm khác: ở vở này, ánh sáng và tiếng động được huy động phối
hợp, đề diễn tả một trận đánh; không gian sân khấu không chỉ thu hẹp vào mấy thước
vuông của sàn gỗ mà được mở ra rất rộng, thậm chí có nhiều lớp khác nhau, lớp
xa lớp gần cùng tồn tại cạnh nhau. Ở vở diễn kia, một đạo cụ được khai thác. thế
nào đó đề có ý nghĩa tượng trưng, cùng một miếng gỗ lúc có thể hiều là cái ghế,
lúc có thể hiều là cái thuyền, như trong chèo cò... Rồi lối thay đồi phông
màn
ngay trước mặt khán giả, nhằm đánh tan mọi thứ ảo tưởng rằng đây là chuyện giống
như cuộc đời », mà công khai tự nhận đây là sân khấu diễn tả cuộc đời » v.v...
và v.v... Tính ước lệ của sân khấu là điều được mọi người chấp nhận «Không gian
ước lệ ấy mở ra cho người nghệ sĩ một khoảng rộng sáng tạo mới » (Trần Bảng).
Tuy
không rõ rệt bằng, nhưng trong văn xuôi ta, cũng đang có xu hướng tương tự. Những
đồi mới trong cách dẫn truyện, cách trình bày đối thoại đã thấy hé ra thấp
thoáng ở một ít trang viết của Tô Hoài, Nguyễn Kiên và nhiều người khác... Ngay
ở một số tác giả tương đối trẻ hơn, người ta cũng có thề nhận ra những cục cựa»
nho nhỏ. Mở đầu và kết thúc Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy dùng lõi in
nghiêng kể lại chuyện một trung đội trưởng thích viết nhật ký khiến người đọc
có cảm tưởng cuốn sách của anh hình như nối tiếp ngay cuốn nhật ký đó, đúng hơn
nó là cái bóng phóng to của cuốn nhật ký đó. Trước khi thuật chuyện chính, Nguyễn
Tri Huân trong Năm 1975 họ đã sống như thể tìm cách chép ra mấy đoạn nhật ký của
một sĩ quan ngụy, ngụ ý của anh là tạo ra một bằng cứ đề người đọc so sánh, kết
quả là dù chỉ chiếm có hơn chục trang, nhưng đoạn nhật ký này vẫn lởn vởn trong
tâm trí người đọc khi đọc sách. Nó như một thứ giọng khác và làm nền đề cho ta
nghe rõ hơn giọng chính của tác phẩm.
Văn
phê bình cũng là một thứ văn xuôi. Đến nay, theo như cách viết của chúng ta, nó
mới hiện ra như một thứ độc thoại của người viết. Chúng ta đã quen với lối viết
này đến mức coi đó là bộ mặt duy nhất của văn phê bình. Nhưng không phải vậy.
Có lần, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh bảo với tôi: Anh ao ước một dịp nào đó viết
được những trang phê bình gồm hai mạch rõ
rệt,
một là mạch tư liệu, thật xác thực rõ ràng, như trong toán học; một là mạch suy
nghĩ của bản thân người viết, phóng túng, tự do như trong thơ; cả hai mạch đó
song song tồn tại cạnh nhau, nương tựa vào nhau mà hợp âm của chúng, mới tạo
nên hiệu quả chung. Tuy Nguyễn Đăng Mạnh chưa làm, nhưng những suy nghĩ của anh
thật có cơ sở xác đáng. Biết đâu nó chả là một cách làm giàu thêm cho phê bình,
giúp phê bình đỡ tẻ nhạt.
Khi
tôi nói những nhận xét này với một vài anh em viết văn, những người có thiện
chí đều bảo: đi tìm cách viết như vậy không khó, làm sao cho hay khó hơn. Đồng
ý, tôi không hề nghĩ cứ bày đặt ra tự khắc có văn hay.
Vấn
đề là phải tu dưỡng rèn luyện như chúng ta vẫn nói-Nhưng có lẽ, cũng nên thống
nhất lấy một điềm: dẫu sao những thề nghiệm này vẫn rất cần, không nên lảng
tránh. Chẳng phải chính thực tế sáng tác trong những năm qua đã chỉ rõ, có lúc,
phải thứ văn xuôi phong phú về giọng điệu này mới chở hết nội dung tác phầm đề
cập tới, và như vậy, mọi tìm tòi rất cần được khuyến khích.
1980