22.8.26

BƯỚC ĐẦU ĐẾN VỚI VĂN HỌC

 

ĐẦU SÚNG TRĂNG TREO

MỘT MẠCH THƠ KHÁNG CHIẾN

ĐƯỢC TIẾP TỤC

 

Nếu không kể đến bài Ngày về mà tác giả ít khi chọn in lại thì, đối với đa số bạn đọc chúng ta, Chính Hữu trở thành một cái tên đáng nhớ là từ bài Đồng chí:

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.

- Bài thơ nói một thứ tình cảm mới, tình đồng đội của những người lính hiện nay. Người ta kề ra những vất vả gian nan, đã cùng chia xẻ; đ thấy thêm gần gũi với nhau. Và hình ảnh những người lính do đó chỉ càng thêm đẹp. Mỗi câu thơ ở đây đều rất mực gọn gàng chặt chẽ: Miệng cười buốt giá, Rừng hoang sương muối. Nhưng cô đọng nhất, hàm xúc nhất vẫn là cái câu cuối cùng: Đầu súng trăng treo. Chỉ có bốn tiếng thôi mà thấy vẽ lên cả một hình ảnh, vừa có ý nghĩa, vừa mỹ lệ. Nhờ đó tình cảm đồng chí đồng đội càng thêm ấm áp. Rất ấm áp, trăng treo đầu súng mà vẫn chẳng thấy lạnh lẽo chút nào.

Giữa nhiều bài thơ khác, những bài thơ làm trong kháng chiến, Chính Hữu chỉ chọn lấy một ít bài tiêu biều. Anh cố gắng tránh những cái gì ấu trĩ nằm trong phần ấu trĩ chung của thơ ca lúc ấy. Tháng 5 ra trận, lối thơ bầy chữ hiền hậu; những câu Mùa thu thây giặc chất sông núi - Mùa hạ thây giặc phơi đầy đồng, tất cả hơi hướng những năm 48, 49 tưởng vẫn còn nguyên.

Mái buồn nghe sấu rụng, cái đêm Hà Nội 1950 ấy đã được dựng lại, có không khí mà lại rất tạo hình. Càng về sau này, cái nhìn của anh về kháng chiến càng sâu sắc hơn, người và cảnh vào thơ vẫn cứ là ít, nhưng hiện ra đậm nét hơn. Hình ảnh người mẹ trong Gửi mẹ khá nồi «Những đêm gió mưa dữ dội - Vẫn thắp hương cầu trời phù hộ bước con đi». Không phải bà mẹ Việt Nam thì có bà mẹ nào trên thế giới lại yêu nước theo kiều như thế?

Trong Thư nhà sự liên tưởng từng nét chữ như gồng như gánh dân công đã quí. Nhưng càng quí hơn là điều khẳng định:

Một lá thư nhà

Chia đôi nhiệm vụ

Hai người đoàn tụ

Hai đầu chiến trường.

Mới đầu thì ta thấy thắc mắc, tưởng như vấp phải một cái gì vô lý. Nhưng đến lúc hiều rõ thì ta bỗng vui mừng mà thấy lớn lên theo tầm suy nghĩ của tác giả, không phải chiến trường hẹp lại mà là mối tình càng mở rộng ra, càng nhân lên không biết là bao nhiêu lần. Trở lại chủ đề đồng chí đồng đội là bài Giá từng tấc đất. Nhưng là một sự trở lại có nâng cao và mở rộng.

Khi bạn ta

lấy thân mình đo bước

Chiến hào đi

Ta mới hiểu giá từng thước đất.

Đúng như tư cách một nhà thơ bộ đội, Chính Hữu bao giờ cũng giữ lấy một hơi thở rắn rỏi, chắc khỏe. Tình cảm của anh dường như thường lặn sâu vào bên trong. Có phải đó là thói quen của những người đã dạn dày trong chiến đấu? Dầu sao, chớ có bảo tình cảm đó không mãnh liệt đậm đà. Nói tới cái chết, những vần trắc ở đây như chứa đầy uất hận. Những ý những chữ quan trọng được tách ra thành những dòng thơ riêng để nhấn mạnh... Bấy nhiêu yếu tố màng lại cho bài Giá từng tấc đất một nét mặt rất mới.

 

*

Nếu trong kháng chiến, thơ Chính Hữu đã ít thì trong mấy năm hòa bình, tính theo tỷ lệ thời gian, hoa trái tâm hồn anh càng thưa thớt hơn. Đầu súng trăng treo không có những bài thơ thời sự hiều theo ý nghĩa trực tiếp của nó. Bởi vì khó lòng tìm thấy trong đó từng bước đi của hiện thực một cách cụ the, chi li. Nhưng nếu hiu tính thời sự một cách sinh động hơn, nếu hiều tính thời sự như là sự gắn bó gần gũi giữa tầm tư tưởng của bài thơ với những vấn đề lớn đang đặt ra trong cuộc sống, thì mới đánh giá được mười một bài thơ Chính Hữu làm trước năm 1965.

Như trên đã nói, Giá từng tấc đất, Thư nhà... là nhịp cầu nối giữa thơ kháng chiến và thơ trong hòa bình của Chính Hữu. Từ đó về sau, tác giả ngày càng đi tới một phong cách tương đối ổn định. Dường như anh không bao giờ bằng lòng với cách nhìn sự vật một cách hời hợt, kề cả cách chấm phá vài nét rồi bỏ đi chẳng hạn. Thường trực trong anh là một ý thức muốn thâu tóm những bước đi, những biến chuyền của cách mạng ngay trong những sự việc bình thường. Với anh, Lá phiếu hôm nay:

Kể chuyện

chúng ta

khi đi tay không

Khi về

Trời mây - ruộng đồng - tất cả.

Những khẩu hiệu mà chúng ta vẫn nói vẫn nghe hàng ngày, bỗng nhiên được tác giả soi rọi từng bước đi trong lịch sử:

Những đêm lửa đỏ xóm làng.

Thức với những người du kích

Khẩu hiệu đứng trên đường

bất khuất

Người nào làm thơ chắc biết từ cái tứ khẩu hiệu này đến một bài thơ cụ thể, là cả đoạn trường cheo leo hiểm trở, nhà thơ rất dễ rơi xuống cái vực thẳm khẳng định chung chung. Nhờ ở vốn sống, mà cũng nhờ ở cái tầm nhìn tầm nghĩ Khẩu hiệu... như lương tâm kêu gọi, nhà thơ đặt được bài thơ đúng cái tầm cao mà nó có thể đạt được. Cũng như vậy, với một chuyện Duyệt binh, tác giả bỗng khơi được nhiều vấn đề mà bình thường chúng ta chỉ cảm thấy một cách thấp thoáng. Bài thơ có vẻ lạnh lùng tỉnh táo, không phải làm cho người ta vẫn vương mà là làm cho người ta suy nghĩ, suy nghĩ mãi không thôi. Đến đây, càng ngày càng rõ cái vẻ riêng trong thơ Chính Hữu. Anh muốn trực tiếp ngợi ca hóm nay, ngợi ca cách mạng ngay trong cái tư thế chúng ta đang cầm súng, đang vượt mọi khó khăn gian khổ. Không sa đà vào việc kề lề những sự việc cụ thể, luôn luôn anh muốn vươn tới ý nghĩa khái quát của các hiện tượng -và chủ ý ấy đã được thực hiện khá thành công không phải là trong một hai lần, Đêm tuần tra súng ướt hơi mây, sau khi dùng một nét nhỏ để đựng không khí rồi, anh tập trung nói những suy nghĩ của người lính biên giới. Thăm Anbani, anh thấy:

Núi Anbani như gươm như mác

Như đội ngũ năm trăm năm xưa của Scăng-đếc-béc

Biển Anbani sôi nổi bốn bề

Như lịch sử Anbani trường kỳ sóng đập.

Dù cái chất chiến đấu ở phong cảnh và lịch sử nước bạn thế nào, nhưng phải có lối nhìn riêng mới khiến tác giả khai thác được nét nổi bật đó.

 

*

Dạo ấy, còn có những ngày tạm gọi là hòa bình, Song le, ở những con người có tầm nhìn xa thì «có thể nào yên» có lúc nào không thao thức một ý chí chiến đấu? Thơ trong Đầu súng trăng treo là như vậy. Một bài thơ nhỏ về một đề tài rất quen thuộc như cây cũng mang dấu vết riêng của tác giả:

Nghìn dặm đường vui rì rào đất nước

Trong bước ta đi vội đêm ngày.

Vẫn là con đường ngàn dặm, con đường hành quân, và người đi thì phải mải mê bước vội. Cho nên, rất dễ hiều khi thấy thơ anh nhanh chóng bắt vào cuộc sống chiến đấu ở miền Bắc những năm chống Mỹ. Bắt đầu là niền thông cảm với một đồng chí chiến sĩ giải phóng. Rồi ao ước thành sự thật. Vẫn cái hăm hở hồ hởi, mà nỗi vui Đường ra mặt trận đã đầy đặn hơn, tràn trề hơn. Cách mạng là một ngày hội lớn của quần chúng. Nhiều người quá, chào nhau không kịp nhớ mặt. Càng đông vui, càng tự hào:

Sung sướng bao nhiêu: tôi là đồng đội

Của những người đi, vô tận, hôm nay.

Như là một lối biều hiện riêng, ý niệm hôm nay thường được Chính Hữu nhấn mạnh trong sự suy nghĩ của mình để đánh dấu một khoảnh khắc của sự rung động. «Sáng nay ta về Hà Nội», « Một lá thư nhà hôm nay ta đọc», «Đất nước ta cầm trong lá phiếu hôm nay» Đến những ngày hôm nay - chiến đấu thì những nhắc nhở đó lại càng có ý nghĩa. Quả thật, trở lại cầm súng hành quân nhưng mỗi ngày bây giờ đâu phải chỉ là bản sao của 20 năm về trước... Đất nước lớn lên, có nhiều « ngôi trường ngói đỏ bình yên». «Cánh đồng đang gặt. Hàng ngũ ta đi dài như tiếng hát ». Mỗi người trong chúng ta cũng đều cảm thấy mình đã vượt qua những cái ấu trĩ ngày xưa. Không phải chỉ là một niềm say bát ngát thoáng chút mơ hồ, chúng ta đi chiến đấu vì một trang giấy học trò lành hiền, vì một ánh đèn soi cho em ta ngồi học. Kẻ thù hung bạo lắm. Nhưng đấu tranh này là trận cuối cùng. Cho nên mới có cái cảnh:

Súng ta kê

bên nổi nhỏ

các em nằm.

Câu thơ tạo hình sắc lạnh quá. Xem chừng có vẻ tàn nhẫn! Nhưng thực tế như vậy, gây nên những cảnh đó là tội ác của kẻ thù. Cuối cùng chỉ còn một cách xóa sạch khổ đau là dốc lòng chiến đấu. Cả miền Nam như thế, cả nước như thế. Ở đâu cũng gặp những ngọn đèn gác đường hành quân. Nói cho cùng, cuộc chiến đấu đã vượt qua giai đoạn bắt đầu. Vượt lên, chúng ta đang chạy đua với thời gian, Thắng lợi, ta thấy nó đang trước mặt:

Đi nhanh đi nhanh

Chiến trường đã giục

Đầy núi đầy sông

Đèn ta đã mọc

Trong gió trong mưa

Ngọn đèn đứng gác

Cho thắng lợi, nối theo nhau

Đang hành quân đi lên phía trước.

Niềm thao thức hành quân đã thường xuyên đi về trong nhiều bài trước kia, giờ đây càng có sức mạnh như một lời kêu gọi, một khẩu hiệu hành động. Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tập thơ. Cả đến vần điệu của câu thơ cũng phục vụ cho ý đó. Thơ nhiều câu ngắn, thường là những vần trắc hoặc thanh không. Thơ nhiều động từ nhanh mạnh hơn là những tính từ màu mè rực rỡ. Thực ngắn, gọn, sít sao.

 

*

Trở lên là những cảm nghĩ của một người đọc khi có dịp nhìn lại cả quãng đường thơ Chính Hữu đã đi trong khoảng gần hai mươi năm qua. Khỏi phải nói, đây là một tập thơ có giá trị. Điều cần khẳng định trước hết là tác giả của nó là một người làm thơ có trách nhiệm. Trong tình trạng thơ ta còn nhiều bài dễ dãi quá mức, trường hợp Chính Hữu có tác dụng rút kinh nghiệm bồ ích về việc tôn trọng người đọc. Tuy nhiên, muốn đóng góp một tiếng nói nghiêm chỉnh, không gì hơn là cũng nên nói thẳng một số băn khoăn nuối tiếc. Tình cảm đồng đội nói như mức ở Đồng chí là vừa, đến phần đầu Giá từng thước đất đã hóa nhạt. Phần cuối bài thơ Khẩu hiệu rơi vào chung chung, chưa xứng với phần trước. Cũng như vậy, ý trước ở bài Một nửa chân thành, dễ thông cảm, nhưng sau đó tác giả có phần lạm dụng rơi vào chỗ gò gẫm, thiếu tự nhiên. Nhìn chung, khi nào cái tình của tác giả đi kịp sự suy nghĩ thì bài thơ khá đạt. Trái lại, bài thơ sẽ thiếu hẳn sức sống nếu thiếu những rung động bên trong. Nhân đây, có thể nảy ra một lo ngại chính đáng: tình cảm trong thơ Chính Hữu chưa được thấm đượm khắp nơi. Kẻ thù vô hình của thứ thơ suy tưởng dễ kéo người viết sa vào những mệnh đề rời rạc tản mạn. Điều đó đã được Chính Hữu giải quyết bằng cách chọn lấy một tứ chung, khắc họa một hình tượng toàn bài khả dĩ lưu lại trong óc người đọc. Song le, ở từng chi tiết nhỏ đã thấy tác giả trở đi trở lại với những biểu tượng chung chung.

Đêm tháng 5 trước hôm bỏ phiếu bầu cử Quốc hội « Trống cờ bay bng» - và đến đường ra mặt trận bây giờ lại «Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục » Lá cờ tiếng trống với Chính Hữu, ngoài ý nghĩa thực, dường như còn đtượng trưng cho cách mạng... Chủ yếu là những rung động, những nếp cảm nếp nghĩ hằn vào tiềm thức. Nhưng cả lối biểu hiện độc đáo đó, cùng với những núi sông”, câu hát”, ngọn đèn thức trong đêm..., nhất là cái ý kết luận hành quân, hành quân khi bị trở đi trở lại nhiều quá, vẻ tươi tắn sao mà giữ được như những lúc đầu?

Cuối cùng, nên nói qua về mặt sắp chữ đặt câu. Trừ đôi bài như Cây, Ngọn gió còn toàn tập của Chính Hữu có một giọng điệu riêng biệt. Nhưng nếu nghĩ về đường dài, một sự đơn điệu ít nhiều đã cứng lại như ở đây chưa chắc đã là một điều đáng mừng, đứng về phương diện một nhà thơ mà nói. Thơ Đầu súng trăng treo tránh được lai căng mà vẫn rất hiện đại. Tuy nhiên với vóc dáng như hiện nay, từng bài vào với quần chúng chưa chắc đã được trôi chảy tự nhiên.

 

*

Với Chính Hữu, lòng tin của chúng ta đã có cơ sở những năm đầu kháng chiến. Điều đáng mừng là trong những ngày chống Mỹ, ngòi bút anh như có dịp khởi sắc lại. Không gì khác, Đầu súng trăng treo là một hơi thơ khỏe mạnh góp phần nói lên tiếng nói của những người đang chiến đấu và chiến thắng.

 

1967


 

MỘT TIẾNG NÓI LẠC QUAN

TRONG NHỮNG NĂM CHIẾN TRAΝΗ

- THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

(Đã in trong “Phê bình & Tiểu luận” dưới nhan đề “Âm hưởng lạc quan trong thơ Phạm Tiến Duật)

 

Những người đã có dịp đi với bộ đội ít nhiều hân biết rõ người chiến sĩ của chúng ta có một đời sống tinh thần đặc biệt; các anh rất dễ vui, và niềm vui của các anh rất trẻ, khỏe. Hành quân nhọc mệt nhưng đặt ba lô nghỉ là nói đùa, nói «trạng». Leo những cái dốc ê ẩm, đặt cho dốc đủ mọi thứ tên đ cười. Làm được cái hầm đẹp đã vui. Cải thiện được bữa rau rừng cũng vui! Đánh xong trận ác liệt về, các anh lại càng tìm thấy nhiều chuyện vui. Cái lạc quan, cái vui đã thành một nét bản chất của người chiến sĩ, nó nảy sinh trong mọi hoàn cảnh, như một thứ thách thức vượt lên khó khăn; nó là cái hơi ấm toát lên từ tâm tình của những người tự tin và đang chiến thắng.

Mấy năm vừa qua, Phạm Tiến Duật luôn luôn có mặt giữa những người chiến sĩ như thế. Anh đi với lái xe, với công binh, với thanh niên xung phong trên một tuyến đường vận tải quân sự đặc biệt, và những bài thơ của anh in lại trong Vầng trăng quầng lửa, trong Thơ một chặng đường chính là được bắt nguồn từ cái vui, cái lạc quan của cảnh và người anh sống, anh gặp trên đường. Như là có một sự gặp gỡ đặc biệt giữa tâm hồn một người chiến sĩ và một người làm thơ. Và chúng ta có một tiếng thơ khá độc đáo.

Lần theo những trang thơ, người đọc biết rằng Phạm Tiến Duật đã đi nhiều nơi lắm. Trong văn học, từ việc sống đến việc viết, có nhiều cách thức khác nhau. Có người đi rất nhiều nhưng chỉ cốt nắm lấy không khí, cái thần, chung nhất của khung cảnh. Đọc những trang viết của họ, nhiều khi thấy ánh lên một cái gì rất mới mà không bao giờ có địa chỉ rõ ràng. Phạm Tiến Duật không như thế. Anh đi đến đâu, anh gặp những ai, ta dễ đoán biết. Anh muốn mang vào trong thơ cả những chi tiết bộn bề như văn xuôi: những chuyến xe bom giật, bom rung vỡ kính; những đêm «cao xạ thình thình đim đầu canh ba»; khu vực kho một ngày 17 trận bom Mỹ dội. Gợi ý cho bài thơ của anh là một cái cặp tóc ai đ quên trên cỏ, tiếng đuổi gà của bà mẹ khi lúa chín trên đồng. Đọc thơ như được cùng anh vào một cuộc đi, xa xôi và đầy hứng thú. Mọi thứ đều được anh chăm lo, chí chút. Lúc nào anh cũng giữ được một thứ ngạc nhiên, một niềm say mê say miền đất lạ rất tự nhiên. Tuy vậy, đó chỉ là cách viết. Điều quan trọng là thơ Phạm Tiến Duật không bó hẹp trong những người, những cảnh cụ thể. Mọi người khác, ở những đơn vị khác, đều có thể tìm thấy ở thơ anh một sự thông cảm. Một mặt, anh không muốn đơn giản, sơ lược. Như một người chứng kiến nghiêm chỉnh, anh nói khá đầy đủ về những vất vả đến với mỗi chúng ta trong cuộc chiến đấu. Mặt khác ảnh nói rõ những cái đó, nhưng không làm chúng ta băn khoăn do dự, mà ngược trở lại, một tiếng cười giòn tan cất lên, với tất cả sức trẻ của mình, chúng ta đã vượi qua mọi gian kh. Người chiến sĩ trong thơ Phạm Tiến Duật vừa thực vừa đẹp một cách lạ lùng. Dù có thế nào, vẫn không có chuyện gì về tất cả những người ở đây hết. Những xa cách «Trường Sơn đông Trường Sơn tây» không làm cho ai buồn. Trong cái đêm bom rung vỡ cả mái ngói, người chiến sĩ vẫn ung dung ngủ lại với gió sông Lam. Phải lạc quan lắm mới có được một giọng thơ như trong bài Qua một mảnh trời thành phố Vinh ấy! Càng đi vào những miền trọng điểm như Seng Phan, «tiếng bom như tiếng thú» nghe lại càng nhỏ. Và hơn thế nữa, không những ung dung tự tin, người chiến sĩ còn tìm được những niềm vui ấm áp. Anh không bỏ qua một đàn bươm bướm trên lèn đá, một câu hò trong đêm bốc vác rộn ràng.

Biết tiếng hát trong rừng nhịp với phách xem chừng sai cảanh vẫn lắng nghe. Một tình thương mến bao trùm.

Thương em, thương em, thương em biết mấy.

Trong bài Gửi em, cô thanh niên xung phong, tình cảm giữa hai nhân vật rất tiêu biểu của cuộc chiến đấu của chúng ta, của anh bộ đội và cô thanh niên xung phong, được biểu hiện thật lành mạnh mà thấm thía, đậm đà. Ở các bài khác Khi em qua đèo, Nghe em hát trong rừng cũng vậy.

Tất cả những tâm tình chiến sĩ ấy là rất phổ biến, nhưng lại mang một dáng vẻ riêng của Phạm Tiến Duật. Anh hóm hỉnh nghịch ngợm mà đôn hậu thương yêu. Anh dễ dàng sao trong việc làm thân trò chuyện với mọi người! Và không chỉ có vui, anh còn có dụng ý muốn mang tới chúng ta những suy nghĩ khái quát. Chuyện các cô gái lái xe: niềm tin có thật trong cuộc chiến đấu. Nói về các lứa tuổi kế tiếp nhau trong trưởng thành là bài Khi em qua đèo. Về mặt này, bài thơ dựng cảnh Vng trăng quầng lửa khá tiêu biểu. Trong ánh chớp nhoáng nhoàng của bom đạn, tiếng hát vẫn cất lên, mọi dấu hiệu của sự sống vẫn nảy nở. «Và vầng trăng, vầng trăng đất nước vút qua quầng lửa vụt lên cao» - Như là có một thoáng tượng trưng, nửa thực nửa hư. Sống với khung cảnh ấy, những ý nghĩ về dân tộc, về đất nước, về chiến thắng như cùng trở về trong ta. Sức thuyết phục của bài thơ là ở cả một không khí được gợi lên khá trọn vẹn.

Không phải ngẫu nhiên, trong những năm chống Mỹ, thơ Phạm Tiến Duật thường được mọi người nhắc nhở. Đó là một tiếng nói trẻ, thứ tiếng nói mới trong thơ. Người làm thơ này bao giờ cũng coi bài thơ là một kiến trúc. Anh chọn được tình thế đáng nói. Anh biết nói một cách đặc biệt, thường lướt qua những chỗ lặt vặt, giành bất ngờ cho cái chốt chính, cái kíp ncủa bài thơ. Đọc thơ anh, dễ có những thoáng giật mình: sao có những điểm thi vị thế này mà không ai nhìn ra! Riêng cách đặt câu, dùng chữ trong bài đã chứng tỏ Phạm Tiến Duật là một người làm thơ có nghề nghiệp vững chãi đến độ dám đi ra khỏi một số khuôn sáo thông thường. Về mặt giọng điệu, nếu xưa nay thơ của nhiều người như một tiếng hất, thì Phạm Tiến Duật làm cách khác: Anh muốn trò chuyện với người đọc. Anh luôn luôn đi bên cạnh ta, thì thầm với ta điều kia điều nọ. Cách viết này mang lại cho tác giả một lối đi riêng, hợp với sức viết đang độ khỏe. Cái tài hoa, cái khéo léo tay nghề, là tương ứng với cách cảm, cách nghĩ của anh và hai mặt đó gắn bó làm thành một phong cách thống nhất. Tại sao lại nảy sinh và tồn tại phong cách đó? Từ những năm chống Mỹ, trong bộ đội ta đã hình thành một lớp chiến sĩ mới, với cách sống, cách chiến đấu mới, dáng dấp tâm lý mới, có phần kế thừa mà có phần phát trin so với các thế hệ cha anh. Họ vẫn đọc những bài thơ của các nhà thơ lớp trước. Nhưng họ cần có tiếng nói của mình trong văn học. Thơ Phạm Tiến Duật là một trong những tiếng nói đó. Có điều không nên cường điệu, coi thơ Phạm Tiến Duật là một mẫu mực, hơn nữa, một mẫu mực duy nhất cho tiếng thơ của cả thế hệ cùng tui với anh. Trên cái nền phát trin rộng rãi về mọi mặt của xã hội miền Bc từ sau 1954, người chiến sĩ của chúng ta đã trưởng thành vượt bậc, với rất nhiều vẻ khác nhau. Đ nói lên tiếng nói của họ, cần nhiều tiếng thơ khác nhau. Chỉ có thể nói Phạm Tiến Duật là một tiếng thơ trong đó với nghĩa nó có những chỗ mạnh chỗ yếu nhất định. Chỗ yếu quan trọng trong thơ Phạm Tiến Duật là bề ngoài bao quát được một hiện thực nhiều mầu sắc, song vẫn có cái vẻ đơn điệu của nó. Đây đó, một vài bài thơ dường như chỉ khác nhau về đề tài, về khung cảnh, về cách nói, mà ý tứ thì lặp lại. Thực tế lớn lao quá! Có lúc, tác giả như bị ngợp: Anh chỉ kịp làm những đoạn ống kính chụp nhanh» mà chưa có sự cảm thụ và chuyn hóa sâu sắc. Thường khi anh chạy theo những thay đi ở bề ngoài khung cảnh mà quên lắng nghe đúng mức về những phản ánh, những vang vọng của mọi thay đi đó trong lòng, đ sự kiện có dịp hòa cùng nhịp điệu với lòng mình. Cũng như nhiều người viết trẻ khác, một số khái quát ở Phạm Tiến Duật hoặc không sáng rõ, hoặc rơi vào chỗ đơn giản, sơ lược. Niềm vui mà anh gợi lên có phần dễ dàng, nhưng lại chưa thật sâu lắng. Say miền đất lạ, anh đâm ra sa đà vào những cái ngồ ngộ, kỳ lạ, rồi tự bằng lòng, cười đùa vui vẻ mà không thấy hết những cái mới cơ bản trong khung cảnh và trong lòng người. Trong đời sống cũng như trong văn học, kinh nghiệm cho biết chưa bao giờ những cái ngồ ngộ đó có khả năng biểu hiện những điều quan trọng nhất. Cũng như về mặt cách viết, khi nào cố làm ra vẻ đơn giản, Phạm Tiến Duật lại rơi vào một sự sắp xếp, thành ra một thứ sáo mới, muốn làm duyên hơn là có duyên thật sự. Lẫn với cái thô mộc chân chính; một đôi khi sự qua loa cầu thả đã xuất hiện trong thơ anh.

Bấy nhiêu chỗ yếu chỗ mạnh nói trên cố kết lại hữu cơ trong thơ Phạm Tiến Duật. Anh là người có bản sắc mạnh mẽ, bản sắc không giống ai, nên rất khó thay đi. Mà có thay đi, thì vẫn là đi mới trong cung cách của mình. Cho nên, hơn cả những đóng góp cụ th, nên tìm ở thành công của anh một ý nghĩa khái quát: Nó là một bằng chứng xác minh thêm cái phương hướng lớn, phương hướng đi vào đời sống của nền văn nghệ mới. Thực tế dân tộc ta nói chung, thực tế bộ đội ta nói riêng là nguồn cảm hứng vô tận đủ sức nuôi dưỡng những tài năng lớn và khác nhau. Đó là điều lâu nay chúng ta vẫn nói. Đặt trong cái toàn cảnh đó, thơ Phạm Tiến Duật mới là một trường hợp, một thí nghiệm. Trin vọng của nó ra sao còn tùy thuộc ở sự phấn đấu của riêng người viết. Nhưng có điều chắc chắn: khi được phổ biến, ngay từ bây giờ nó đã là một gợi ý, một kích thích tốt cho những tiếng nói bằng thơ khác đang tiềm tàng trong lớp người trẻ tuổi đang cầm súng.

 

1971

 


 

MỘT CUỘC GẶP GỠ ĐỀ LẠI NHIỀU CẢM TÌNH

Chu và tập truyện ngắn PHÙ SA)

 

Người đọc văn Đỗ Chu mới đầu dễ có cảm tình từ lời văn, nhịp điệu. Văn Việt Nam vốn khó viết, hình như có một thứ quy luật nào đó mơ hồ và khắc nghiệt đầy người viết đi. Tránh trúc trắc, nếu không khéo, người ta lại sa vào biền ngẫu ngay. Cái duyên của câu văn, cách bố tríkhi dài khi ngắn, âm điệu bằng trắc thế nào, Đỗ Chu gần như có được từ bản năng. Những truyện Đường qua nhà, Mùa cá bột xinh nhỏ như một bài thơ, đọc xong lại muốn đọc lại.

Trong cách nhìn nhận, suy xét cuộc đời ở Đỗ Chu luôn luôn lộ ra hai khía cạnh song song: thơ mộng và tinh nghịch. Khi dựng truyện vẫn thấy một Đỗ Chu như thế. Với giọng điệu riêng mang âm sắc trữ tình như hiện nay, những truyện trong Phù sa không ly kỳ, phức tạp, nhưng thông thường vẫn là nhiều bình diện. Đỗ Chu thích cho nhân vật xưng tôi và chính Đỗ Chu đứng ở góc độ tôi đề mà kề lễ cùng bạn đọc những điều gần như kỷ niệm. Cách thức bày xếp, điều khiền nhân vật cũng khá gọn gàng. Giọng văn giữ được dáng vẻ riêng, dẫn người ta vào không khí của khung cảnh.

Nhưng nhiều trang Phù sa gắn bó với chúng ta trước hết là ở những ý tình đây đó. Con người này biết rung động với nhiều biến thái nhỏ trong cuộc sống. Đọc truyện, ta thấy cần sống đầy đủ hơn trong mọi bước đường mà ta vốn dễ dàng bỏ qua. Rồi từ đó, lòng yêu đời yêu người, những khẳng định về chế độ mới, một niềm tin vào công việc thường nhật chung quanh, những cái đó sẽ mơ hồ và nhen nhóm lên, lâu bền, dai dẳng.

Từ truyện ngắn đầu tiên Hương cỏ mật, bạn đọc đã thấy một sắc thái riêng trong chất văn Đỗ Chu. Trước cách mạng, một số nhà văn quen thuộc nông thôn đã miêu tả khá nhiều, khá nổi những nét sinh hoạt của bộ phận lớn nhất của dân tộc ta sau lũy tre xanh. Tình hình hiện nay có khác. Văn học ta phải chú trọng đặc biệt đến bộ mặt tinh thần, những sự kiện chính trị lớn ở nông thôn, từ kháng chiến đến hòa bình, qua cải cách ruộng đất đến thành lập hợp tác xã. Trên bối cảnh đấu tranh xã hội, các nhân vật bao giờ cũng hiện ra trước hết như đại diện của một lực lượng giai cấp tham gia những xung đột quyết liệt với những vị trí rõ ràng. Người viết ít chú ý miêu tả những nét sinh hoạt mới. Những cái mà các nhà văn khác chỉ coi là đường viền, với Đỗ Chu, được nâng lên thành mạch chính. Anh say sưa cùng những cô bé, cậu bé chăn trâu làm cỏ mật, thứ sợi cỏ rất thơm, rất dài, rất óng. Anh dẫn ta trở lại con đường làng đi mát lạnh cả gan, bàn chân. Có nhiên, rồi người ta vẫn thấy chỉ ở miền Bắc những năm gần đây mới có những câu chuyện kiều Hương cỏ mật: những cuộc gặp gỡ sau thời gian dài kháng chiến, mất mát bao nhiêu nhưng hạnh phúc dần dần trở về; hạnh phúc đến cả với những người như cô giáo Nhâm vốn là không may mắn lắm. Đám cưới tiến hành không vội vã, không ồn ào, rất giản dị mà ấm cúng. Chỉ những người có hạnh phúc thực sự mới cưới nhau như thế. Về mặt hình thức câu chuyện mà nói, Hương cỏ mật có vẻ không chặt chẽ: người viết cứ kề lan man, và nếu người đọc cứ bị lôi đi thì đó cũng là chỗ mạnh chỗ yếu của bản thân văn Đỗ Chu hồi ấy. Sau này, anh còn viết nhiều truyện khác, chặt chẽ hơn như Mùa cá bột, tinh nghịch và phức tạp hơn như Gia đình những người đi xa, nhưng cái duyên của Đỗ Chu với bạn đọc, cái truyện Hương cỏ mật kia vẫn như một thứ kỷ niệm ban đầu không dễ gì quên được.

Sau Hương cỏ mật, nhiều truyện khác của Đỗ Chu đều đan đi đan lại giữa hai đề tài nông thôn và bộ đội. Hầu như chưa có gì thay đồi, ngòi bút ở đây vẫn là tiếp tục tự phát hiện mình. Những kỷ niệm về kháng chiến còn in dấu vết qua từng hoạt động hiện tại, làm cho người ta phải suy nghĩ thêm về những ngày đang sống. Hết cái tuời nghịch, nhưng những ấn tượng nguyên vẹn trong đầu óc vẫn tạo nên sinh sắc cho những lời kề về lũ trẻ trong Thung lũng cò. Có lúc lại thấy cây bút trẻ Đỗ Chu khôn lớn hần lên, bàn đến những chuyện lớn rộng như trong Mùa cá bột. Nhân vật Đá tưởng lấp lửng mà thật rã được bồi đắp qua nhiều đoạn hồi ức đứt nối khác nhau, là một nhân vật khá đẹp và trọn vẹn. Cả truyện cũng như tiếng con le le lảnh lót dồn dập trong một đêm mưa, tưởng không có gì mà ngân vang trong lòng người đọc. Sang Chiến sĩ quân bưu giọng kề của Đỗ Chu vẫn có về lan man, so với Hương cỏ mật còn lê thê dài dòng hơn, nhưng vẻ duyên dáng thì không vì thế mà sút giảm. Chỉ vài ba câu Đỗ Chu dựng lại được không khí phố huyện, đoạn tả mối tình giữa Lầm và Mận cũng khá hồn nhiên, phù hợp với cái thuở gặp gỡ ban đầu ngỡ ngàng mà sâu sắc, nửa thực nửa hư, khiến những người trong cuộc cũng không dám tin là liệu có thực? Hoặc là cảm giác của anh con trai: mình vội nắm lấy bàn tay cô bé, mềm mại và ấm như một chú mèo con. Hoặc là lối tỏ tình của cô kia: Anh Lầm đi đi! Em mà không gửi thư cho anh thì em cứ chết. Cũng như cỏ mật trên vòi voi trước đó, bây giờ Đỗ Chu lại kề rất có duyên về rong đuôi chó, về việc bói hoa mua đất. Lấp lánh qua từng trang sách là những chi tiết ấy, nó như lá như chồi làm nên màu xanh cây cối. Lầm trông máy bơm nước, Mận là kiện tướng thủy lợi được thưởng áo bông - bấy nhiêu thứ bắt vào truyện khá liền mạch, gắn những nét tâm tình, sinh hoạt với cuộc sống mới, những thay đồi mới. Bài học tư tưởng cuối cùng ở Chiến sĩ quân bưu được thực hiện hơi lộ liễu; nhưng có một điều đến với chúng ta lặng lẽ mà rõ rệt hơn, đó là một quan niệm mới về hạnh phúc: hạnh phúc thật giản đơn, hạnh phúc có thề đến ngay trong mọi công việc bình thường, miễn việc đó có ích cho những người khác.

Có một chút gì cách quãng giữa bốn truyện đầu với những truyện sau này. Ở những người viết trẻ vốn có những bước «tự đi tìm mình như thế. Chân trời chiếm một số trang khá dài, bằng hai lần số trang một truyện trung bình trong tập. Chân trời theo dõi bước đi của một cô gái đang tìm đường, có lúc chính cô phải vượt qua những kỷ niệm ấu thơ đẹp đẽ, mơ màng để đến với những điều mình tin là đúng. Đỗ Chu trở về với những gì mình đã quen thuộc: những người học sinh hăng hái xốc nồi một cách đáng yêu, cuộc sống của một thị xã trung bình và những gia đình bình thường ở đó. Những trang viết về bộ đội lấy gỗ, cô Chi đi làm rừng có nhiều hơn thì cũng chưa át được không khí những đoạn mà nhân vật Chi kề chuyện mình ở thị xã, Truyện tãi ra có phần lễnh loãng, sức người viết chưa bao quát hết được những cái anh đưa vào, có nhiều chỗ phải dựa vào thông minh đưa đầy đi, hơn là có một rung cảm bên trong, thực sự. Rốt cuộc, cái chủ đề tư tưởng Chân trời còn thiếu sức thuyết phục, nhân vật Chi chưa thành một người cán bộ chững chạc sau bước chuyển biến của mình. Tất cả chỗ yếu của Đỗ Chu đã thấy lô rõ.

Gia đình những người đi xa đi theo hướng khác. Nói là hậu phương vốn là một cách đi vào đề tài chống Mỹ. Và dụng ý của Đỗ Chu nằm ở một quan sát: chiến tranh làm cho người ta xích lại gần nhau hơn. Những người chiến sĩ ra đi rồi, gia đình họ ở nhà thương yêu đùm bọc nhau, làm thành một gia đình lớn. Câu chuyện bắt đầu ở chỗ đáng phải kết thúc, ngày càng rút vào kỷ niệm, rút vào xa xưa, người đọc bị dẫn đi ngược dòng thời gian, những sự kiện quá khứ, con người quá khứ được dựng lên y như trong hiện tại. Hơn nữa đọc Gia đình những người đi xa lại thấy thêm một cách Đỗ Chu đi vào nông thôn. Những chuyện kề lâu nay về Bắc Nịnh – xứ Kinh Bắc xa xưa - được anh làm sống lại: những đám kéo thuyền trên sông mòn mỏi, ông già với bầy kến cô chẹn vòng đồng chuyên môn bắt cá; nếu không còn những ngày hội quan họ như ngày xưa thì lại có những đêm gặp gỡ giữa bộ đội và các cô gái trong làng: Em cũng xin có một bài Người ơi người ở đừng về đấy ạ. Rồi sau này, Đỗ Chu còn viết Phù sa, trong đó có con sông Cầu bốn mùa nước trong và hiền lành như một cô con gái, cái làng Hà làm đồ gồm những lò nung hình con cóc nằm bên bờ sông. Hòa tan trong tất cả là một tấm lòng thương yêu đất nước hồn nhiên. Gọi ra thì hơi quá, nhưng đó chính là cái nền dân tộc, những nét bản sắc quê hương, vốn là một yêu cầu rất cao đối với tất cả những người làm công tác văn nghệ.

Như thế, ý định của Đỗ Chu đi từ truyện ngắn đến những truyện dài hơn đã rõ ràng. Quả thật, anh còn phải cố gắng rất nhiều, cả hai truyện Chân trờiGia đình những người đi xa nếu có thành công mặt nọ mặt kia thì cũng chưa thực sự đạt được mục tiêu mà anh mong muốn. Lý do chủ yếu thì không gì khác là ở vốn sống của anh, là phạm vi hiện thực mà anh bao quát. Anh chưa vượt xa khỏi những đường mòn kỷ niệm trong mình. Anh chưa có nhiều việc và chưa có nhiều người. Đúng là cần nhiều người, những điền hình xã hội khác nhau, bởi cái quyết định các sự kiện cuối cùng phải là nhân vật.

Mới đọc những truyện trên đây, thấy Đỗ Chu nói đến lắm tầng lớp lắm. Có những ông già bảy mươi tám mươi thuộc thế hệ trước, có những em bé mười một mười hai. Có anh bí thư chi bộ, anh nhân viên bưu điện, đồng chíchính trị viên, và có cả ông chính ủy tuổi già con rề là đại đội trưởng cũng trong trung đoàn đó. Nhưng sự thật chưa có nhân vật nào đủ hình đủ bóng, chưa có con người nào khả dĩ vượt khỏi trang sách chuyện trò cùng chúng ta. Nếu đôi lúc Đỗ Chu có nhặt nhạnh được dăm ba câu nói đúng người đúng tuổi, có bắt chộp được vài hành động cử chỉ tỏ rõ cái thần của từng người, thì những cái đó chưa ngưng kết được thành những tính cách, bởi hoạt động tâm lý chưa bật lên thành cá thể có linh hồn riêng. Giống như sự kiện và con người trong các bài thơ, những nhân vật được khai tên khai tuổi ở đây chỉ đề nói lên đời sống nội tâm của chính người viết.

Có thể nói rằng nhân vật duy nhất trong các truyện ngắn từ trước đến nay của Đỗ Chu chính là bản thân tác giả. Đó là Tuân trong Hương cỏ mật, Lầm trong Chiến sĩ quân bưu, Chi trong Chân trời, Miên trong Gia đình những người đi xa và nên kể cả hai nhân vật trẻ trong Thung lũng cò: Vịnh híp và Tịch mốc. Cách biểu hiện và mức độ tuy khác nhau nhưng các nhân vật đều giống nhau ở chỗ vừa thơ mộng, vừa tinh nghịch. Cứ mơ hồ tản mạn khắp nơi mà lại thể hiện được cái chất riêng của Đỗ Chu còn là không khí trong truyện. Cùng với anh, ta cảm thấy mùi lá đay ngửi thật dễ chịu, đêm trên mặt sông im lặng và đầy âm thanh. Tất cả các câm giác đều được huy động, những điều vốn mong manh dễ vỡ bỗng trở nên có hình hài cụ thể, những giây phút bình thường ở mọi người được sống lại tinh tế hơn. Sau khi đã có cái cốt chủ đề tư tưởng, lại mượn những thoáng cảm giác để làm nên máu thịt cho sáng tác của mình, truyện Đỗ Chu hiện nay có một sức hấp dẫn nhất định. Và mặc dầu chỉ có một nhân vật, một tâm tình, nhưng trong phạm vi một tập truyện đầu tay nó vẫn là một cái gì non tơ dễ thương, chưa đến mức lặp lại quá quắt.

Dường như cũng biết những ưu điềm sẵn có, có khi trong quá trình tìm tòi quanh quần, Đỗ Chu trực tiếp trở về với mình. Về nhiều phương diện, Đường qua nhàThành phố bên kia cầu không giống những truyện Đỗ Chu đã viết từ trước. Nhưng nếu chê hai truyện này thì cần phải chè toàn bộ Phù sa vì đó chính là những truyện chính cống Đỗ Chu với cái chất Đỗ Chu được chất được cô lại. Không khí gia đình dịu ngọt, một người bạn gái, thế là đủ chỗ đề cho Đỗ Chu tự thể hiện. Một cơn mưa chạy thoáng qua như một tiếng thì thầm trìu mến. Tàn bàng trên đầu kêu rào rào... Đã nghe thấy tiếng nước tuôn từ phía trên xuống các tàu lá dưới thấp. Cứ xem đoạn tả mưa ấy thì biết con người này dễ rung cảm với thiên nhiên lắm! Và tình cảm anh lại phát triền lên với những trạng thái tâm lý nước đôi rất khó giải thích. Cái tháp chuông nhà thờ hệt như một cái chấm than, mỗi lần gặp lại, anh đều tìm thấy thêm một vẻ mới mẻ ở cái hình dáng cũ kỹ của nó; câu chuyện giữa đôi bạn trẻ được tiếp tục một cách vừa thanh thản vừa khó nhọc. Có vẻ lắm thứ như thế, nhưng rồi Đỗ Chu sẽ hiện nguyên hình khi trở về bên mẹ. Ấy là một người đàn bà giàu tình cảm, mà cũng giàu nghị lực, có vẻ còn hơi mê tín, cu cũ một chút, thực ra hiểu biết, yêu con mà khéo dạy con. Cô giáo Nhâm ngày trước, người mẹ cậu Miên đã quy tụ lại đây, làm thành một nhân vật chủ yếu trong văn Đỗ Chu hiện nay.

Về khung cảnh chung, từ Chân trời, Gia đình những người đi xa, thấy Đỗ Chu hay nói đến thị xã, phố huyện. Một ông thợ vẽ sơn thủy một túp lều gianh ẩn dưới bóng một cây cành lá rườm rà, không ra cây đa mà cũng không ra cây đề; một cậu bé bán kem – có một cái gì nhỏ nhoi, đìu hiu trong cảnh vật đó. Cái thành phố bên kia cầu mà Hội đi lấy thư, thực ra cũng chưa thoát được không khí một thị xã như thế. Bao giờ Đỗ Chu cũng dồn những tình ý đẹp nhất, bất ngờ nhất cho đoạn kết câu chuyện. Có những nhận xét riêng, những triết lý nho nhỏ cứ cài chen đây đó giữa nhiều trang Phù sa. Thuộc loại như thế, ở cuối Thành phố bên kia cầu là phát hiện bâng quơ Quê hương chúng ta là những xóm nhỏ, những cánh đồng, và nếu là thành phố thì những thành phố ấy thường nằm trên bờ sông có nhịp cầu thân thuộc bắc ngang. Từ đầu đã nói Đường qua nhàThành phố bên kia cầu có dáng dấp những bài thơ là với nghĩa đó.

Được sắp, đầu tiên, nhưng Phù sa là truyện viết muộn hơn của Đỗ Chu. Về mặt dựng truyện, Phù sa trở lại một cái gì bình thường như những truyện đầu tiên, không nghịch ngợm như Gia đình những người đi xa, không như Đường qua nhà giàu chất thơ chắt lọc. Từ Gia đình những người đi xa, Một trận đánh lịch sử (VNQD 1-1967), Đỗ Chu đã có phần đi trực tiếp hơn vào đề tài chống Mỹ. Cả nước đang ở thế hành quân vội vã. Âm vang tiếng súng nơi mặt trận vọng lại khiến cho những câu chuyện hậu phương cũng không còn quá bình thản nguyên lành. Có cuộc ly biệt nào xưa kia giống như buổi tiễn người đi bộ đội ở cuối Phù sa được. Bến sông bỗng trở nên nhộn nhịp như những năm trước đây, vào tháng giêng, khi làng bước vào đình đám. Nếu tuổi tác có làm cho người bà của Hạnh Nguyễn «nước mắt trở nên giàn giụa hơn » thì rồi chính bà cụ cũng nói một câu tha thiết «Nhớ là phải về » tin tưởng mong chờ như tất cả mọi người khác. Như là một cách điệu riêng, những niềm vui trong văn Đỗ Chu thấp thoáng mơ hồ mà tỏa lan đây đó. Dụng ý ca ngợi cái đẹp của cuộc đời, ca ngợi chế độ mới toát ra thật hồn hậu, tự nhiên. Không được nói ra trực tiếp, nhưng những sự kiện lớn của nông thôn, của thị xã, của năm mười năm qua đều có bóng dáng. Đi vào những mạch tâm tư vốn ần kín như mạch đất sa bồi bên kia sông, anh muốn tìm đến những gì còn «un tàng sâu xа» ở mỗi con người. Những nhà văn cũ, với con mắt và kinh nghiệm của mình, có thề viết được những trang hay hơn, sâu sắc hơn, nhưng quyết không thể đẹp và trong sáng giống như thế.

Những nhược điểm hiện nay của Đỗ Chu thuộc về tuổi đời và kinh nghiệm sống. Nhiều truyện viết kha khá của một số bạn trẻ chúng ta phần nhiều dựa vào kỷ niệm men theo những chuyện gia đình nhà cửa, vốn là những cái để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng họ. Ai cũng biết đó là quy luật tự nhiên ở nhiều người mới viết, nhưng dẫu sao, càng ra thoát được sớm thì càng hay. Xem ra thì thấy từ truyện đầu đến các truyện sau, bước tiến của Đỗ Chu chưa phải dài rộng lắm. Kỷ niệm mãi rồi cũng hết, không khéo sẽ rơi vào chắp vá, bịa đặt. Nếu chỉ tiếp tục cái mạnh duy nhất là sự tinh tế, trong quan sát, anh vẫn quyến rũ chúng ta đó, nhưng rồi mãi cũng sẽ nhàm. Đã có những dấu hiệu báo động của một bệnh nguy hiểm nhất với người viết văn: bệnh lặp. Con đường đồi mới của anh không phải là đào sâu mãi vào trong mình, đề đến nỗi có khi chỉ là khoe chi tiết. Cái chính là ở anh cần có nhiều việc nhiều người mới. Cuộc sống trong Phù sa đẹp, đúng là hiện thực ở xã hội ta. Nhưng tác giả của nó chưa đặt được những vấn đề chưa phanh phui được những quan hệ xã hội chủ yếu, nó là cái động lực bên trong thúc đầy mọi bước đi của miền Bắc mấy năm qua, rồi từ đó mới kéo theo sự biến chuyền ở tất cả các mặt khác. Cả tập Phù sa cơ hồ như không có chuyện. Tất cả dường như đã tốt sẵn như thế, con người ít nhiều như bị cắt rời khỏi quá trình và điều kiện hình thành chung quanh mà dồn cả vào những niềm sâu xa bên trong cho nên cái đẹp cái tốt trong họ vừa thuần lành, lại như một cái gì sẵn có, rất khó cắt nghĩa một cách rõ rệt. Còn khi phải viết về những gì trước mắt như những cuộc chiến đấu. Đỗ Chu chưa có những thành công tương đương. Một trận đánh lịch sử không in vào đây là một thí dụ. Nghiêm khắc mà nói, cái nhìn đằm thắm thương yêu của một người sáng tác chưa đi đôi với một sự từng trải nhạy bén chính trị của một chiến sĩ đề hợp với yêu cầu cách mạng đang khẩn trương, Trong việc hình thành một người viết văn, vốn sống và vốn chính trị đan chéo nhau như những sợi dọc sợi ngang của một tấm vải, thiếu một thì thiếu cả hai. Hướng tiến lên của Đỗ Chu chính là khắc phục dần sự thiếu thôn đó. Những điều mà một số anh em trẻ khác ước ao, nhạy cảm, năng khiếu - anh đã may mắn được cuộc đời ưu đãi ít nhiều. Nhưng anh chỉ có thể khẳng định mình khi vượt sang giai đoạn thứ hai, tức là có khả năng biến cải và nảy nở,

 

1968


 

TỪ CỬA SÔNG ĐẾN

DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH

 

Nguyễn Minh Châu cho in những truyện ngắn đầu tiên khi anh đã ở vào tuổi ba mươi. Một trường hợp vào nghề hơi muộn. Nhưng có lẽ những năm tháng trước đó là thời gian anh tự chuẩn bị. Bởi khi bắt tay viết, anh có ngay được cái sức lực, cái dẻo dai của một người trường vốn. Bước đi đin hình đối với một số người viết khá là: tác phm đầu tay ửng lên những sắc thái năng khiếu, nó là phần tài hoa thiên nhiên, kết hợp với một sự bùng dậy của nội dung vốn sống. Thế rồi từ đó, anh ta kỳ cạch đi - viết, đi đến đâu viết đến đấy, những cái sau không kém thì cũng không mấy khi vượt qua những cái đầu tiên. Trường hợp Nguyễn Minh Châu hình như ngược lại. Thời gian 1960-1964, anh viết một ít truyện ngắn, bút ký, chỉ những người theo dõi kỹ mới đ tâm trông đợi. Ký, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (sau này một số tập hợp lại trong Những vùng trời khác nhau) không chỉ có giá trị tự thân, mà còn hàm chứa một hứa hẹn. Như một người làm báo, Nguyễn Minh Châu nói đến nhiều chuyện, nhiều mảng sống khác nhau. Về mặt bút pháp, mỗi tác phm bé nhỏ đó cũng có những biến hóa nhất định. Nên chủ yếu, có th xem một ít bài viết này như là những thí nghiệm, những sự thăm dò. Ở một số người viết, vẫn có tình trạng như vậy, chỉ cốt cái bước đầu tiên này đừng kéo quá dài, và người ta phải sớm làm được một cái gì đây mà có thể công nhận thật là của mình, từ đó xem xét mình một cách công tâm lấy làm chỗ dựa đđi tiếp. Có những bước ngoặt mà mỗi người phải cố dấn lên một chút hoàn thành, nếu không anh cứ đứng mãi ở cái bờ bên này mà trông sang bờ bên kia, hối hận, tiếc xót.

 

*

 

Chính Nguyễn Minh Châu cũng coi quyn sách vào nghề của mình là quyn Cửa sông.

Hồi ấy là vào những ngày đầu năm 1965. Tác giả về một vùng du kích cũ... Thoạt nhìn ở đây, kỷ niệm kháng chiến được nhắc tới không phải nhiều lắm. Về phía nào đó, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu mang tính chất thời sự rõ rệt - anh nói ngay về những sinh hoạt ở một xóm nhỏ bình thường khi bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại. Có điều, chủ yếu đọc Cửa sông vẫn bắt gặp cái không khí đồng bằng, nơi tác giả đã ở lâu, trong thời gian chống Pháp. Và tác giả thuộc nó, thuộc đến nỗi chỉ cần một ít dòng là anh dựng được một tính cách, chỉ vài ba nét tả là ra một khung cảnh. Với cả người viết lẫn người đọc, các nhân vật Cửa sông, nằm trọn trong những cốt cách quen thuộc. Một cô giáo dịu dàng, nghiêm chỉnh. Một người mẹ địch hậu tốt bụng, cần cù. Một cán bộ cơ sở vững chãi. Họ vừa có gì mộc mạc, dân dã, lại vừa là những con người mới, trải qua chín năm kháng chiến và gần mười năm hòa bình, cái mới Cách mạng mang lại trong họ nhuyễn chín, thành những phm chất bền chắc. Bởi vậy, bước vào những thử thách mới, mỗi người vẫn lòng đầy tin tưởng, tin tưởng đến độ bình thản. Nếu có lúc nào đó, một người như cô giáo Thùy có suy tư tới những điều sâu xa, thì cũng là những ý nghĩ trong sáng sau đây:

Mỗi tấc đất, mỗi con người quen thuộc mà mình từng chung sống, từng dạy dỗ con cái họ đều có một cuộc đời gắn liền với lịch sử đất nước đầy thử thách. Mỗi người đều mang trong lòng bao điều tốt đẹp mà mình có thể học hỏi có thể khám phá suốt đời không hết, để tìm hiu nhân dân mình.

Đúng ra, đấy là cái điều mà tác giả th nghiệm và lấy làm cảm hứng chính cho hơn hai trăm trang sách của mình.

Tính đến cùng, mỗi tác phẩm văn học biểu hiện một phía nào đó không khí thời bui mà nó xuất hiện. Với Cửa sông, có lẽ không có gì gượng gạo nếu nó thuộc loại tác phẩm biểu hiện cái phía bình thản, cả quyết của đời sống giai đoạn 1965 - 1966 đã đi vào lịch sử. Có những điều mà hôm nay chúng ta biết nếu ai viết thế, sẽ bị coi là đơn giản, sơ lược, nhưng bao giờ đọc lại cũng vẫn được chấp nhận. Vì đó là những ý nghĩ của rất nhiều người trong một thời điểm nhất định - tất cả chúng ta hôm qua đều đã nghĩ thế. Cái không khí chân thực, nó là cái điều quan trọng nhất của một tác phẩm, nó giữ mọi chi tiết, mọi bộ phận trong cái thế vững chãi có th có.

Riêng đối với đời văn của Nguyễn Minh Châu, Cửa sông ghi nhận bước đi ban đầu khá chững chạc của tác giả. Rất chân phương, anh bắt vào được cái mạch văn chương của một giai đoạn: tôi muốn nói về nhiều mặt, Cửa sông gần gũi với những tác phẩm trước đó, loại tiu thuyết trên dưới hai trăm trang như Một truyện chép bệnh viện (1939) Đi bước nữa (1950) hoặc những tập truyện ngắn ra cùng thời như Phù sa (1977). Bên cạnh những nét đặc sắc riêng, dễ cảm thấy những tác phm này vẫn có một cái gì đó thuộc về giọng điệu chung, chứng tỏ chúng đều là những sản phm của một giai đoạn văn học; trong cái giai đoạn kéo dài này, tuy lịch sử chuyn từ hòa bình sang chiến tranh, nhưng nếp cảm nếp nghĩ của các tác giả, cũng như của nhiều người trong chúng ta, vẫn là nằm trong một sự liên tục.

 

*

Bởi vì, chỉ sang tác phm sau, điều Nguyễn Minh Châu mang lại đã khác đi.

Dấu chân người lính bắt đầu trích đăng từ tháng 4-1970. Nhưng không khí, vấn đề của nó là vào những năm 1967 - 1968, bốn năm sau thời gian của tiu thuyết trước. Chỉ có bốn năm, nhưng như chúng ta thấy, lịch sử đã sang trang. Bắt đầu thời gian của cuộc Tng tấn công và nổi dậy đồng loạt từ đó, mọi bước đi của Cách mạng nước ta rẽ sang một bước ngoặt mới.

Như một tác phẩm văn học, điều dễ nhận ra là Dấu chân người lính tiếp được một không khí chung, không khí chiến trường trong những năm tháng sôi động. Cả một khung cảnh bề bộn ngn ngang hiện ra ngay từ những trang sách đầu tiên. Chúng ta bắt gặp nhiều bộ mặt, cảm nghe cái tiếng nói đám đông hết sức ồn ào, nhiều người, nhiều việc:

Đông đúc quá! Không có tài nào mà phân biệt hoặc đếm được có bao nhiêu đơn vị, cũng không thể biết đây là đường rừng hay là quảng trường, là rừng cây hay là rừng người và rừng súng đạn. Người ta chỉ biết là đông đúc và chật chội, là hơi nóng của hơi thở và mùi mồ hôi người, là tiếng nói ồn ào của cuộc sống, là đàn ông cần lao đang san một nửa tổ đi đánh giặc, là cơn giận dữ của đất nước lại một lần cầm lấy súng.

Trong hơn tám mươi trang sách ở cái phần một Hành quân, không thiếu những đoạn ngòi bút tác giả như vươn ra, cảm hứng đầy đặn muốn ôm trùm càng nhiều càng hay cái thực tế phong phú với nhịp điệu biến chuyển linh động như vậy. Nó đ lại những ấn tượng mạnh, đậm. Nó gợi lên cảm giác về một cuộc sống quyết liệt trong những năm tháng chúng ta làm hết sức mình, làm tất cả đ đi tới cái mục đích cao cả: sống, chiến thắng.

Các nhân vật của Nguyễn Minh Châu trong Cửa sông chủ yếu quanh qun trong cái môi trường quen thuộc là cái làng xóm nghìn đời của mình. Các nhân vật trong Dấu chân người lính đã đi xa, đã gặp nhiều người khác, đã làm nhiều công việc khác, những việc mà ở nhà, họ không ngờ tới. Giọng điệu chính của Cửa sông là ấm áp hiền hòa, cả đến khi cuộc chiến đấu bắt đầu, không khi vẫn là bình thản, lòng người lại càng bình thản. Trong Dấu chân người lính cuộc sống đã xao động hẳn lên, báo hiệu một cái gì đó, mạnh mẽ, dữ dội, thực tế hiện ra với nhiều mảng khác nhau, có mảng mờ nhạt, nhưng có những mảng rực rỡ, óng ánh. Cuộc sống như bị xô đy như phát trin về rất nhiều mặt, không ai có thể lường trước được ở đó, nỗi vui và nỗi buồn đan chéo nhau, băn khoăn cùng hy vọng tiếp nối, hòa hợp. Quả thật có ai ngờ chính ủy Kinh lại gặp người con trai ngáy giữa chiến trường? Và nói rộng ra, miền rừng xa xôi nào đó lại là nơi hội ngộ của rất nhiều người bạn mới, cũ? Nhưng một mặt khác, mối tình giữa Lượng và Nết không thành, quan hệ Xiêm - Kiếm cũng dang dở, không hiu sẽ sum hợp hay sẽ xa cách hẳn. Không th còn nữa cái cảm hứng chung về hiện thực có phần tĩnh, lặng, như trong Cửa sông... Mọi người buộc phải thay đi.

Nhưng như thế là chúng ta đã nói tới các nhân vật trong Dấu chân người lính. Qua một số mẫu người, quan niệm của Nguyễn Minh Châu và thực tế hiện ra đầy đủ hơn cả.

 

*

Họ tên là Lữ, Khuê, Hiền, Cận, Hoạt... Giữa đám người khng lồ trên đường hành quân những thanh niên đó, và những cán bộ phụ trách Kinh, Nhẫn, Thái Văn... cũng đang đi mải miết. Chúng ta dần làm quen với từng người. Có lúc hồi tưởng những kỷ niệm cũ. Có lúc thủ thỉ bàn chuyện tương lai. Nhưng cái chính là họ đang hăm hở đi, đi trên con đường cụ thể, cũng là đi những bước đi quan trọng trong cuộc đời. Phải đối mặt với những hoàn cảnh mới. Phải gạt bỏ những thói quen cũ, Phải tình cảm hơn mà cũng phải trí tuệ hơn. Đến cuối quyn truyện, chính các nhân vật đó mới có th hiu họ đã vượt qua bao nhiêu thử thách, họ trưởng thành, họ thay đi đến không ngờ. Cần nói ngay là chính tác giả cũng vậy. Trước tiên, điều cần nhấn mạnh về con người nhà văn ở đây là cái khao khát hiu biết, cái khả năng ngạc nhiên. Như là đi đến một điều bí mật, anh tìm hiu mọi người với một thái độ trân trọng, một niềm say mê. Những cảm hứng chung về cuộc sống, cái ý nghĩ trong sáng về nhân dân đất nước mà hôm qua anh mới bắt đầu cảm thấy (qua những điều tâm niệm của cô giáo Thùy đoạn trên đã dẫn), thì hôm nay ny nở đầy đặn, thành một nhận thức rõ rệt trong anh và những nhân vật của anh. Và đó là điều kiện chủ yếu làm nên mối đồng cảm giữa người đọc và tác phẩm. Làm sao tính đếm được hết những gì đã xảy ra trong mỗi con người chúng ta những năm thời chiến không thể nào quên?! Vào cuộc chiến tranh này, mỗi người là một ông Kinh mở lòng rộng rãi lắng nghe những động tĩnh xã hội mà cả đời mình hy sinh đóng góp. Là anh lính trinh sát Khuê phát hiện mình trong chiến tranh, tìm thấy trong hoàn cảnh chiến đấu một điều kiện vận dụng hết khả năng trí tuệ và sức lực sẵn có. Là một cô Nết sống những rung động ban đầu trước cuộc sống chiến trường, nơi hôm qua không sao hình dung ni.

Tất cả, tất cả như được chiến tranh dạy khôn, trở nên cứng cỏi, làm được những việc vượt quá sức mình. Từ Tốt, Thùy, đến Nết, từ bác Thỉnh, ông Lâm, đến Kinh, Nhẫn, có một sự tiếp nối, nhưng đã có một khoảng cách.

Vẫn là những nhân vật của Nguyễn Minh Châu, thường vẫn ân nghĩa, đm thắm, thủy chung, nhưng trong hành động và trong quan niệm triết lý sống, họ đều được thử thách, biến đi, đ rồi trở nên sâu sắc hơn, có khả năng bám chắc vào đời sống, cũng tức là hiện thực hơn, nếu có th nói như vậy.

Trong Dấu chân người lính có một nhân vật chưa hề có tiền lệ trong Cửa sông, đó là trường hợp Lữ. Nhân vật được hình thành và có kết thúc số phận trọn vẹn trong tác phm trước hết là một nhân vật có phần hơi đặc biệt, như là một thoáng hư ảo. Anh say sưa nói về khối lửa. Anh đốt hết sách vở đ mạnh dạn bước vào đời. Đó cũng là anh chàng Lữ mải mê với một ánh trăng đ từ đó tìm cho mình một quan niệm về vẻ đẹp, về lẽ sống.

Đằng sau cái nét mặt thật «vừa thông minh lại vừa hơi đần đần » của Lữ là một bộ mặt tinh thần độc đáo. Tuy vậy, anh vẫn đứng hòa hợp với những nhân vật cùng tui trong tác phẩm, những thanh niên sống rất sôi nổi « Lính trẻ với nhau, toàn là con trai, trông mặt mũi tướng mạo ai nấy đều có vẻ lãnh đạm và quyết liệt, nhưng người ta cũng dễ dàng bật quen với nhau ». Việc bắt gặp một lớp trẻ như thế giúp cho ngòi bút Nguyễn Minh Châu được dịp phô diễn hết vẻ tươi tắn cùng là khả năng đồng cảm sâu sắc với đời sống vốn lúc nào cũng ở thế đi lên phía trước. Ngòi bút của anh sức đang còn trẻ cũng là bởi thế.

Với các nhân vật mới, Nguyễn Minh Châu cũng bộc lộ thêm một khả năng trong việc xây dựng nhân vật, nói cách khác một khả năng gọi đúng hiện thực, trước hết là cái hiện thực trong đời sống tinh thần con người. So với những Thùy, Bân, bác Thnh trong Cửa sông, các nhân vật trong Dấu chân người lính nội tâm phong phú hẳn lên, nhờ nơi ý thức của mỗi người về chính mình, về thực tế chung quanh mình đều phát trin. Mỗi người theo cách của mình đều thích tự phân tích, tự suy xét một người như ông Kinh thương lính kiu đàn bà đã hay nói lý lẽ; Khuê, Nhẫn, càng tỉnh táo lý lẽ, bởi đó là yêu cầu trong công việc của họ. Còn anh chàng Lữ, con người mơ màng? Không, chính anh luôn luôn tìm cách thế nào đ sống cho phải, anh chăm chú nhìn vào người khác và nhìn vào chính mình, anh huy động mọi vốn liếng sách vở. Tóm lại, Lữ sống kỹ lưỡng trong mỗi công việc, cần mẫn đi theo cái niềm tin sắt đá, nó là cái hướng lớn trong cuộc đời. Chúng ta nhớ lại những đoạn nhật kí của Lữ khi qua đoạn sông B. Đó là giây phút con người bình thường đối diện với lịch sử, Lữ thuộc loại người không dễ bỏ qua những kỷ niệm lớn đó. Trong mỗi chúng ta đều có một phần con người Lũ: Chính cuộc sống sôi động những năm vừa qua đã cho phép người ta và cũng là buộc người ta phải vươn tới tầm vóc của lịch sử. Có lẽ đó cũng là một trong những điều mà cuộc chiến tranh vừa qua đ lại sâu đậm trong tâm trí mỗi người bình thường. Những ngày đầu chiến tranh các nhân vật trong Cửa sông chưa th bị lôi cuốn mạnh mẽ như thời gian về sau được.

 

*

Như có người đã nhận xét: Dấu chân người lính chưa phải là một quyền sách viết đều tay.

Nếu chỉ tính đến cấu trúc nội tại, tác phẩm viết trước đó bốn năm của Nguyễn Minh Châu có phần hoàn thiện hơn. Cửa sông trọn vẹn trong quy mô vừa phải của nó. Ở Cửa sông, thực tế hiện ra cân đối nhịp nhàng - cuộc đời thu nhỏ lại trong một cái làng có vui, có buồn thì cũng còn là đơn giản. Các nhân vật ở đó tình cảm lý trí thống nhất, tất cả sống đúng như mình có, không thấy những lay động quá mức, những khao khát, những đòi hỏi phức tạp. Mọi việc xy ra để đi đến chỗ nó phải đến, mọi mối bất hòa được gỡ ra, mọi mối tình đều chín tới, con sông Kiều ra tới tận bin mà cái tiếng sóng bật lên vẫn chỉ là tiếng sóng vừa trang nghiêm vừa dịu dàng. Ứng với một hiện thực như vậy, cái nhìn của tác giả trong Cửa sông trong sáng, điềm tĩnh. Anh đôn hậu nhìn nhận mọi chuyện, thắm thiết cùng kỷ niệm, lắng nghe mọi diễn biến xy ra trong mọi người. Qua anh những mảng người được đưa vào Cửa sông hòa hợp, không chỗ nào trồi ra, sụt vào. Tác phẩm cân xứng, nhịp điệu chậm rãi, câu cú ngắn gọn, chữ nghĩa chính xác.

Ngay từ những mặt này - mặt bút pháp, bố cục, nói chung là những yếu tố hình thức, Dấu chân người lính đã có gì đó không đều tay, toàn bộ không trọn vẹn, bởi các yếu tố không thật hòa hợp. Từng mảng đậm nhạt không đều. Không đều về hình khối bên ngoài cũng như về cấu trúc bên trong Nhân vật đứt nối tùy tiện. Một đôi chỗ, thấy những vết hàn khá rõ. Đã dành không thể tìm thấy trong Cửa sông những trang viết dầy dặn những mảng sống như đắp như chất lên trên trang sách trong phần miêu tả hành quân. Thế nhưng, chính ở Dấu chân người lính lại gặp nhiều hơn đâu hết trong văn Nguyễn Minh Châu những chỗ ngòi bút tác giả quá say sưa, tự mình bị mê hoặc trước những điều mình viết ra, hiện thực đời sống bị chắp vá lắp ghép, câu cú vốn điêu luyện hóa ra xộc xệch. Đứng về mối quan hệ giữa vốn liếng của tác giả và những điều được viết ra, ở Cửa sông, Nguyễn Minh Châu làm chủ được tài liệu đến độ thuần thục. Anh có thể nói ngắn gọn, nói rất điềm đạm. Sang Dấu chân người lính, anh đã phải vươn tới những gì anh chưa có đầy đủ, nên hóa sa đà, chới với.

Chúng ta đều biết: suy cho cùng, những nhận thức về hiện thực đời sống của tác giả sẽ chi phối cả mỹ cảm cùng là những yếu tố hình thức của tác phẩm. Trường hợp Nguyễn Minh Châu với cả hai tiu thuyết Cửa sôngDấu chân người lính ở đây đều là những dẫn chứng xác đáng.

Từ sau Cửa sông, Dấu chân người lính là bước đi tiếp tục, đồng thời là bước đi khác của một người viết - những đổi khác không chỉ do ý muốn chủ quan của nhà văn, mà còn do chính hiện thực đời sống quy định, cả hai yếu tố chủ quan khách quan hòa hợp với nhau, làm nên nét mặt riêng của một Nguyễn Minh Châu cụ thể.

Nhìn lại những biến đi của tác giả Cửa sông, mỗi người chúng ta có dịp đề tìm hiểu thêm những thay đi xảy ra ở chính mình trong những năm qua. Cả trong những mặt thành công lẫn những mặt chưa đạt của nó, một tác phẩm như Dấu chân người lính có thể gần gũi với nhiều người đọc là với ý nghĩa ấy.

 

1973


 

MỘT CÁCH BÌNH LUẬN LỊCH SỬ

 

Từ chỗ đứng của ngày hôm nay

Ý nghĩa của cái thời điểm mà ý định viết sách chín muồi trong tâm trí tác giả: cuối một tập sách, sau cái dấu chấm hết đánh dấu thời điểm kết thúc của một quá trình lao động lâu dài, những người viết văn viết báo thường có thói quen chua thêm mấy chữ chỉ địa đim và nhất là vài con số chỉ thời gian đã hoàn thành cuốn sách.

Thông thường, không mấy khi những con số đó có vai trò gì đặc biệt.

Nhưng có một thứ thời gian mà người đọc giá k có thể biết, thì sẽ rất tốt trong việc cảm thụ tác phm; có một thứ thời đim, mà mỗi khi đối diện với những trang sách, tôi cố dò cho ra, thứ thời điểm chỉ họa hoằn lắm mới thấy ghi và được ghi chính xác, nhưng có thể coi như ngày khai sinh của cuốn sách, nó góp phần giúp ta hình dung cả vóc vạc và dáng vẻ, cùng là cái chất của con người sẽ sinh thành, tức cái xu hướng chính mà tác phm sẽ có:

Đó là cái ngày mà ý định viết cuốn sách thực sự hình thành trong đầu óc tác giả.

Từ thời đim đó mà suy, liên hệ sự kin nêu trong tác phẩm với nhận thức chung của xã hội và của tác giả về vấn đề đó, vào thời gian đó, chúng ta có thể biết khá nhiều về quyn sách.

Nguyễn Khải và những thời điểm ngày hôm nay : Tôi xin được nói rõ điều này, lấy Tháng Ba ở Tây Nguyên làm ví dụ. Tiếng súng mở màn cho Đại thắng mùa xuân bắt đầu là vào đầu tháng 3, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc vào 30-4-1975, còn như ý định viết cuốn ký sự thì, bằng vào tác phẩm, thấy nó cũng đến với nhà văn khá sớm, có thnói chắc chắn là sớm hơn rất nhiều cái thời điềm ghi ở cuối sách là gần một năm sau, Tết Bính Thìn (1976). Viết về chiến thắng ngay sau chiến thắng, khái quát mà nói, viết về ngày hôm nay, thấy Nguyễn Khải đã chọn chính chỗ đứng của ngày hôm nay, sát nách, cụ thể, gần gũi. Anh thu thập được những sự kiện theo như chữ của báo chí vẫn dùng, là nóng hồi ý nghĩa thời sự. Nhất là anh giữ được tình cảm mà sự kiện gợi ra trong lòng mình. Mối đồng cảm giữa tác giả và người đọc cũng từ đó mà hình thành, mối đồng cảm đó là môi trường tốt nhất đ tác giả lên tiếng và tìm được sự gần gũi trong dư luận.

Không phải đây là lần đầu tiên Nguyễn Khải làm theo lối này.

Viết về những sự kiện sôi động trong cải cách ruộng đất và sửa sai, Xung đột tập đầu in rải rác trên Văn nghệ Quân đội từ năm 1957.

Họ sống và chiến đấu k chuyện Cồn Cỏ ngay lúc mọi người đang muốn biết rõ về hòn đảo anh hùng đó.

Chỉ ít lâu sau khi quân Mỹ đ bộ về miền Nam, tác giả cho in trên nhiều tờ báo một loạt bút ký, sau này tập hợp thành tập Hòa Vang.

Lâu nay, hầu như tác phm nào của Nguyễn Khải cũng đã tự xác định rất công khai mối liên hệ với các sự kiện lịch sử - xã hội đang sôi ni một thời. Vượt lên mối quan h trên bề mặt (tức là mối quan hệ thời gian), ở đây, tôi chỉ muốn nói thêm đó là mối quan hệ về bề sâu, quan hệ trong quan niệm, cách đánh giá, tóm lại là về phía chỗ đứng của tác giả.

Có thể đứng ở nhiều góc độ khác nhau đ xem xét một sự kiện. Song, nhìn lại đối với phần lớn các tác giả của văn học ta sau Cách mạng, cái mạnh của ngòi bút nhà văn thường là do khoảng cách hết sức gần gũi giữa tác phm và sự kiện. Viết như những người trong cuộc nói chuyện với nhau, viết như những chiến sĩ vừa tham gia một trận đánh thắng lợi trở về ngồi hàn huyên đủ thứ chuyện chung quanh trận đánh đó, tựa lưng ngay vào những kết luận mà ai cũng công nhận, đón ngay lấy cái tình cảm đang là lẽ sống của nhiều người - tóm lại, những trang viết của chúng ta thường được cái liền mạch, liền hơi với đời sống, có mặt ngay bên các sự kiện khác trong đời sống. Rồi ra, cách nói cách diễn tả cũng từ đó mà đến, gần gũi với sự thực, như thực, ngôn ngữ văn chương là chính ngôn ngữ đời sống, tác giả nào có được rung động tươi mới, thì tác phm sẽ đượm đà sinh sắc hơn.

Nguyễn Khải chỉ khác những người khác ở chỗ: sau khi đã có được cái vững chắc của thế đứng, một ngòi bút lui tới rất giỏi như tác giả Xung đột tha hồ mà tung hoành. Ở đây, trong Tháng Ba ở Tây Nguyên, anh trin khai lối viết rất uyn chuyn, có chỗ cả trang là những ý kiến đua nhau lên tiếng sôi nồi, có chỗ nêm chặt tài liệu. Chuyền đạn, làm kho, ngòi bút không ngại động tới những khu vực bếp núc bậc nhất của cuộc chiến đấu, đ rồi sau đó, lại ngược lên những khu vực bao quát, thuộc về ý đồ chiến lược của Đảng, ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi của chiến thắng lịch sử.

Thành thử, cuốn sách vừa chặt chẽ về nguyên tắc, vừa linh hoạt, đa dạng trong tài liệu. Về cách bài binh bố trận trong một tác phẩm nghệ thuật, tôi nhớ một đồng chí sáng tác kiêm đạo diễn múa có lần giảng giải đại ý: Trong múa, khi đội hình đơn giản, thì động tác có th phức tạp, khi động tác đơn giản, thì đội hình có thể phức tạp - giữa hai cái đó, người sáng tác phải chọn lấy một. Vận dụng vào trường hợp Tháng Ba ở Tây Nguyên, thấy Nguyễn Khải có thể đ cho ngòi bút mình tha hồ tự do lui tới là nhờ ở chỗ chính anh đã đứng rất chắc trên mảnh đất đã chọn.

 

Nguyên lý. Thời gian mở đầu. Địa điểm mở đầu

Còn một khía cạnh khác, thuộc về cách viết chung của nền văn học ta, mấy chục năm gần đây, và được Nguyễn Khải đy tới cùng trong Tháng Ba ở Tây Nguyên, đó là việc viết về các nguyên lý, những đề tài lớn, những chủ đề lớn.

Giữa các thời đại, các nền văn học không chỉ khác nhau trong xu hướng tư tưởng. Mà ngay các chủ đề, những đề tài được văn học đả động tới, cũng đã sai khác.

Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, sự tất thắng của chính nghĩa, sự sụp đ không tránh khỏi của những gì ngụy tạo - nếu trước cách mạng, các chủ đề đó bị lảng tránh bao nhiêu, thì mấy chục năm gần đây, lại được các ngòi bút của chúng ta tập trung biu hiện bấy nhiêu.

Đất nước đứng lên, Những tầm cao, Vùng trời, Vỡ bờ, Gió lộng, Cửa biển, rồi Tổ quốc, Chiến sĩ, Cách mạng: có những tên sách đã nói khá đầy đủ nội dung nhiều cuốn sách. Và còn bao nhiêu tác phẩm khác lấy - những cái tên «nhẹ nhàng» «đơn giản» hơn, song nội dung cũng là những vấn đề to lớn không kém.

Trong toàn bộ xu hướng tư tưởng, và cái cốt cách chủ yếu của nó, Tháng Ba ở Tây Nguyên có thể đội cái tiêu đề biểu hiện những ý niệm lớn như Chiến thắng, Toàn thẳng, Lịch sử...

Mở một trang sách bất kỳ, như trang 51, thấy có những chữ thuộc về nguyên lý: tình thếdiễn biến, cơ quan lãnh đạo chiến lược cùng tổ chức đảm nhiệm chiến dịch và chiến thuật. Rồi hôm nay, rồi ngày mai. Có nhiều chữ được viết hoa như Vĩnh Viễn như Bất Tử như đài Chiến Thng.

Ấy là không k một giọng điệu thành kính, cách dẫn chuyện có đầu có đuôi, những lập luận đanh thép, dứt khoát - toàn yêu cầu cốt tử đối với mọi trang sách viết về các chủ đề thiêng liêng cao cả.

Nhà văn đã tìm được cách viết phù hợp với nội dung của tác phẩm.

Trong quá trình đọc Tháng Ba ở Tây Nguyên, trong tôi còn nảy ra một câu hỏi khác, có vẻ hơi lần mần một chút, nhưng rõ ràng là cần phải tự hỏi:

- Mùa xuân năm 1975, cùng với một số đồng chí khác công tác ở các ngành nghệ thuật trong quân đội, Nguyễn Khải lên đường đi chiến trường. Lần lượt các anh có mặt ở Huế, qua Đà Nẵng, Nha Trang... rồi theo chân các binh đoan lớn mạnh như nước vỡ bờ của quân ta, tiến vào Sài Gòn. Cuối tháng 5 trở ra, thì đến tháng 7, tác giả còn quay vào các tỉnh phía nam một lần nữa.

Đi nhiều nơi, biết nhiều việc. Vậy mà giữa cái lớn lao, bộn bề của chiến dịch, Nguyễn Khải đã chọn cái đim mở đầu là Tây Nguyên, cái thời gian mở đầu là tháng ba. Tại sao như vậy? Ngẫu nhiên chăng?

 

Không thể trả lời câu hỏi này, nếu không liên hệ nó với vấn đề vừa nêu ở trên. Viết về các chủ đề lớn, về các nguyên lý cũng là viết về mở đầu: mở đầu của một thời đại mới. Mở đầu của cách mạng. Từ ấy, vâng, cái tên tập thơ đầu của Tố Hữu cũng là cái tên chung của toàn bộ nền văn học mới: TỪ ẤY!

Từ sau Cách mạng tháng Tám, cho tới 30-4-1975, ba mươi năm ấy, lịch sử dân tộc là một giai đoạn nhất trí. Ba mươi năm, già nửa đời người, gần một phần ba thế kỷ, nghĩ thì cũng dài, song đặt cả giai đoạn này trong lịch sử từ nay về sau, lại thấy 30 năm ấy chỉ là một giai đoạn ngắn, là thời gian của mở đầu, của sinh thành, tái tạo. Mà nền văn học mới cũng rất nhạy bén trong việc nắm bắt cái đặc tính đó của thời đại. Trong phạm vì một chiến dịch chẳng hạn, các ngòi bút của chúng ta, cũng như các nhạc sĩ, ca sĩ, thường tỏ ra hết sức hào hứng, trong việc nói về phút mở màn, trận đánh thứ nhất.

Mười mấy năm trước, khi học những bài thơ như Việt Bắc, Ta đi tới, tôi đã được một giáo viên dạy văn giảng cho cái ý nghĩa của một hai chữ, như chữ thuở trong câu:

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh.

Chỉ một chữ thôi, không khí trong câu thơ đúng là một không khí lịch sử.

Đọc một tác phẩm như Tháng Ba ở Tây Nguyên, có thể bắt gặp nhiều chữ như vậy.

Chương II tập sách có cái tên rất tiêu biểu: Vốn là niềm tin của chúng ta, nhưng được diễn giải qua những nhân vật rất bất ngờ. Vốn là niềm tin của chúng ta, đó là yếu t chủ đạo, còn cách diễn giải bất ngờ là thứ yếu, đến sau. Có điều, qua ngòi bút của Nguyễn Khải, nhiều trang sách vẫn được gọi là bất ngờ, nghĩa là đọc thấy thú vị.

 

Bất ngờ trong ngày hôm nay, bất ngờ trong những ngày tới

Đại thắng mùa xuân 1975 khép lại một giai đoạn lịch sử và Tháng Ba ở Tây Nguyên cũng khép lại một giai đoạn sáng tác của Nguyễn Khải, giai đoạn anh viết về chiến tranh. Đọc Tháng Ba ở Tây Nguyên, bất giác tôi nhớ lại Họ sống và chiến đấu. Cả hai cuốn cùng là ký sự. Cả hai cuốn cùng dày khoảng 200 trang và cả hai cùng một cảm hứng chính, nên cũng cùng một giọng điệu...

Bắt đầu chiến tranh, đến với một tế bào của nó như Cồn Cỏ, Nguyễn Khải như muốn kêu lên: chúng ta đã chiến đấu rất giỏi. Cái anh hùng đã trở thành cái bình thường. Chống Mỹ kế tiếp giai đoạn chống Pháp, con người đã được chuẩn bị, đất nước đã được chuẩn bị, trên dưới đồng lòng, âm hưởng chính của chiến tranh mà ngay từ năm ấy, Nguyễn Khải đã dự đoán và biểu hiện trong tác phẩm, là âm hưởng nhất trí, hòa hợp.

Từ ấy trở đi, khi viết về một đại đội trên chiến trường miền Tây, khi theo dõi bước đi của một chiến sĩ xe tăng trong một chiến dịch lớn như chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, trước sau Nguyễn Khải vẫn là đi tiếp con đường mà chính anh đã vạch sẵn.

Nay đến lượt viết về ngày toàn thắng, có thể nói anh đã đi được một vòng tròn, và về đúng cái đim đã xuất phát ban đầu. Nói Tháng Ba ở Tây Nguyên gần gũi với Họ sống và chiến đấu, bởi lẽ ở cả hai cuốn, bằng những cách tiếp cận khác nhau, nhưng trước sau tác giả của chúng vẫn giữ được một quan niệm, một lập trường nhất trí.

Đọc các tác phm mà Nguyễn Khải đã viết trong mười năm qua, luôn luôn chúng ta bắt gặp một cuộc sống vùa bất ngờ, vừa gần gũi. Đã gọi là cuộc chiến đấu, hẳn bao nhiêu người, bao nhiêu chuyện, kỳ lạ, thay đi, nhưng tất cả lại không đi ra ngoài nguyên lý, tất cả đã được dự kiến sẵn, tất cả đều vận động với một niềm tin thiêng liêng: chiến thắng, toàn thắng. Giữa một địa phương, với toàn bộ đất nước là nhất trí, trong cả bộ máy chiến dịch hết sức phức tạp, các bánh xe hết sức ăn ý hòa hợp với nhau, và nhìn chung về thời gian, thì hiện tại là bắt nguồn từ quá khứ, hiện tại ương mầm cho tương lai, toàn những nối tiếp lý tưởng.

Xét về hình thức biểu hiện, thấy ngòi bút Nguyễn Khải đã cộng hưởng với sự hòa hợp đó sâu sắc, đ rồi chuyn nó vào mọi đường gân thớ thịt của tác phm, từ trong cấu trúc chung, cách sắp xếp các chương mục, đến mở đầu kết thúc từng quyn. Trong văn anh, câu chữ chưa bao giờ vang lên nhịp nhàng như trong mười năm ấy, từ Họ sống và chiến đấu đến Tháng Ba ở Tây Nguyên. Âu cũng là một điều bất ngờ, nếu so sánh với cách nhìn nhận cùng bố cục, câu chữ ở cái tác phm xuất sắc của anh: Xung đột.

Thông thường, ở một bài viết thuộc loại bình luận thế này, đến phần cuối, người ta tỏ ý hy vọng, tin tưởng, ví như chờ đợi ở những bước tiến mới của tác giả trong thời gian tới. Riêng với Nguyễn Khải, nói thế thì không cần thiết, mà dự đoán những điều anh sẽ viết trong những ngày tới thì khó quá. May lắm chỉ có thể tin chắc một điều: luôn luôn sống với hiện tại, cái chất của ngòi bút Nguyễn Khải trước sau vẫn là như thế, hoàn cảnh thay đi thế nào, rồi ngòi bút ấy cũng chèo chở được. Là nhà văn của những ngày hôm nay, ngòi bút của anh luôn luôn biết lui tới theo đúng cái nhịp mà mỗi ngày hôm naycần tới, cho phép, bao gồm cả việc khai thác khá uyn chuyn những khía cạnh bất ngờ của nó. Hai chục năm qua, con người nhà văn trong Nguyễn Khải đã là một ví dụ về sức sống mạnh mẽ của nền văn học mới trong một thời đại mới.

 

1977


 

NGUYỄN KHẢI

HAY LÀ MỘT CÁCH TỒN TẠI TRONG VĂN HỌC

 

Ở Hà Nội, Nguyễn Khải có một căn phòng mười bốn mét vuông ở bãi Phúc Xá; khu nhà tập thể này ở ngay vệ sông, cứ đến mùa lũ, nước sông Hồng dâng lên là phải lo chạy vào trong phố ít ngày. Nhưng ở đấy liền hai mươi mốt năm, Nguyễn Khải hoàn toàn thoải mái, lại còn đi đâu cũng khoe: Ngoài bãi mát, yên lặng, ngồi viết thích lắm.

Hình như con người này rất có duyên với những xóm nghèo ven nội. Vào Sài Gòn, anh lại ở ngay Khánh Hội. Nhà cửa còn tuềnh toàng, thiếu thốn đủ thứ, nhưng vẫn có cái để khoe: Dẫu sao cũng rộng hơn nhiều, so với Hà Nội - Nguyễn Khải bảo vậy. Vẫn như xưa nay, anh hồ hởi cười nói khi gặp bạn bè, và tôi cảm thấy một niềm vui cố hữu nơi anh: niềm vui được sống, được viết. Chỉ thế thôi cũng đã quý lắm!

Trong đời sống hàng ngày, có thể bảo đây là một người hay la cà. Ngay cả những tháng viết bận nhất, Nguyễn Khải vẫn dành thời giờ lên phố, ghé lại một tòa soạn hay một nhà xuất bản nào đó, trò chuyện với anh em, thậm chí sẵn sàng ngồi ở một hàng nước vỉa hè, bắt chuyện với một người bên cạnh không hề quen biết. Nhưng kéo được Nguyễn Khải vào một đám lai rai thâu đêm thì khó lắm! Đó là con người biết tự chủ, không sa đà vào đâu quá lâu, làm gì thì làm nhưng trước tiên là ngài đến chuyện viết, lấy sự viết làm lẽ sống của mình. Mới đầu, là một cách tự răn mình. Sau, thành một thói quen không thể thay đi. Khoảng 1966 - 1967, thấy Đỗ Chu đang viết lên tay với tập Phù sa và đang chuẩn bị viết Ráng đỏ, Nguyễn Khải thường bảo: Lúc ngòi bút đang đà thế này, có việc gì không quan trọng hãy gạt sang một bên mà lo viết cái đã - Đấy là lời khuyên không chút màu mè Nguyễn Khải thường dành cho những anh em trẻ hơn mỗi khi cảm thấy giữa mình với người bạn trẻ ấy có một sự tin cậy.

Tập trung tất cả cho sáng tác như vậy, nhưng một phía khác của tài năng Nguyễn Khải lại là rất tỉnh, không bao giờ chịu là tù nhân của những ảo tưởng mê muội. Ngay từ khoảng 1963, anh đã nói rõ trong một tham luận tại Hội nghị Ban chấp hành Hội Nhà Văn Việt-Nam: Tự lượng sức mình là một điều hết sức quan trọng với mỗi người viết. Và Nguyễn Khải biết tự lượng thật. Khi gọi là ký sự, khi mang danh tiu thuyết, nhưng các tập văn xuôi của anh mỗi tập thường chỉ 150-200 trang. Lúc đùa bỡn, anh bảo: Viết thế để người ta có thể đọc ù một cái, một hai buồi trưa là xong”. Những lúc nghiêm chỉnh hơn, anh tâm sự:

- Sức mình chỉ đến thế, không nên kéo ra dài hơn. Điều quan trọng là thức tỉnh người đọc cùng nghĩ, chứ ai có sức mà nghĩ thay họ được.

- Từ quãng đời viết văn đã qua của mình, anh có rút ra kinh nghiệm gì đặc biệt? - Có lần đâu khoảng 1969-1970, tôi mạnh dạn phỏng vấn nhà văn như vậy.

Thứ nhất, lúc nào cũng phải cố lên một tí, chứ viết là dễ ngại lắm. Như tôi vẫn nói, làm sao viết hết sức mình đ giá k có phải đi trở lại, mình vẫn chỉ đi có con đường ấy.

Thứ hai, phải nên luôn tỉnh táo đ chỉ làm đúng những điều mình có thể làm. Xem người khác viết đ học, nghe người khác khen chê đ rút kinh nghiệm là cần. Nhưng hoang mang, hay thay đi, rồi học đòi bắt chước, ai bảo thế nào cũng làm theo, là mất hết cốt cách, và với nhà văn, thế là tự sát!

Ban đầu cách viết của Nguyễn Khải bị kêu rất nhiều: nào hay bình luận hay lý sự, nào lạnh, thiếu say mê, nhân vật không rõ mày mặt, không nổi trên phương diện tạo hình; và bố cục thường lỏng lẻo, người viết không phải là một thứ tạo hóa cao tay v.v... Nguyễn Khải chịu đựng những lời chê đó với một sự bình thản. Lâu dần, một cách viết hình thành, người ta đâm quen với ngòi bút anh. Một hai năm, Nguyễn Khải lại có một cuốn sách in ra, và gần như cuốn nào cũng được dư luận chú ý.

 

*

Có một dạo, Nguyễn Khải nổi lên như một người chuyên viết về nông nghiệp. Những mẫu cán bộ huyện, xã, bị thư, chủ tịch, phó chủ nhiệm phụ trách ngành nghề, rồi một bà già tham lam, một thanh niên mới lớn nhiều mơ mộng... tất cả rất quen với anh. Mùa màng, thời vụ, các loại giống lúa, các loại cây đay, cách đạp chè của các bà, các chị ở Thái Ninh (Phú Thọ), lối chuyên chở cá bột trên tàu hỏa ra sao... hình như việc gì ở nông thôn, anh cũng thành thạo.

Nhưng khoảng 1957-1959, đọc Xung đột và về sau, đọc Cha và con và..., không ít người quả quyết Nguyễn Khải sinh ra đ viết về công giáo. Cách nói, cách nghĩ của người theo đạo nhuyễn vào ngòi bút của anh, và nếu trò chuyện với tác giả khi anh đang viết, thấy nó nhuyễn cả vào lời nói hằng ngày của anh nữa.

Từ sinh hoạt của những chiến sĩ công binh miền Tây, các du kích đội thuyền Vĩnh Linh tiếp tế cho đảo Cn Cỏ những năm chống Mỹ, tới những phòng khách sang trọng của Thành phố Hồ Chí Minh, dù là đã sau giải phóng, khoảng cách thật là xa xôi. Xa trong không gian, thời gian, những chi tiết cụ thể và xa cả trong cách nghĩ của con người! Vậy mà viết về đâu, Nguyễn Khải cũng rành rẽ như chuyện của chính mình. Đây trước tiên là thái độ tỉ mỉ, là tinh thần trách nhiệm trước những gì mình miêu tả (tôi nhớ những lần Nguyễn Khải kiểm tra đi kiểm tra lại một hai chi tiết thuộc về kỹ thuật có liên quan đến một hai nhân vật nào đó...) Nhưng quan trọng hơn là sự thông cảm, là yêu cầu hóa thân vào cuộc sống đích thực của nhân vật. Khả năng tự quên mình đi đ sống cho thoải mái đã biến thành khả năng chấp nhận cuộc sống của những người khác, coi đó là điều hoàn toàn tự nhiên mà một nhà văn phải biết đón lấy và làm nổi lên, như một sự thật sinh động.

Người ta hay nói: nhà văn giỏi là người biết gọi cho ra các nhân vật. Ở những trang viết thành công của Nguyễn Khải, công thức đó được triền khai thành hai vế: a) Nhà văn phải diễn tả sao cho mỗi nhân vật của tác phẩm trở thành một con người độc đáo, không lẫn với chung quanh - chỗ giống nhau chủ yếu của mỗi chúng ta là không ai giống ai; b) Nhưng từ sự diễn tả đó, nhà văn phải vươn tới một cái gì cao hơn, phải phát biểu được những điều chính mình suy nghĩ và cảm thấy một cách sâu sắc, nó cũng là yếu tố chính tạo nên nét mặt riêng, cốt cách riêng của một ngòi bút, như người ta vẫn nói, Nếu ở phương diện thứ nhất, chúng ta thấy tài năng của Nguyễn Khải, thì ở phương diện thứ hai này, anh hiện ra như một ngòi bút có tầm vóc. Nguyễn Khải thường biết nâng những hiện tượng bình thường thành vấn đề khái quát, đrồi đề nghị chúng ta cùng anh suy nghĩ về mọi chuyện. Theo cách trình bày của anh, đời sống hàm chứa bao điều phức tạp, không dễ gì một lúc lần ra rường mối của nó (Xung đột); cuộc sống là nơi đào tạo nhưng cũng là nơi thử thách mọi mặt nhân cách con người (Ra đảo); có trăm nghìn nẻo sống khác nhau, nhưng hiu được đời sống, và sống cho có ý nghĩa mới thật khó Cách mạng, Gặp gỡ cuối năm); và, vượt lên trên từng kiếp người riềng tư, có cuộc sống của xã hội, đất nước, cộng đồng, mà còn lâu, chúng ta mới nhận thức được đầy đủ (Thời gian của người) v.v... và v.v...

Nên cắt nghĩa như thế nào về những đoạn bình luận, lý sự khá đậm đặc trong các trang văn xuôi của Nguyễn Khải? Theo tôi, đây không phải hiện tượng đơn nhất, ngẫu nhiên, mà có nguồn gốc hợp lý của nó. Trong đời sống tinh thần của xã hội ta từ 1945 tới nay, nếu có khía cạnh nào ni lên đặc biệt rõ rệt thì đó là sự xâm nhập của chính trị vào đời sống bình thường mỗi người, khiến cách suy nghĩ của bất cứ ai cũng trở nên sắc bén hơn hẳn. Các vấn đề xã hội chính trị là đầu đề đ chúng ta bàn bạc, sự lợi hại về chính trị là tiêu chuẩn chính đ xem xét mối quan hệ giữa người với người. Gần như ai cũng hoạt động chính trị và có từng trải về chính trị. Mặt khác, trải qua mấy chục năm cách mạng, cuộc sống trên đất nước ta dù là một làng xóm heo hút giữa đồng bằng sông Hồng, hay một đồn điền cao su cũ, Biên Hòa, Lộc Ninh... đều có bao nhiêu thay đi, bao nhiêu điều đáng bàn và cần bàn cho thấu đáo. Nói phong cách Nguyễn Khải chẳng qua là sản phẩm của đời sống hôm nay là vì lẽ đó, nếu không có Nguyễn Khải chắc cũng phải có những ngòi bút khác, viết theo cách Nguyễn Khải đang viết. Có thể so sánh một chút, đ thấy cách bàn luận lý lẽ của Nguyễn Khải và nhân vật Nguyễn Khải mang đậm dấu ấn thời đại, chẳng hạn so với Nam Cao. Trước đây mấy chục năm, trong sự tẻ nhạt đều đều của một xã hội thuộc địa, một ngòi bút như Nam Cao có triết lý, thì cũng là nhân những chuyện cụ thể trong mối quan hệ giữa người với người mà khái quát lên. Nam Cao hay nói sự no đói ảnh hưởng đến tâm lý con người ra sao, cái nghèo có thể làm nhân cách con người thay đổi đến đâu. Mỗi mệnh đề triết lý của Nam Cao thường ngắn gọn, đôi khi như là những điều nghiền ngẫm quá lâu, im đi không đành nên phải buột ra, sự suy nghĩ mang dáng dấp một lời tự nhủ hoặc một lời chì chiết, đay nghiến. Nay ở Nguyễn Khải, không riêng tác giả mà các nhân vật cũng hay nói, thích nói, người nọ đối diện người kia đồng tình, phản bác nhau, xét nét, dí điện nhau. Lý sự trở thành câu chuyện hàng ngày, nhất là lý sự về những khía cạnh xã hội chính trị của đời sống: mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung; khả năng dễ sai lầm của con người và vai trò của lý trí; xu hướng đơn giản chủ quan trong tư duy của mỗi người và những biến hóa vô tận của đời sống v. v.., và v. v... Nhiều vấn đề tương tự được đề cập tới trong tác phẩm của Nguyễn Khải một cách khá hào hứng. Như tất cả chúng ta, có lúc nhân vật của Nguyễn Khải và bản thân Nguyễn Khải nữa nhận xét đánh giá mọi việc còn hàm hồ, tùy tiện. Nhưng sự chân thành suy nghĩ ở họ là điều đáng ghi nhận. Nhiều lần Nguyễn Khải nói với tôi, đại ý: kết luận rút ra đâu phải đã là chân lý cuối cùng nhưng cứ nói được những điều mình nghĩ và xới lên đ người khác cùng nghĩ với mình, đã thấy rất sung sướng.

Đã rõ triết luận là một đặc điểm nhất quán trong tư duy văn học của Nguyễn Khải nó làm cho ngòi bút anh khi bốc lên sôi ni, lúc đằm xuống, trầm tư suy ngẫm và không thiếu vẻ tinh tế. Tuy nhiên, lại cũng phải thấy nhất quán như vậy nhưng cùng với thời gian, màu sắc triết luận ở Nguyễn Khải mỗi năm mỗi khác. Từ chỗ cuồng nhiệt (đôi khi là lối áp đặt một chiều) nay cách nghĩ đó đã phần nào có được cái lui tới, cái chừng mực cần thiết. Nếu hôm qua, Nguyễn Khải đã rất thành công trong việc diễn tả những gay gắt quyết liệt của đời sống thì hôm nay nhà văn có phần thấm thía sự đời hơn, cái nhìn ra chiều độ lượng và thông cảm hơn. Từ Xung đột qua Cha và con và..., từ Họ sống và chiến đấu, Hòa Vang qua Thời gian của người, cách đặt vấn đề giọng điệu tác giả đều có đi khác. Như tất cả chúng ta, Nguyễn Khải cũng ở trong một quá trình vận động liên tục.

 

*

Nhưng dù vận động ra sao, thì trước sau Nguyễn Khải vẫn là một người làm nghề cần mẫn. Người ta chỉ hay nói tới tác giả Xung đột, Gặp gỡ cuối năm... như một người thích cao đàm khoát luận, nhưng mấy ai biết, con người này đã có những lúc ngồi như cắm mặt xuống bàn, chữa đi chữa lại từng trang sách, những khi vắt vẻo trên chiếc xe đạp, đạp từ đầu thành phố tới cuối thành phố, xem lại morat một bài báo sắp in, hoặc những khi mê mải trước những cuốn sách tiếng Pháp mong tìm thấy ở đấy một ít điều gợi ý cho những trang viết sắp tới của mình. Văn xuôi Nguyễn Khải hôm nay, bề ngoài có cái dễ dàng t nhiên như lời nói hằng ngày, song nhìn cho kỹ, thấy chữ nghĩa rất chỉnh, câu cú tính toán kỹ càng, tiếng nói nhân vật và tiếng nói tác giả cài chen lẫn nhau tạo nên một thế giới đa thanh mà chỉ văn xuôi hiện đại mới có.

Sinh năm 1930, năm nay (1985) Nguyễn Khải vừa 55 tuổi. Sẽ là bốc đồng, nếu bảo một ngòi bút tuồi ấy đang sung sức, nhưng quả là Nguyễn Khải đang viết, kiên trì, bền bỉ, như ngày nào mới 25-30. Đối với một số đồng nghiệp, cuộc đời Nguyễn Khải không chỉ là tng số những gì anh đã viết ra, mà còn là một bằng chứng về sự tồn tại của những người làm công tác văn học trong những năm tháng này. Trong cuộc đời đó, có đủ niềm vui và nỗi buồn, những phút vinh quang được không biết bao nhiêu bạn đọc khác nhau tìm đọc, tranh cãi, và những phút đơn độc, một mình một bóng trước đèn, trước trang giấy trắng; trong cuộc đời đó rất nhiều khoảng sáng chói lên rực rỡ nhưng cũng không thiếu những khi trống rỗng tẻ nhạt, k cả những thoáng xót xa vô lý. Nhưng biết làm thế nào, nghề gì chẳng vậy nữa là nghề văn; còn sống, còn viết là còn vất vả. Dẫu sao, so với nhiều đồng nghiệp, cuộc đời viết văn của Nguyễn Khải đến hôm nay, vẫn là nhiều thành đạt. Những người trẻ hơn có thể nhìn vào đấy đ thấy nghề văn vẫn là một nghề tốt đẹp, nếu có năng khiếu, người ta thật đáng bỏ cả cuộc đời vì nó.

1985


 

NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN

 

Trong cái thế giới hỗn độn là đời sống văn học trước năm 1945, chung quanh tên tuổi Nguyễn Tuân, người ta thường thấy chất lên đủ thứ giai thoại kỳ cục. Rằng ông chơi ngông không kém gì Tản Đà hồi nào; rằng ông cầu kỳ, ln mn, thích làm dáng, thích khác đời v.v. và v.v. Những điều đó ít nhiều không phải không có chỗ đúng.

Có nhiều lý do xui khiến Nguyễn Tuân làm thế, trong đó có lý do quan trọng này: ông muốn phủ nhận xã hội đương thời. Không được biu hiện qua những hành động tranh đấu nồng nhiệt, lòng yêu nước trong ông chỉ còn cách thoát ra ở dạng chán chường tất cả và đi vào phụng thờ những gì đã thuộc về quá khứ. Có tư cách nghĩa là không thuận theo đời thường - ông sống vậy và viết vậy.

Trong lúc một số người chạy theo Âu hóa thì ông quay về với những vẻ đẹp vang bóng một thời. Trong lúc một số người viết văn lai căng, thì ông không quản nghiền ngẫm, tu luyện công phu để tạo cho văn mình những đường nét cổ kính mặc dù đó là vẻ cò kính rất hiện đại. Luôn luôn, trong từng bài viết, thậm chí, trong từng câu văn, ông muốn tạo những hiệu quả bất ngờ và ít nhiều, đã thực sự làm được điều đó. Bởi con người có thiên lương và rất phóng túng nơi ông lại là con người giữ được cái cảm giác thiêng liêng trong hành nghề và hiệu chỉ với trình độ nghề nghiệp cao, thì sự độc đáo của mình mới có ý nghĩa. Người nghệ sĩ như kẻ đóng một cái khung - ông bảo vậy - phải tháo ra đóng lại, đến lúc cảm thấy không ai đóng hơn được mình mới thôi. Một nhà văn bạn ông nhận xét: mỗi khi viết, ông thường có cái dáng cặm cụi rất đáng trọng.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay, cuộc đời Nguyễn Tuân cùng thay đi trong cái thay đi chung của cả đất nước, dân tộc. Cộng với những sự thúc đy sâu xa như lòng yêu nước, thiện chí muốn làm những việc có ích, hình như ở ông còn thấp thoáng cái ý tưởng sau đây, nó là một sự thách thức thú vị: Nhiều người dự đoán một nghệ sĩ phóng túng như chàng Nguyễn ngày trước sẽ không thể chịu được những yêu cầu chặt chẽ của đời sống cách mạng? Thì ông sẽ sống được và sống thoải mái cho họ biết! Và thế là ông sẵn sàng «tự cải tạo». Nhiều nét cá tính của ông, trong điều kiện xã hội mới, có một bộ mặt khác hẳn. Ông sống bám sát các sự kiện xảy ra trong xã hội và luôn tìm cách đóng góp phần mình đthúc đầy đời sống vận động đi tới. Ông đi với bộ đội trong nhiều chiến dịch gian kh hồi chống Pháp. Ông trở lại với Tây Bắc, Điện Biên những năm 1958, 1959. Chuyện đồng bào và bộ đội ở đó làm đường, dựng nhà, vừa lo sản xuất, vừa lo bảo vệ Tổ quốc được ông k lại trong tập Sông Đà nổi tiếng. Rồi ông đi lại nhiều lần ở bờ bắc Bến Hải, chuẩn bị cho tập Sông tuyến... Đi đến đâu, ông cũng tìm thấy những nét đẹp, đẹp trong cảnh sắc thiên nhiên, và nhất là đẹp trong hình ảnh con người vượt qua gian kh khẳng định, ý chí của mình. Viết văn, với ông hôm nay giống như những dịp trò chuyện với người tri âm, tri kỷ, vẫn đậm đà, duyên dáng như xưa, song câu chuyện giờ đây lại thường có được cái ý nghĩa thiết thực, lành mạnh mà người cán bộ Nguyễn Tuân cảm thấy cần phải có mỗi khi nói điều gì đó, với đông đảo bạn đọc. Trong lúc ngòi bút ông trở nên thân tình với đại chúng hơn, thì qua sự tiếp xúc, ngày càng nhiều người cảm thấy cần nâng mình lên, đgần gũi hơn với ông. So với trước 1945, độc giả của ông hôm nay đông đảo hơn hẳn.

Trong lao động nghệ thuật, ngòi bút Nguyễn Tuân vẫn giữ được vẻ nghiêm túc vốn có. Nguyễn Tuân thường bảo viết văn là một sự khhạnh. Kh hạnh chuẩn bị, đ có một tầm hiu biết rộng rãi, một vốn liếng văn hóa cơ bản. Lại khổ hạnh, kỹ lưỡng trong từng công việc cụ thể. Nghĩ rằng lúc nào đó mình sẽ phải viết về những nhịp cầu trên đất nước, ông thu thập cả một tập hồ sơ, về các loại cầu, các kiu cầu, trong đó có cả những tấm ảnh đ khi viết nhìn vào đó cho được cụ th. Vậy mà chưa đủ. Khi đến với cái cầu ông định tả, ông đếm kỹ xem ở đó có bao nhiêu nhịp, tổng cộng bao nhiêu miếng ván, bao nhiêu ván ở bờ bắc, bao nhiêu ván ở bờ nam, v.v.. Bao giờ Nguyễn Tuân cũng hết mình trong công việc như vậy. Con mắt nghệ thuật ở ông quy tụ được những phẩm chất khác nhau: rất cụ thể mà cũng rất thơ mộng; vừa nhạy cảm vừa uyên bác.

Tên tuổi Nguyễn Tuân vốn gắn với thể tùy bút. Đó là một th văn xuôi rất mềm mại, ở đó nhà văn không cần nhân vật, không cần cốt truyện, chỉ đứng ra mà k, mà tả trước bạn đọc. Bởi vậy, tùy bút cũng là một th rất khó, nếu người viết không đủ bản lĩnh, tác phm rất dễ rơi vào nhàm chán. Về phần mình, Nguyễn Tuân đã lui tới trong tùy bút khá thoải mái. Qua các thiên tùy bút, con người Nguyễn Tuân có dịp hiện ra rõ rệt và quả thật, đã từng đ lại ấn tượng đậm đà trong tâm trí nhiều người chúng ta cũng như cả một số bạn bè nước ngoài. Đọc Nguyễn Tuân, thấy người Việt Nam hôm nay đã làm nên những sự nghiệp lớn lao đánh Pháp, đuổi Mỹ và giờ đây đang hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước. Nhưng đọc Nguyễn Tuân còn thấy con người Việt Nam - trong đó có mỗi chúng ta thường vẫn thấy xao xuyến trước vẻ đẹp của một nhành hoa, vẫn bồi hồi lắng nghe một điệu quan họ hoặc nhìn mãi không chán một bức tranh làng Hồ, lại biết hết sức trân trọng tiếng nói thiêng liêng của cha ông và muốn góp sức đề tiếng nói đó ngày mỗi thêm trong sáng, thêm giàu có. Nhưng không phải chỉ có thế. Cùng với Nguyễn Tuân, chúng ta thấy yêu những bông tuyết đầu mùa Leningrad, nụ hồng kỳ diệu Sophia, yêu Lỗ Tấn và B. Brecht, mê Dostoevskyv à Picasso. Không gì tốt đẹp của nhân loại mà lại xa lạ với chúng ta cả!

Theo các tài liệu chính thức, Nguyễn Tuân sinh năm 1910 và đến 10-7-1985, ông vừa trọn ba phần tư thế kỷ làm người, trong đó có gần nửa thế kỷ cầm bút. Đúng là ông đã khởi nghiệp trong sự gắn bó chặt chẽ với quá khứ (từ những Nguyễn Du, Tú Xương mà ông sẵn sàng đọc đi đọc lại, đến Tản Đà, Thạch Lam mà ông có quen biết riêng). Song phần chủ yếu ở ông là thuộc về nền văn học sau 1945. Trong đội ngũ các nhà văn Việt Nam hôm nay những người đã làm tất cả đ có th có ích ngay cho sự nghiệp cách mạng - Nguyễn Tuân là một trong những người đứng ở hàng đầu.

 

1985

 


XUÂN DIỆU VÀ VIỆC TÌM HIỀU

GIA TÀI VĂN HỌC CỦA ÔNG CHA

 

Trong kho tàng văn học nước nào cũng vậy, có một bộ phận được gọi là c điền. Đó là những tác phẩm tác giả chịu được mọi thử thách của thời gian. Mãi mãi, đó là những giá trị được bạn đọc yêu thích; dù đã đọc đi đọc lại hàng trăm lần rồi, người ta vẫn cứ muốn có một bản trong nhà, thỉnh thoảng giở ra xem lại. Tác phẩm như có mặt bên chúng ta, cùng chúng ta sống qua mọi vui buồn của cuộc đời. Càng từng trải, càng có kinh nghiệm đời hơn, chúng ta càng thấu hiều và tâm đắc với những điều từng được viết ra hết sức sâu sắc đó.

 

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÔNG PHU

Khi nhận lấy việc bình giải, cắt nghĩa, suy nghĩ thêm về thơ Nguyễn Trãi, Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Cao Bá Quát, thơ Nguyễn Khuyến, thơ Tú Xương, thơ Nguyễn Đình Chiu, Xuân Diệu đã nhận lấy một công việc dũng cảm: Nói về những cái tưởng như ai cũng biết rồi, ai cũng đã nhiều lần nghe tới. Nói sao đ có những phát hiện mới, cái đó thật khó.

Có điều, đó cũng lại là một công việc chạm đến tình yêu văn học của mọi người, nếu làm tốt, ắt những trang nghiên cứu sẽ lan truyền rộng, xa. Phê bình nghiên cứu mà cũng có sức mạnh phổ biến, như chính sáng tác vậy.

Và đó chính là ưu điểm nổi bật của bộ sách chúng ta đang nói, hai tập Các nhà thơ cổ điền Việt Nam (H. 1981-1982).

Những bài viết tập hp ở đây thu góp công trình tác giả theo đuổi đã mấy chục năm trời. Công trình kề biết mấy mươi - đó là những công trình nghiên cứu chững chạc, kỹ lưỡng. Viết về bất cứ tác phầm nào, nhà nghiên cứu Xuân Diệu cũng đối mặt với từng dòng từng chữ, đọc đi đọc lại nhiều lần; sau khi tìm kiếm khá đầy đủ những tư liệu liên quan trực tiếp đến «đương sự», lại đọc rất kỹ những ý kiến trước mình đã viết về tác phẩm tác giả đó, đ thẩm định, kê cứu. Đọc sử. Đọc các hợp tuyn văn học. Khi cần, nghe thêm các chuyện ngoài rìa”. Viết về Tú Xương, không quên viết về Nam Định hồi đầu thế kỷ. Viết về Nguyễn Khuyến, dừng lại ở từng đin cố đứng đằng sau hai câu thơ chữ Hán, đ bàn về sự sâu sắc của cụ Tam Nguyên khi sử dụng những đin cố này v.v.. Tác phẩm càng lớn - như trường hợp Kiều, thơ Hồ Xuân Hương - sự tìm kiếm tài liệu kê cứu càng nhiều. Nhờ thế cuối cùng, bao giờ Xuân Diệu cũng có được cái tự tin ung dung Vâng, các vị bàn thế nào, tôi đã đọc cả; giờ tôi xin bàn thêm.

Sự tin cậy của công chúng cũng như của anh em trong giới đối với các bài viết Xuân Diệu từng cho đăng rải rác mấy chục năm nay là bằng chứng chứng tỏ lao động nghiên cứu văn học của anh có chất lượng và đạt năng suất cao. Các bài viết vừa chắc chắn trên phương diện văn học sử, vừa vững vàng trong thm định.

 

PHẦM CHẤT NGHỆ SĨ

Nhưng sở dĩ người ta nhớ và thích văn nghiên cứu của Xuân Diệu, cái chính là do tác giả đã mang vào đây tất cả tâm huyết của một người sống chết với văn học, yêu vô cùng tiếng mẹ đẻ, yêu sự nghiệp của cha ông. Nói theo chữ Xuân Diệu thường dùng, cái tình yêu đầy rẫy đó đã thấm vào văn anh, làm nên mạch đập run ry trong mỗi dòng chữ, làm nên sức cuốn hút của từng trang viết.

... Lòng Xuân Hương là lửa, tay Xuân Hương có điện, nên các chữ đều sống cả lên. Không cứ nói về Xuân Hương, mà về bất cứ ai, Xuân Diệu cũng tìm bằng được cái lửa, cái điện của riêng người đó. Mà tìm ở đâu? Tìm ngay ở những vang hưởng tác phầm gợi lên trong lòng mình. Luôn luôn anh đặt mình ở cái thế còn phải vươn lên nữa, hoàn thiện nữa, mới hiều hết cái đẹp cái hay của tác phẩm. Khi phân tích tác phẩm, anh lại luôn luôn đặt mình vào địa vị người sáng tác, đ nói cho thấu đáo từ việc dùng một chữ, đặt một câu đến cấu tứ chung của cả bài.

Trên mọi trang sách, đối tượng được bàn cụ thể là những nhà thơ cổ điền Việt Nam. Nhưng đằng sau đó, Xuân Diệu còn chạm đến những vấn đề lớn hơn: thế nào là sáng tạo? Có phải sự sáng tạo thường công phu và kỳ lạ biết bao, bởi vì, độc đáo thay, nó còn đây với thời gian, và người ta có thể bàn mãi không hết?

Về phương diện này, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của Xuân Diệu có thể rất có ích với những ai muốn hiu và cảm thấy còn phải đọc nhiều mới hiểu được thế nào là thơ, thế nào là văn học.

 

CUỐN SÁCH PHỔ CẬP

Trước khi trực tiếp viết về các giá trị văn học c điền, Xuân Diệu từng là tác giả của nhiều tùy bút, tiểu luận bộc bạch những cảm nghĩ của một người làm thơ trong chế độ mới: Những bước đường tư tưởng của tôi, Phê bình giới thiệu thơ, Dao có mài mới sắc v.v... Trong những áng văn xuôi đó, nhiều lần nhà thơ như muốn kêu lên nỗi sung sướng là được sống trong thời đại này, có một công chúng rất tri âm tri kỷ là đại chúng nhân dân, khiến mình phải cố gắng rất nhiều mới khỏi phụ lòng những bạn đọc thân quý đó.

Với Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, lại một lần nữa ý hướng phục vụ đại chúng của Xuân Diệu được bộc lộ rõ. Trong văn phê bình nghiên cứu, luôn luôn anh hiện ra như một diễn giả kỹ lưỡng, tỉ mỉ. Anh không yêu cầu gì ở người nghe, ngoài một điều tối thiu là lắng nghe anh. Về phần mình, anh đã chuẩn bị tất cả cho ta, và đã cho hết lòng. Đối diện với mỗi tác giả tác phm cổ đin, anh chia sẻ với ta từng biến thái bé nhỏ xảy đến trong tâm trí. Đó là một lối viết muốn đào cùng tát cạn mọi hiện tượng, phanh phui bằng hết mọi bí mật trong sáng tác văn học. Trong không ít trường hợp, người đọc cảm thấy người nghiên cứu ở đây là một người lắm lời, và có phần tán ra quá rộng, không tuân thủ một quy luật trong giao tiếp, một quy luật mà chắc tác giả biết rất rõ cần gợi nhiều hơn nói; cn ngăn gọn, hàm xúc. Tuy nhiên, đấy đã là cố tật của anh. Mượn một cách nói mà người ta vẫn nói về những người có cá tính mạnh mẽ:

- Không thế thì đã không phải là Xuân Diệu!

 

ĐI ĐẦU TRONG VIỆC TÌM KIẾM

GIA TÀI VĂN HỌC CÓ ĐIỀN

Bên cạnh sáng tác thơ, sự nghiệp nghiên cứu dịch thơ nước ngoài Xuân Diệu khá đồ sộ. Anh từng là tác giả của gần chục công trình giới thiệu thơ thế kỷ XX. Đối với thế hệ nhà văn mới viết từ sau cách mạng - phần lớn không có khả năng tự mình giao tiếp đón nhận sáng tác hôm nay của thế giới - công việc môi giới của Xuân Diệu quả rất có ích.

Nhưng tôi cho rằng cái công của Xuân Diệu trong việc trở về với nguồn thơ dân tộc lại còn đáng quý hơn một bậc nữa.

Đọc văn thơ nước ngoài, hiu được cái hay của nó, học được nó, không phải là dễ. Nhưng sự lôi cuốn ở đây rất lớn, lúc nào ta cũng có nguyện vọng muốn đọc thêm hiều thêm.

Trong khi đó, do điều kiện đặc biệt của sáng tác văn học c điền trong các thế kỷ trước, đối với những người cầm bút hôm nay, việc tiếp xúc đôi khi là cả một trở ngại, cả về văn tự, lẫn thói quen cảm xúc, viết lách. Ta có thể nói như vẹt rằng phải phát huy truyền thống dân tộc, nhưng lúc cầm trên tay nhng trang văn xuôi Phạm Đình Hồ, Thiên Nam ngữ lục hay Lục Vân Tiên... vẫn thấy ngn ngại. Thà đ thì giờ hướng ra nước ngoài hơn là đánh vật với những sáng tác lũng củng đin cố và vần vèo theo kiu cách rất cũ đó! Nếu không phải là thường xuyên thì đây đó, tôi, anh, nhiều người chúng ta đã nghĩ như thế. Bởi vậy, chúng tôi càng thấy có thêm lý do đề ghi công Xuân Diệu. Với những trang viết của anh và quan trọng hơn, với thái độ chân thành và hết mình đi vào văn học c đin của anh, lớp người viết đi sau chúng tôi cảm thấy càng phải quyết tâm hơn trong việc trở lại với truyền thống văn học dân tộc. Kết quả chúng tôi tìm, cách chúng tôi làm trong việc phân tích đánh giá văn học c đin nhất định là sẽ khác anh. Nhưng một tình yêu lớn vẫn thống nhất chúng ta lại: tình yêu với những sáng tác làm nên lịch sử văn học nước nhà. Mỗi thế hệ phải có phần đóng góp của mình vào việc làm mới gia tài do ông cha đ lại.

1982


 

Ý THỨC VỀ THỜI GIAN.

CẢM GIÁC VỀ HẠNH PHÚC

 

Mượn hình thức đối thoại với một người bạn - nhà thơ Phạm Tiến Duật - bài viết sau đây là những suy nghĩ của chúng tôi về thơ Xuân Quỳnh nhân tập thơ tuyn hơn hai chục năm của tác giả: Sân ga chiều em đi.

V.T.N: Trước Tự hát, Xuân Quỳnh đã là tác giả bốn tập thơ khác (Chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Gió lào cát trắng, Lời ru trên mặt đất). Khi chọn vào Sân ga chiều em đi, tác giả và nhà xuất bản chỉ chọn lấy một ít bài đã có từ các tập đầu. Tôi cho rằng sự lựa chọn ấy là đích đáng, nó gạt bớt những phần yếu khác lại, làm tôn cái phần mạnh của Xuân Quỳnh từ trước. Nó cũng cho ta thấy s liên tục của tác giả.

P.T.D: Từ những bài thơ đầu tay, người ta đã thấy rõ chất Xuân Quỳnh lắm. Cảm giác về hạnh phúc, điều mà một vài anh em tìm thấy ở Tự hát gần đây, đã có từ ngày ấy. Một sự chủ động mà chỉ phụ nữ ngày nay mới có; những ao ước nhức nhối về hạnh phúc lứa đôi và sẵn sàng «giương vây» gìn giữ bằng được, đấy là Thuyền và biển. Mặc dù còn tr, khi viết Chồi biếc, Xuân Quỳnh đã có ý thức về thời gian; đang Cùng anh sóng bước, Tay m trong tay, song đã cảm thấy có lúc Hết phiên, và Sẽ bước qua đây là những cặp tình nhân khác.

 

V.T.N: Đấy là khía cạnh tình cảm quán xuyến trong thơ Xuân Quỳnh, và càng gần đây càng rõ nét. Bài Hoa cúc viết năm 1980 (in trong Tự hát) láy đi láy lại sự thay đi đã đến với bản thân: Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế - chỉ em là đã khác với em xưa. Bao ngày tháng đi về trên mái tóc - chỉ em là đã khác với em thôi. Đứng trước thời gian, mọi người - không ai thoát - già đi, cũ đi... Nhưng chính vì thế, hãy biết trân trọng tất cả những gì đang sống hôm nay, vui với hôm nay. Đi theo cái mạch cảm xúc ấy, thơ Xuân Quỳnh có lúc tự nhiên như vừa buột miệng nói ra:

Thôi đừng nhắc chuyện xưa sau

Hãy vui với sóng với tàu với em

(Tình ca trong lòng vịnh)

Có điều đáng nói là chính cảm giác về hạnh phúc và ý thức về thời gian lại làm nên động cơ thúc đầy con người này sống, hành động, dù là trong những năm tháng rất gian lao:

P.T.D: Anh muốn nói đóng góp của Xuân Quỳnh trong những năm chống Mỹ?.

V.T.N: Điều ấy đáng ghi nhận lắm. Với nhà thơ, ít nhiều người ta có bắt gặp tâm tình của lớp thanh niên trạc tuổi tác giả và cả những khía cạnh trong đời sống xã hội hai chục năm nay. Thơ vốn có cách dung nạp chi tiết riêng của nó. Nhân đọc câu Yêu cả cái bực mình khi xe vướng phải nhau trong bài Lòng yêu Hà Nội (tập Hoa dọc chiến hào), nhà văn Nguyễn Minh Châu có lần nói với tôi, tỏ ý rất thích, cho là thơ còn nói được nhiều điều văn xuôi chưa nói. Với con mắt văn xuôi ấy, Xuân Quỳnh đã khắc họa rất giỏi cảnh sơ tán, cảnh chiến trường, vùng đất Quảng Bình - Vĩnh Linh gian lao, khắc kh.

Củ khoai ở đây nhỏ hơn củ khoai cánh đồng màu m

Trái mãng cầu rám vỏ gió đi qua

Đọng nắng thôi cát chẳng đọng mưa

Bàn chân lún bàn chân thêm bỏng rát.

P.T.D: Tôi muốn gọi đấy là vùng cát. Dải đất hẹp miền Trung, rất nhiều người từng tới và từng miêu tả trong văn học. Riêng Xuân Quỳnh không hiu sao như bị ám ảnh vì cát, khá nhiều bài viết về cát thành công.

V.T.N: Như các cụ ta thường nói, tác giả nhìn cát thấy nó vận vào mình, nên mới hay nhắc đến nó như vậy. Có một lần tôi đã hỏi đùa: Có phải người làm thơ nghĩa là người nhìn đâu cũng thấy mình?. Và Xuân Quỳnh đã đáp lại một cách nghiêm chỉnh: Thế càng khồ chứ hay ho gì!.

P.T.D: Nhưng cách vận vào mình đó lại làm cho nhà thơ có được một ít phát hiện. Chẳng hạn, ở một đề tài mà tôi quen như các binh trạm, các cung đường, nói chung là chuyện giao thông vận tải. Trong bài Viết trên đường 20, tôi nhớ có mấy câu Ánh đèn gầm mờ đục dẫn em đi - Ánh đèn này riêng cho người cầm lái - Như tình yêu anh chỉ mình em thấy. Là người đã viết nhiều về lái xe, tôi vẫn rất thú với cái phát hiện nho nhỏ ấy. Mà những câu thơ kiều đó trong thơ Xuân Quỳnh, không phải là ít, dù là khi viết về những khu vực tác giả ít biết. Đây là những câu viết về đê:

Sông phóng túng, đê là mức độ

Sông ồn ào, đê là sự bình yên

Chắn nước lên là công của con đê

Đê đứng đó nhưng chưa bao giờ nghỉ

Rồi viết về rau. Và rất nhiều là những câu thơ viết về cỏ. Cỏ trở thành hình ảnh tiêu biểu của sự sống Cỏ dại quen nắng mưa - Làm sao mà giết được - Tới mùa nước dâng - Cỏ thường ngập trước - Sau ngày nước rút - Cỏ mọc đầu tiên.

V.T.N: Muốn hiểu cho hết ý nghĩa của những biu tượng về cát, về rau, về cỏ dại trong thơ Xuân Quỳnh, ta nên trở lại với cả nền thơ chống Mỹ. Còn nhớ, trong số những cảm giác mạnh mẽ nhất mà nhiều người thanh niên cùng th nghiệm trong những năm tháng gian lao y, có điều thú vị này: được đến với những miền rất xa trên đất nước, được chia sẻ cuộc sống gian lao với mọi người bình thường khác. Đấy là tiếng reo của không biết bao nhiêu giọng thơ năm nay trên dưới 40, nghĩa là trên dưới 20 khi bắt đầu chống Mỹ, tiếng reo khi ồn ào, khi lặng lẽ trong thơ Bằng Việt và Lưu Quang Vũ, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo, Nguyễn Duy và Nguyễn Đức Mậu v.v.. Đấy cũng là tiếng reo hồn nhiên trong thơ Xuân Quỳnh. Và cũng như ở nhiều người cùng tuổi khác - rất nhiều nếu không phải là tất cả - bài học chính mà tác giả rút ra cho mình là thấy lại giá trị của những gì bình thường trong cuộc sống. Tôi cho rằng chính anh, khi viết Tiu đội xe không kính, hoặc Thanh Thảo khi viết Bài ca ông cóng, đều chung mạch cảm xúc đó, mạch cảm xúc đã đến với Xuân Quỳnh khi viết về cát về rau, về cỏ dại... Nếu không sợ quá, chúng ta có thể bảo ấy là nét tâm tình chung của cả một thế hệ.

P.T.D: Nhưng Xuân Quỳnh không lẫn với ai khác. Ngay cả những bài gọi là trung bình ở đây vốn có duyên đọc được.

V.T.N: Tôi không muốn nói sự lẫn hay không lẫn. Tôi muốn lần theo cái mạch chung của tư tưởng và qua đó cắt nghĩa tại sao nói đọc thơ Xuân Quỳnh, bè bạn và những người cùng lứa có thể tìm thấy những bước đi, những tình cảm của chính mình. Lấy một ví dụ nữa, một ý tưởng cũng hay được lặp đi lặp lại trong Sân ga chiều em đi. Sau những gian lao cái còn lại trong chúng ta là một tấm lòng nguyên vẹn:

- Một tình yêu như thế vẫn y nguyên

Chỉ còn lại một màu hoa rất trắng

- Đất qua rồi những đau thương

Có chăng lời hát vẫn còn mà thôi

- Thời gian của ta không bao giờ mất

- Và cát bây giờ vẫn trắng

- …

Nghĩ cho kỹ thì thấy ở đây không khỏi có một chút như là ảo tưởng: cái gì đã mất thì thôi, làm sao còn mãi được. Ít nhất nó cũng mâu thuẫn với cái ý thức về thời gian mà trên kia chúng ta đã xác nhận và cho là một chỗ mạnh trong thơ Xuân Quỳnh. Có điều, ý tưởng về một tấm lòng nguyên vẹn đó cũng là tâm niệm ở nhiều người khác thuộc lứa tuổi chúng ta, và tác giả Sân ga chiều em đi đã bắt lấy nó, diễn tả về nó một cách thật tha thiết và cũng thật... ngây thơ. Nhưng thôi, tôi muốn chúng ta nói sang một vấn đề khác. Một trong những dấu hiệu của một nền thơ thịnh trị, hoặc nói hẹp hơn, bằng chứng của một giọng thơ có sức sống là thanh niên đương thời tìm đọc nó. Nếu tôi không nhầm thì thơ Xuân Quỳnh cũng có cái may mắn đó. Anh giải thích ra sao?

P.T.D: Trong những lần gặp gỡ các nhà văn, nhà thơ nước ngoài, tôi đã nghe nhiều người nói cái ý là thơ trên thế giới ngày nay đang khủng hoảng, đang báo động. Một học giả lão thành ở nước ta, nhà văn Đặng Thai Mai đã quá cố, nói chuyện với tôi hồi trước, cũng nói trong thời đại ngày nay, thơ phải định nghĩa lại. Nhưng định nghĩa thế nào thì định nghĩa, thơ hay chắc cũng dễ có người tìm đọc. Như ở Sân ga chiều em điTự hát hiện nay, tôi tin người ta đọc. Vì Xuân Quỳnh luôn luôn từ mình mà nói với mọi người. Và lúc viết bao giờ cũng hết mình.

V.T.N: Mỗi bài thơ được viết như là bài thơ cuối cùng của đời mình, bao nhiêu vốn liếng sẵn có, cho vào được cái gì, cho bằng hết, bài thơ bao giờ cũng ở vào điểm căng nhất của sự sáng tạo.

P.T.D: Đúng, không nửa vời, không vừa viết vừa tính, đôi khi là tính dành bớt câu này ý kia cho bài thơ sau... bấy nhiêu sự lửng lơ, nó là chỗ chết của một vài nhà thơ rất thông minh khác. Ở Xuân Quỳnh cả những suy nghĩ cũng là tự nhiên, xuất thần, do nhạy cảm mà có, chứ không phải ngồi mà nặn ra. Có thể mạnh dạn nói đấy là phong cách thời đại.

V.T.N: Anh đã chạm tới cái chữ mà tôi muốn tìm. Nhưng theo tôi, nội dung nó còn rộng hơn nữa...

P.T.D: Hay cái cảm giác công nghiệp trong thơ? Một sự nhạy cảm với nhịp điệu, tốc độ, nó làm cho thơ nhanh, hoạt hẳn lên.

V.T.N: Nhất là trong những bài năm chữ tác giả rất sở trường... Nhưng theo tôi, cái chủ yếu ở đây là một cách cảm, cách nghĩ có phần khác với thói quen thông thường. Thử nhớ lại hai câu cuối bài Thuyền và biển: Nếu phải cách xa anh - em chỉ còn bão tố. Một thứ tuyên bố, dù là có vẻ hơi sai. (Sao trong hạnh phúc đã nghĩ tới đau kh?).

P.T.D: Cái lối nghĩ này trong thơ Xuân Quỳnh nhiều lắm. Ca dao xưa ví người yêu với mặt trời. (Thấy anh như thấy mặt trời - chói chang khó ngó trao lời khó trao) đã là chuyện tày đình. Bây giờ mở đầu bài Con yêu mẹ, tác giả đã ví Con yêu mẹ bằng ông trời - rộng lắm không bao giờ hết, rồi lại bác đi, và vân vì đủ thứ, đề rồi kết luận: Con yêu mẹ bằng con dế. Thật là trẻ con, mà cũng thật là liều, bỏ hết lôgích thông thường.

V.T.N: Lối suy nghĩ đó được Xuân Quỳnh đy lên, đến cùng, tạo ra những câu thơ bất ngờ và đủ vẻ đa dạng. Ở bài này Hoa héo trước kỳ hoa nở, ở bài kia Hạnh phúc đang còn, tình yêu đã mất và ở một bài khác Lòng anh là đầm sen - Hay là nhành cỏ úa. Người gần như sùng bái tình yêu như thế, lại có lúc bảo: Em biết đấy là điều đã - Chuyện tình yêu quan trọng gì đâu và người tưởng như tha thiết với thơ vô cùng, coi làm thơ là lẽ sống của mình, lại có lúc bảo: Anh hãy nghĩ khác ха điều tôi nghĩ - Thơ tôi làm không phải đ anh theo.

P.T.D: Kiều nói như thế, thì trong câu chuyện hàng ngày Xuân Quỳnh vẫn nói với tôi luôn : «Ông đừng tin những điều tôi nói với ông hôm qua. Sau khi ra đến cửa, tôi đã nghĩ khác rồi cơ mà».

V.T.N: Đấy là cái cảm giác hiện tại mà Xuân Quỳnh rất giỏi lọc ra và sống hết mình với nó. Lúc tiễn đưa ở sân ga Vừa nghe tiếng còi tàu - Lòng đã nạm đã bắc; khi qua đường: Em từ nhà đi tới ngã tư - gặp đèn đỏ trước hàng đinh thứ nhất - chờ qua đường, đèn xanh vừa bật - Em lại quay về thành phố mùa đông. Đặt những giây lát hiện tại này cạnh nhau, ta sẽ thấy ở tác giả rất mạnh một cảm giác khác nữa - cảm giác về sự thay đi. Kết luận: Người ta không thể hiểu hết chung quanh, như đã không thể hiểu hết chính mình. Người ta luôn luôn mâu thuẫn. Vậy hãy sống, hãy vui với cái bây giờ cho đã, cho hết, đừng nghĩ xưa sau gì cho thêm bộn.

P.T.D: Đúng, trong thơ Sân ga chiều em đi có cả cái gì động, như chợ búa, đường xá hôm nay, lại có cả cái gì đó rất tĩnh như cây cối, đất trời, những cuốn sách xếp trong thư viện.

V.T.N: Điều quan trọng trong cuộc sống một người là kết hợp hai cái đó ra sao. Mà theo tôi, thơ Xuân Quỳnh làm việc này còn lập bập lắm. Quá nhạy với cái động nên nhiều lúc rơi vào tùy tiện, cảm thấy muốn làm gì thì làm, làm gì rồi cũng tự biện hộ được. Mà quá nhạy với cái tĩnh nên lại rơi vào ảo tưởng, lúc nào cũng nghĩ Em vẫn còn tất cả đề trao anh - … Em vẫn giữ một tình yêu mới mẻ, lúc nào cũng có thể so sánh Lòng như trời biếc lúc hoang sơ (ba bài thơ trên trang đầu báo Văn nghệ 1-12-1984).

Ảo tưởng còn sinh ra tự tin, những tự tin quá đáng. Như trong câu thơ viết về biển hồi nào Bin vẫn quen theo quy luật của mình, hoặc Chúng tôi hiu sâu xa về sự vật quanh mình. Đây không còn là chuyện hay hay dở, đây là lẽ đời: nên nghĩ lại đ nói sao cho phải. Tôi muốn nhấn mạnh điều đó, nhân một bài thơ khá hay gần đây của Xuân Quỳnh, bài Có một thời như thế (đăng báo Phụ nữ Việt Nam tết Ất Sửu). Cái thời nói ở đây là quá khứ của mỗi chúng ta, rất tốt đẹp, bởi rất trẻ, thời của mơ ước vin vông niềm vui thơ dại, cũng là thời luôn luôn hy vọng để rồi luôn thất vọng – tôi đã cười và khóc những không đâu... Ngoảnh lại cái thời đó, nhà thơ thấy mình đã thay đi, đã già đi mái tóc xanh bắt đầu pha sợi bạc. Tôi cho rằng đây là một cảm giác lành mạnh, tỉnh táo của Xuân Quỳnh: dám nhìn thẳng vào s đi thay của mình, không cưa sừng làm nghé, không giả bộ ngây thơ. Khi đã tự nhìn nhận một cách đúng mực, cố nhiên cái nhìn về chung quanh cũng dễ sáng suốt thấu đáo. Tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết - Hôm nay non, mai cỏ sẽ già... Và sau hết, cảm hứng chính của bài thơ là hướng về cuộc sống bây giờ, không tự mê hoặc mình bằng quá khứ.

Quá khứ đáng yêu, quá khứ đáng tôn thờ

Nhưng đâu phải là điều em luyến tiếc.

Tuy nhiên, trong bài thơ này, trong lúc tỉnh táo nhất, tác giả vẫn đề chen hai câu thơ mà như tôi đã nói là ảo tưởng, tức là nói điều mong muốn, hơn là sự thực:

Em biết quên những chuyện đáng quên

Em biết nhớ những điều em phải nhớ.

Đọc hai câu này, tôi nghĩ: đúng, đấy là cái đích chúng ta phải phấn đấu, nhưng có ai dám nói là tới được! Vả chăng giá lúc nào người ta cũng chỉ huy được cái nhớ cái quên của mình như thế, thì đã thật hạnh phúc, mà cũng đại... bất hạnh (vì mọi vui buồn có lẽ cũng không còn gây xúc động nữa!) Theo tôi, đấy là những câu thơ thuộc loại ngẫu nhiên, nhưng lại đúng với bản chất cách nghĩ của Xuân Quỳnh, Thế cho nên nếu cần lấy một bài thôi của Xuân Quỳnh...

P.T.D: Tôi sẽ lấy... Ở, cũng khó chọn đấy chứ.

V.T.N: Còn với tôi, thì không gì khác, là bài Hoa dại núi Hoàng Liên trong tập Tự hát, một bài rõ chất Xuân Quỳnh ngay từ cái tên của nó.

Hoa nếp mỏng manh trong tâm gió thổi

Hoa diếp vàng cô độc giữa thâm u

Và bên đường hoa nghệ dại ngn ngơ

Hoa sim tím một nỗi buồn hoang dã

Hoa lay ơn đất vườn xưa còn nhớ

Mà thấy người cành lá bỗng lung lay

Hoa mọc dưới chân người

Hoa mọc đến chân mây

Có rất nhiều thứ hoa không biết rõ...

P.T.D: Hoa dại ư, có đúng thế không? Vì về mặt nghề nghiệp, nhà thơ này nhiều khi đã văn hoa quá. Cách đặt đầu đề, cách đưa thơ người khác vào thơ mình, cách chuyển các thể thơ khác nhau trong một bài, cách đưa vào những câu thơ có vẻ không đâu... tất cả đều tỏ ra có nghề. Anh Thơ ngày trước viết Ông già hút thuốc thở ra hơi, đọc lên thấy rất ngộ. Ở Xuân Quỳnh bây giờ, rất nhiều câu như thế. Chẳng hạn, Nước trong phích hoa trên bình gốm cũ, chẳng hạn...

V.T.N: Tôi hiu. Nhưng ở đây, tôi muốn nói nguồn thơ, cách tư duy thơ, chứ không phải trình độ nghề nghiệp người làm thơ. Và nói hồn nhiên tự phát là bao gồm cả hai mặt mạnh yếu cùng sóng đôi bên nhau, nó chi phối mọi tìm tòi về nội dung cũng như nghệ thuật. Hãy nhìn vào những bài thơ lục bát in trong Sân ga chiều em đi. Quả là một th «hoa dại». Hầu như rất ít khi tả thấy nó có được cái hơi vừa dân gian, vừa c đin mà mọi người đã quen. Nhà thơ như mới bắt gặp nó lần đầu, phải khó khăn lắm mới ghép được nó vào thành vần chỉnh tề.

- Con sông nước chảy xuôi dòng

Mùa mưa nước lũ quen dâng từ nguồn

Bên bồi thì cứ bồi luôn

Còn bên lở vẫn lở thường quanh năm

- Nằng nồng cho áo mau khô

Bông hoa cúc biển mùa thu nở rồi.

- …

P.T.D: Điều đó thì tôi công nhận. Sức hút của lục bát rất ghê, người ta dễ rơi vào sự trơn tuột đi giống người khác, giống đám đông không tên. Trong trường hợp này, thơ lục bát Xuân Quỳnh có cái riêng của nó, nó là hoa dại, nên gây nhớ lâu.

V.T.N: Vậy là ta đồng ý với nhau về khá nhiều điều. Chưa phải lúc tổng kết về thơ Xuân Quỳnh vì tác giả đang viết. Nhưng có th tin chỉ với những bài thơ hôm nay, Xuân Quỳnh đã có được điều cần thiết nhất với một tác giả thơ: một cách nghĩ một cách nói của riêng mình. Từ nay trở đi, giọng thơ đó có thay đi thì cũng là trên cái mạch hôm nay mà thay đi, biến hóa...

 

1985


 

HÌNH ẢNH NHỮNG NGƯỜI NGHỆ SĨ

QUA TÁC PHM CỦA

NAM CAO

 

Trong số các nhà văn Việt Nam hiện đại, thật ít có người nào lại viết nhiều về nghề văn, dựng nên nhiều nhân vật người viết văn như Nam Cao. Chưa nói tới Đời thừa, Trăng sáng, hãy nói tới một số trường hợp khác: Con người hay hối hận và cảm thấy bứt rứt đau kh ngay cả khi giành giật được chút may mắn như người đàn ông trong Mua nhà, là một người cầm bút. Người bố trong Bài học quét nhà lúc nào cũng hí húi đọc sách và viết lách trong buồng, chắc là làm nghề ấy, chứ còn nghề gì khác? Rồi một trong ba nhân vật trong Chuyện người hàng xóm. Rồi những bóng dáng thoáng qua trong Trẻ con không được ăn thịt chó, Truyện tình... Và đây, trong số bốn nhân vật thanh niên ngồi triết lý vụn về sự đời trong Nhỏ nhen, thì có đến hai người dính dáng đến văn chương, một toan viết truyện, một ước ao làm nghề xuất bản. Về mật độ người cầm bút trong thế giới nhân vật của một tác giả, nhất là so với các nhà văn đương thời, tác phm của Nam Cao quả là một trường hợp đột xuất.

Trước tiên, việc Nam Cao nói nhiều về những người làm nghề cầm bút bắt nguồn từ một vài vấn đề chung trong quan niệm về nghề văn của anh. Sở trường của Nam Cao là phân tích đời sống tự ý thức của nhân vật; tôi nghĩ: ít có ngòi bút nào đi vào phanh phui đời sống tâm lý chính mình và những người quanh mình sâu sắc đến như thế. Nam Cao cũng không ngần ngại mang rất nhiều chi tiết trong đời sống riêng của mình vào trong truyện. Lòng tin của tác giả ở đây: tôi đã tự biết tôi, tự đánh giá được tôi công bằng, sòng phẳng. Hơn nữa, trường hợp của tôi cũng là trường hợp của mọi người. Dùng tôi để nói về cả sự đời» thì cũng là một phương pháp, một cách đề viết, như mọi cách thức thông thường vẫn được sử dụng.

 

Ân đằng sau cái việc làm kia, cố nhiên tác giả đã phải bắt đầu với một quan niệm không phải là ai cũng dễ dàng chấp nhận được: quan niệm rằng nghề viết cũng là một công việc như mọi nghề nghiệp khác. Quan niệm rằng số phận của nghệ thuật là gắn bó với mọi giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, nghệ thuật không phải là một cái gì đứng cao hơn, đứng ra ngoài những quy luật của xã hội. Mỗi cá nhân người làm nghệ thuật ở đây có thể trở thành một thứ điển hình, như mọi người khác, thuộc các tầng lớp khác. Bởi chỉ khi đó, việc nói tới nghề văn mới có ý nghĩa với đông đảo bạn đọc, và ở một người

vốn quan niệm về nghề nghiệp nghiêm chỉnh như Nam Cao, tác giả mới có được tự tin đề có thể tiếp tục tự phân tích, tự nói về mình. Nay thì trước mắt chúng ta, một vài người viết văn như Điền, như Hộ... đã trở thành những khuôn mặt quen thuộc. Nhiều người viết văn lớp sau đã cùng thể nghiệm cái cảm giác này: càng vào với đời sống, thấm thía những vui buồn nghề nghiệp, càng thấy thông cảm với những giọt nước mắt của những kiếp người không thể gọi cách nào khác là những mầu đời thừa mà Nam Cao đã miêu tả.

 

* **

 

Nói là có nhiều khuôn mặt, e có phần không phải. Với những cái tên khác nhau, khi Điền, khi Thứ, khi Hộ... các nhân vật người viết của Nam Cao đều có những nét hao hao giống nhau, làm nên một khuôn mặt chung, một loại nhân vật của riêng tác giả Lão Hạc, Sống mòn, không lẫn với ai khác.

 

Đó là những bản sao khác nhau về con người Nam Cao, như chúng ta từng biết. Đó là một người thừa sức mạnh về tinh thần, nhưng lại quá yếu kém về sức lực, đến nỗi xoay đủ mọi nghề đều thất bại, cuối cùng đành yên lòng với nghề cầm bút. Sau những năm tháng chăm chỉ học hành với bao mộng tưởng tốt đẹp, «hắn » – đại từ ngôi thứ ba mà Nam Cao thường dùng là hắn, y, gã.... « hắn chợt cay đắng mà nhận thấy hình như xã hội chẳng chào đón gì cái ý hướng cao cả và tấm lòng trong trẻo của mình. Viết như một cách đề kiếm sống. Viết như người ta đã làm mọi nghề khác độ thân. Loay hoay một hồi, nhà văn chợt nhận ra kết luận cuối cùng của mình chỉ có thể là như vậy, không thể nào khác. Nhưng

điều bị đát là ở chỗ đồng thời với việc kiếm sống, chân không bao giờ vứt bỏ được cái mộng dùng trang sách đông góp với đời. Đáng lẽ phải liều lĩnh, ầu xị, viết lách quấy quá đề kiếm được càng nhiều tiền càng tốt! Khôn nỗi «hần chỉ biết có một cách làm ăn lương thiện, và lương thiện quá chừng. Cuộc sống là giằng xé giành giật, cá lớn nuốt cá bé, biết vậy mà hắn không thể làm được; trong cái xã hội cũ, con người nhà văn ấy mới lạc lõng, bơ vơ làm sao! Càng dần vặt suy nghĩ, càng cảm thấy bất lực và không có lối thoát.

 

Về một mặt nào đó, Đời thừa có thề đội cái tiêu đề: « Một ngày làm việc bình thường của văn sĩ Hộ». Một ngày bình thường, quãng thời gian thu nhỏ của chuỗi ngày dài dằng dặc và giống nhau như lột của một đời người. Trong các truyện của mình, Nam Cao không ngại đề cho các nhân vật viết văn có đủ mọi thói hư tật xấu của người đời. Hộ muốn sống đúng đắn, có thể nói muốn sống cao cả nữa. Hộ làm việc không tiếc sức, cố dứt ra khỏi những phút bốc đồng và sự ham mê quá đáng, nguồn cơn của mọi tội lỗi. Nhưng nào có được, cuộc sống chung quanh cứ cám dỗ, lôi cuốn đi, Hộ đành bất lực. Rồi Hộ thường xuyên hối hận. Con người viết văn trong Hộ những lúc tỉnh táo lại, biết bao là hối hận, vừa trách đời, vừa trách mình, thấy đời tàn phá mình, hành hạ mình, không sao cưỡng nổi. Và đó cũng là thái độ nhìn đời sống của các nhân vật trong Mua nhà, trong Nước mắt. Khi tỏ ra thông cảm với những lầm lỗi của từng cá nhân một, những nhân vật người viết trong các truyện trên cũng như thái độ của chính Nam Cao mà chúng ta thấy toát ra qua các truyện ngắn khác, nhất trí ở khía cạnh này: họ hiều rõ vấn đề không phải là một hai cá nhân riêng lẻ, mà là không khí chung, hoàn

 

 

cảnh chung. Đọc xong mỗi truyện, một khao khát đồi đời một ước muốn phá tung cái cuộc sống bất công hôm nay cứ thấy xoáy lên trong lòng người đọc. Không thê sống mãi như vậy : Đó là cái điều khẳng định được nghiền ngăn cay đắng trong lòng và nêm ra xã hội như một thách thức. Riêng đối với những người cầm bút, rồi ra sẽ có lúc Nam Cao đi tới cái kết luận về công việc phải làm như Trăng sáng. Trước sự vây bủa của cái hiện thực nhờ nhờ đen tối, khó chịu, thái độ của nhà văn là thế nào? Phải dũng cảm sống hết với nó, đề viết, đề tố cáo. Câu trả lời thật quả quyết, dứt khoát. Từ đây đến chỗ đọc báo Cứu quốc tham gia Văn hóa cứu quốc thời bí mật, chỉ có một bước. Trong đời văn của Nam Cao, có thể nói Trăng sáng đóng vai trò một thứ tuyên ngôn nghệ thuật khá đanh thép.

 

Trở lên, tạm gọi là sơ đồ phát triển tư tưởng các nhân vật viết văn trong truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng. Xét trên âm hưởng chung, thì sự quẫn bách cùng khốn, những mảng màu xám. những tình cảm uất nghen... vẫn là cái cảm hứng chủ đạo toát ra qua hầu hết những trang viết của tác giả lúc này. Vào trong không khí của một truyện ngắn khá tiêu biều như Những truyện không muốn viết (in trong tập Một đám cưới) chúng ta như bắt gặp một sự truy đuời, xã hội truy đuổi, hành hạ một người viết văn. Nhân vật ở đây cũng lại là một mẫu người gắng gỏi nhưng bất lực. Là một người cầm bút, được dư luận chú ý, được ve vẫn bởi đủ thứ lý lẽ cao siêu, nhưng thật ra anh ta chẳng có quyền gì hết. Viết gì cũng bị lôi thôi, không động chạm tới người này thì bị kẻ khác làm phiền phức. Và hình như bất cứ ai trong xã hội cũng có thể dí mũi vào việc của anh ta mà xoi mói và hạch sách. Cho đến khi thu mình lại, trở về với nơi ẩn náu cuối cùng

là gia đình, vợ con và công việc rồi, thì vẫn không thoát. Thật là một sự vây bủa khôn cùng. Người viết, cái mạng sống yếu đuối mong manh đo, làm sao mà đương đầu nổi 1

 

Trong các truyện ngắn của Nam Cao, Những truyện không muốn viết gợi ra một cảm giác khá bị thẩm. Cả thiên truyện như một thứ cười gần, một sự chán chường sâu xa đến không cưỡng lại nỗi. Trong một xã hội thiếu đói, mỗi người lo niêu cơm cho mình và gia đình mình không xong, sao lại trớ trêu còn có những người làm văn chương, nhất là còn ước ao những tác phầm, văn chương có giá trị. Biết nên gọi là dũng cảm, hay gọi là dở người? Văn chương có thể có một tác động nào đó, nhưng có thấm thía gì, so với bao nhiêu thế lực khác đang xô đầy con người trong xã hội về những phía khác. Bao nhiêu gắng gỏi như trong Đời thừa, Trăng sáng khẳng định, thật không đủ đề làm gì, người viết văn vẫn hoàn toàn bất lực, vẫn cứ «mốc lên, rỉ đi, mòn ra, mục ra» không có lối thoát, nếu như không có Cách mạng.

 

Theo tài liệu do những người quen biết thuật lại. Nam Cao đón Cách mạng tháng Tám ở cái vùng quê quen thuộc của mình, tại đó, anh mê mải tổ chức Việt Mình rồi cướp chính quyền ở huyện và làm chủ tịch xã ». Sau này, anh còn đi về cái làng nhỏ ấy nhiều lần, nhưng chủ yếu đi làm phóng viên mặ trận, hoạt động văn hóa cứu quốc, viết bài cho tạp chí Tiên phong. Cả trên phương diện công dân lẫn phương diện của một người viết, việc nào anh cũng dốc sức dốc lòng, như cái cốt cách riêng của con người anh, mà qua văn chương, chúng ta đã đoán nhận.

Dĩ nhiên, đề nói về những người nghệ sĩ, ở đây là những người viết văn Việt Nam trong cách mạng, có thề kể tới nhiều trường hợp khác, Tô Hoài và Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Huy Tưởng..., mỗi người một hoàn cảnh, đều đã đi tới cách mạng, gặp nhau trong tồ chức Văn hóa cứu quốc từ trước 1945 và sau cách mạng hoạt động rất sôi nổi. Một Xuân Diệu chẳng hạn, tác giả Thơ thơ hào hứng đón lấy ngày vui của dân tộc, reo mừng cùng thắng lợi trong tráng ca Ngọn quốc kỳ. Và rất nhiều nhà văn nhà thơ khác, có mặt ở nhiều miền đất khác nhau, tham gia vào nhiều công việc khác nhau. Thơ văn Cách mạng lúc này là một tiếng hát phấn đấu lạc quan. Cách mạng giải phóng cho dân tộc, cách mạng cũng đưa lại cho nghệ thuật, từ niềm tự hào công dân đến quyết tâm đóng góp vào công cuộc xây dựng một nền văn hóa dân tộc lành mạnh. Chỉ cần có lương tri tối thiều, người ta đã có thể hiều như vậy. Nếu chưa lao vào hành động, mỗi người cũng đã nao nức với bao dự định.

 

Giữa các bạn bè đồng nghiệp, Nam Cao là một ví dụ tiêu biều. Đã được giác ngộ bước đầu từ hồi còn bóng tối, đối với anh, những ngày sau Cách mạng là đi tiếp chặng đường đã chọn. Xa lạ với mọi thói bốc đồng và những hành vi xu thời, con người kỹ lưỡng trong anh đồng thời lại có những say sưa chưa từng có; say sưa tới mức bộc lộ một cách rất thành tâm cả những hiều biết còn chưa thấu đáo của mình về Cách mạng. Đó là trường hợp cái truyện ngắn đội chính tiêu đề Cách mạng, viết năm 1946. Đọc cái tác phầm khá thật thà» đó, thấy Nam Cao miêu tả một sự kiện lớn lao làm thay đồi cả đời sống dân tộc hình như chỉ là việc chung sức đánh đuồi giặc Pháp, hàn gắn lại những quan hệ tình cảm do chế độ cũ làm rạn nứt, ngoài ra không thấy hé ra một

vẫn đề gì khác có tính cách thực sự cách mạng, tóm lại là một cách hiều khá sơ lược, nông cạn, có những khía cạnh sai lạc nữa là khác. Với một sự kiện lớn lao như Cách mạng tháng Tám, quả thật, phải dần dần trong thời gian, chúng ta mới có điều kiện đề hiều biết đầy đủ. Sẽ quá khắt khe nếu ngay từ những ngày đầu đòi hỏi những người trong cuộc có được nhận thức đúng đắn như thời gian về sau. Trái lại, ở những văn nghệ sĩ và nhiều tríthức lúc ấy, cách hiều như của Nam Cao trong truyện ngắn Cách mạng khá phổ biến. Lúc bấy giờ, cái chính là phần nhiệt tình, là ý hướng, là những hoạt động cụ thề mỗi người đóng góp vào sự nghiệp cách mạng. Đối với một người như tác giả Chí Phèo, Sống mòn... hôm qua, dường như hết sức bị quẫn, «cái gì không có cũng thèm muốn, cái gì đương có cũng chán ghét, tất cả đều không nghĩa, tất cả cứ chết mòn không lối thoát» (1), thì những niềm vui được diễn tả trong Đường vô Nam chẳng hạn, là một cố gắng vượt bậc. Như sau khi ốm dậy, đầu óc tinh thần sảng khoái, niềm vui tràn ngập, mà cái chân cái tay còn chưa chịu nghe lời mình, con người vẫn cứ là ngượng nghịu, mất thăng bằng. Nhưng một ngày mới đã bắt đầu, những hiểu biết sơ lược ban đầu sẽ bị vượt qua nhanh chóng, một người như Nam Cao sẽ tới cái độ chín của nhận thức. Đó là trường hợp nhật ký ở rừng và truyện ngắn Đôi mắt.

 

Trong số các tác phẩm của Nam Cao viết sau Cách mạng, quả thật có nhiều truyện còn có vẻ dưới tay » so với một ngòi bút đã đến độ thuần thục như tác giả Lão Hạc, Chí Phèo... Tuy nhiên, riêng hai tác phầm viết về

 

(1) Theo Tô Hoài Một chặng đường Môi, 12-1971. tạp chí Tác Phầm

người nghệ sĩ trong cách mạng thì vẫn giữ được sinh khí. Có lẽ chính trong quá trình hành động mê mải như trên đã nói, con người văn nghệ sĩ trong tác giả đã trải qua một cuộc đấu tranh nội tâm sâu sắc, đề rồi có thể tự chiêm nghiệm, suy nghĩ và nâng lên thành vấn đề chung, nên lúc vào truyện, câu chữ mới có sức ám ảnh đến thế.

 

*

 

**

 

Đôi mắt gắn bó với quá trình sáng tác trước đây của Nam Cao bắt đầu từ hình ảnh nhà văn Hoàng, một bóng dáng vốn khá quen thuộc với những người làm văn nghệ ở Hà Nội trước Cách mạng. Không phải chỉ có những Điền, những Hộ..., giới văn chương cũng là cả một xã hội, trong đó có những nhân vật như Hoàng, một kẻ anh chị trong nghề, một thứ người sống cũng như viết, dữ dần, ghê gớm. Sự có mặt của Hoàng luôn luôn là một sức nặng đè lên cuộc sống của những người khác. Không thề gọi Hoàng là một người lao động lương thiện, càng không thể gọi đó là một người trí thức chân chính có lương tri, có hiều biết.

 

Theo cách miêu tả của Nam Cao, ngay lúc gặp lại Độ ở một làng tản cư, cái nhìn của Hoàng không phải là không tinh tế, sắc sảo. Những nhận xét của Hoàng có vẻ là rất có lý. Ít ra là đến lúc bấy giờ, Hoàng cũng phục kháng chiến, cũng tin lãnh tụ. Song nhìn chung, đối với thời đại mới, thì Hoàng đã hiện ra vừa hài hước, vừa bi thảm. Trước sau, anh chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực, mà không nhận ra đâu là phía tích cực của cuộc sống. Anh chẳng làm gì đề đóng góp cho kháng chiến, anh cứ đứng sang một bên, xa lạ, lạc lõng, và như là chưởng anh ách nữa là đằng khác. Do không cảm nhận được những đồi thay

Cách mạng đã đến với xã hội, anh trở nên mất phương hướng. Sau này, Hoàng còn trượt dài trên những lầm lỗi của mình; song ngay ở đây, năm 1948, anh đã hoàn toàn bế tắc. Anh chỉ loay hoay với con người cũ, trong khi mãnh đất dưới chân anh, không khí mà anh hít thở, hình như tất cả đã thay đổi rồi.

 

* Không phải chỉ trong giới văn nghệ, mà giữa những người đã sống và làm việc dưới chế độ cũ, nay đi theo cách mạng, không thiếu gì những người nhìn kháng chiến giống như Hoàng. Trong chừng mực nhất định, có thể nói đó chính là một ví dụ về ý nghĩa điền hình của các nhân vật văn nghệ sĩ mà Nam Cao đã dựng tạo nên. Những người làm văn nghệ không độc quyền về những lầm lẫn và mọi ý nghĩ tiêu cực, song đồng thời, trong họ cũng không thiếu gì những nhân tố tích cực. Bên cạnh Hoàng, cũng rất điền hình là trường hợp của Độ. Độ biết nhìn ra đâu là mặt chủ yếu, mặt đáng yêu của những người chung quanh. Và Độ sống hết lòng với kháng chiến làm từng công việc tưởng chừng nhỏ nhặt miễn sao có thề phục vụ kháng chiến. Phải nhớ lại tiền kiếp của Độ, là những Điền, những Hộ trước đây, mới thấy bước chuyền của Độ, một mặt rất hợp lý, mặt khác vẫn là một bước chuyển lớn lao đến như thế nào.

 

Trong khi miêu tả hai nhân vật Hoàng và Độ, Nam Cao có ý tạo cho hai người cái thế khá tế nhị: Hoàng tỏ vẻ biết nhiều, nói nhiều, nhận xét đủ thứ. Còn Độ, Độ - nói rất ít, mà lại nghĩ ngợi nhiều hơn. Không phải là Độ không dứt khoát trong nhận thức: chính là ở Độ có một thoáng như là mỉa mai, đùa bỡn, điều đó chứng tỏ anh đã hoàn toàn chín trong ý nghĩ và cách nhìn của mình. Độ rất tự tin. Độ cầm chắc mình đúng. Đó là một lẽ khiến Độ có thể hoàn toàn bình tĩnh và có thể nói là độ lượng nữa. Song ở đây, có thể còn có một lý do khác.

Không phải là không có lục Độ đã từng phải lo gạt bỏ cái phía như Hoàng trong con người của mình. Độ không hoàn toàn xa lạ với những quan niệm mà rất dễ thấy là không hợp thời kia. Biết làm thế nào, tình cảm là cụ thể, sự phấn đấu về mặt tình cảm là rất cụ thể. Quá trình trưởng thành của một người như Độ sẽ được Nam Cao trình bày một cách đầy sức thuyết phục trong nhật ký ở rừng. Với tác phầm này, tác giả lại triền khai một khía cạnh khá tinh tế khác trong mối quan hệ giữa người nghệ sĩ và cách mạng.

 

***

 

Về mặt thời gian, đoạn đường mà nhật ký ở rừng ghi lại không phải là dài: từ 19-10-47 đến 18-3-48. Đó là thời gian Nam Cao cùng với một số đồng chí khác được phân công làm một tờ báo, trên vùng đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc. Mới nhìn, có thể thấy công việc rất xuôn xẻ, mỗi người cán bộ ở đây đã được cách mạng giáo dục, rất yên tâm với phần việc của mình, tin tưởng ở tình hình chung. Song le, dưới hình thức nhật ký, là thể loại có thề bộc lộ nội tâm một cách sâu sắc, lại thấy hiện ra một con người văn nghệ sĩ không phải là hoàn toàn đơn giản, như phần lớn, nếu không nói là tất cả những người quanh ta vốn không hoàn toàn đơn giản bao giờ.

 

Ở những nhân vật viết văn trong truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng, luôn luôn thấy có sự dằn vặt trong nội tâm, một cuộc đấu tranh tư tưởng dai dẳng, và một hiện tượng như là sự phân thân về mặt tâm lý. Trong hành động, mỗi người tìm được cách xử thế đúng mực lương thiện. Nhưng trong thâm tâm, có thiếu một ý nghĩ gì mà những người đó không nghĩ tới, dù chỉ nghĩ thế, rồi lại xấu hồ và tìm cách gạt bỏ tức khắc! Giờ đây, một

mặt anh muốn tự cải tạo trong công việc chung, muốn sống khỏe, sống hòa hợp với những vui buồn của mọi người bình thường. Mặt khác, tân trong thói quen cảm xúc, tận trong tiềm thức sâu xa, một con người cũ vẫn thức dây như một ám ảnh, muốn dứt bỏ mà không dễ nào. Qua những trang nhật ký, chúng ta bắt gặp một Nam Cao bao giờ cũng tìm cách nhìn thẳng vào tâm hồn mình và hết sức nghiêm khắc với mình. Nhưng nếu như ở xã hội cũ, mỗi người phải vật vã khô sở mới tìm được cách chống chọi với hoàn cảnh và tự bảo vệ được mình, thì giờ đây, vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, cả xã hội ở vào cái thế đi lên, chung quanh lúc nào cũng như giục giã cá nhân nỗ lực cho kịp với thời đại. Một sự hòa hợp giữa cá nhân và hoàn cảnh, ở đây là sự hòa hợp giữa người nghệ sĩ và xã hội, hiện lên rất rõ qua tác phẩm của Nam Cao. Đó cũng là tinh thần chủ đạo của cái thời kỳ trong đó anh sống những năm tháng cuối cùng của cuộc đời mình, thời kỳ đề lại những tác phầm khá độc đáo trong nền văn học sau cách mạng, thời kỳ những năm đầu kháng chiến, từ 1947 đến khoảng chiến thắng Biên giới.

 

Trong cuộc trò chuyện giữa Hoàng và Độ (Đôi mắt), chỉ có một lần Độ hỏi người bạn cũ của mình về chuyện viết lách. Độ do lằng chuyện mà hỏi, Hoàng cũng trả lời một cách tầm phào, thế thôi. Về căn bản, hai người vẫn nói với nhau trên phương diện công dân. Chưa thề bàn tới chuyện sáng tác một cách thấu đáo, vì ngay về cách sống, họ đã nhìn nhận khác nhau. Còn như khi ở rừng, trong đầu óc nhà văn, không lúc nào không dậy lên những ý nghĩ về việc viết một cuốn sách của đời mình, quyền tiểu thuyết lớn về đồng bằng, nó là cái mong mỏi trong Nam Cao suốt từ những ngày đầu kháng chiến. Đối với một người viết, động đến tác phầm là động đến một cái

gì cốt tử, làm nên lẽ sống của một đời người. Chẳng phải nghệ thuật đứng cao hơn các mặt hoạt động khác, nhưng đối với mỗi người viết, đó lại là lý do tồn tại cũng là vũ khí đề chiến đấu phục vụ cách mạng. Sự lo lắng của một người viết đến ngòi bút của mình là một cái gì rất thực tế: Người ta có thể làm ra vẻ sống tốt, nhưng không thể gắng gượng đề có tác phẩm tốt. Sự viết bao giờ cũng công bằng, sòng phẳng. Và Nam Cao hiều muốn thành thực với người đọc, trước tiên phải thành thực với chính mình. Như một số tác phẩm trước đây của Nam Cao, Ở rừng có tính cách một lời tự thú cởi mở. Trong nhật ký, con mắt nhà văn soi mói chính mình không chút nương nhẹ, nhưng lại cũng biết đối xử với mình như đồng chí, như bạn bè. Con người cán bộ cách mạng biết mở đường cho con người nhà văn làm việc, nhìn nhận đời sống, tin cậy, nỗ lực. Trong khi phấn đấu đề sống cho tốt, thì một niềm tin rằng sẽ có ngày viết được có sức lôi cuốn người viết ghê gớm. Như Tô Hoài kề, Nam Cao hằng tin thế nào rồi cũng viết nên một cái gì. Và trước tiên, tin ở chung quanh, tin ở chính mình. Riêng việc nhìn nhận và đánh giá đúng đắn về mình và những người giống mình đã chứng tỏ Nam Cao đồi mới khá nhiều. Một con người mới khỏe mạnh hơn về mặt tình thần, dần dần hình thành. Bên cạnh những thoáng bồn chồn, một số trảng nhật ký Ở rừng có được cái thanh thoát vui vầy mà tác phẩm của Nam Cao trước Cách mạng không thể nào có nồi.

 

**

 

Đứng trên phương diện lịch sử mà xét, Nam Cao và những người như anh chưa phải là những nghệ sĩ của cách mạng. Với cách mạng Nga, một Gorki, một Maiacôpxki

chẳng hạn là những nghệ sĩ phát ngôn nhiều vấn đề nói lên tiếng nói của cách mạng, bản thân họ cũng khởi xướng những cách tân hết sức lớn lao trong nội dung và hình thức nghệ thuật. Trong văn học Việt Nam, chúng ta nhớ tới những chiến sĩ trong tù, và những tác giả trở thành nhà cách mạng đồng thời với việc làm thơ, dùng ngay thơ làm một vũ khí hoạt động, tuyên truyền cổ vũ quần chúng.

 

Nam Cao và những bạn bè cùng lứa không nằm trong số đó. Trước khi bước vào cách mạng, các anh đã có một quá khứ nghề nghiệp đáng kể, và với tư cách nghệ sĩ, các anh tham gia vào hoạt động chung như mọi tầng lớp xã hội khác. Nhưng đâu là những nét làm nên đặc điểm của người nghệ sĩ Việt Nam trước 1945? Ngoại trừ một số rất ít làm tay sai cho chính phủ thực dân, và hoạt động trong các đảng phái phản động, còn phần lớn ít đề tâm tới các vấn đề chính trị. Nghệ thuật được hiều như một nghề tự do. Mấy tiếng nghệ sĩ thường được dùng đề chỉ những người có cốt cách tài hoa, lãng mạn. Họ phản kháng trước hiện thực đời sống, nhưng là lối phản kháng của những người khinh bạc, bất cần. Khá nhất trong họ là bộ phận gần gũi với nhân dân (chủ yếu là nông dân), và nói lên tiếng nói tố cáo hiện thực, mong mỗi một ngày mai tốt đẹp. Nhưng xã hội sẽ vận động theo những quy luật nào, không ai biết, nghệ thuật có thề đóng góp được gì, không ai có ý niệm rõ ràng. Thiếu, rất thiếu các nghệ sĩ của những vấn đề chính trị, các nghệ sĩ đồng thời là nhà tự tưởng. Trước Cách mạng, phần lớn lớp nghệ sĩ này sống một kiếp sống vật vờ, mặc sự xô đầy của xã hội. Bởi vậy, cũng như phần lớn các tầng lớp nhân dân khác, khi Cách mạng tới, họ đón nhận một cách thành tâm, hồ hởi, nhưng cũng chưa bao giờ hiều rõ cách mạng và ý nghĩa một sự kiện như Cách

mạng tháng Tám trong đời sống dân tộc. Những thói quen cũ còn ăn sâu sâu trong mỗi người rất nặng nề. Ấy là không kề do tính chất của nghề nghiệp, trong những nghệ sĩ tiến bộ cũng không khỏi có ít chút ảo tưởng về tự do, về vinh quang nghề nghiệp. Vì thế, sau Cách mạng, trong khi tích cực tham gia mọi hoạt động chung, nhiều người vẫn mang nặng những suy tư tính toán cũ, và có những người, việc cải tạo là cả một chặng đường gian khở. Do tính chất đặc biệt của Cách mạng tháng Tám, một sự kiện lớn lao như vậy mà ngay từ đầu không gây nên quá nhiều xáo trộn trong đời sống tư tưởng xã hội, cũng như trong đời sống tinh thần mỗi người. Lực lượng cách mạng đã đoàn kết với tất cả những ai có thể đoàn kết được, để tập trung vào việc lật đồ ách thống trị của thực dân Pháp, ngoài ra, nhiều vấn đề tạm đề lại, tiếp tục về sau. Nhưng như một biến đổi xã hội căn bản, trước sau cách mạng đòi hỏi mỗi người phải tự thay đồi, phải xét duyệt lại nhiều quan niệm cũ, thói quen cũ, phải hình thành dần những nền nếp mới. Đây là một yêu cầu tất yếu, nhất định phải tới, dù chậm rãi, dù dần dà. nhưng không thể thiếu phần dứt khoát mạnh mẽ. «Bao

 

nhiêu vấn đề đều phải đặt lại tất cả cùng một lúc » (1). Riêng

 

trong lĩnh vực nghệ thuật, làm sao đề xây dựng một nền nghệ thuật mới, làm sao có được một lớp nghệ sĩ mới, nói lên đúng tiếng nói của cách mạng, giáo dục ý thức cách mạng cho quần chúng? Mà muốn vậy, rất nhiều quan niệm, nhiều thói quen cũ về sống, về viết, cần xem xét lại. Sự phấn đấu ở đây lại là cụ thể, không chỉ ở lý lẽ, mà còn ở tận những vui buồn hờn giận hàng ngày, những rung - động có vẻ như thoáng qua, nhưng nó cũng là chỗ sâu xa nhất của những tâm hồn tiều tư sản. Bấy nhiêu vấn đề

 

(1) Nguyễn Đình Thi - Mấy vấn đề văn học.

đặt ra khá cấp thiết, và đặt ra với cả những người đà tiếp xúc với cách mạng từ trong bóng tối như trường hợp Nam Cao. Hơn ai hết, Nam Cao sớm hiều. Nam Cao muốn nhìn thẳng vào những vấn đề đó, đề trao đổi, suy nghi tự mình vượt mình. Đi theo cách mạng đã khó; hiều được cách mạng, sống theo nếp sống của người cách mạng càng khó. Làm một công dân tốt là chuyện phấn đấu; làm nghệ sĩ cách mạng, còn phải phấn đấu nhiều hơn

 

Nam Cao như tự nói với mình và nói với mọi người như vậy. Những chuyện mà tác giả nói tới trong Đôi mắt, Ở rừng... nhìn lại đôi lúc thấy đơn giản quá đi, nhưng trong thực tế đã là chuyện phấn đấu cụ thể của bao nhiêu người, trong bao nhiêu ngày suốt cuộc kháng chiến trường kỳ và cả những ngày tiếp theo. Dĩ nhiên cuối cùng, trong khuôn khổ của cuộc cách mạng dân tộc, quá trình cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt >> đã đạt tới những kết quả đáng kề, chúng ta có một đội ngũ văn nghệ sĩ thuần nhất về tư tưởng, sẵn sàng làm tròn mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhẫn dân giao phó. Hóa ra, cái phần sức lực trong mỗi người còn rất lớn, chúng ta có thể làm được nhiều việc, miễn là mỗi người luôn luôn tự cảnh giác, luôn luôn phấn đấu đầy lùi những giây phút cọn người cũ trở lại trong mình...

 

Trên ý nghĩa ấy, Đôi mắt và ở rừng của Nam Cao vừa có giá trị hiện thực vừa có ý nghĩa tiên tri. Những vấn đề của người nghệ sĩ trong khi đi theo cách mạng diễn biến về sau, suy cho cùng, cũng là triền khai trên hai hướng mà Đôi mắt và ở rừng đã gợi ý. Nhìn chung từ thời tác giả viết Đời thừa, Nước mắt, tới giai đoạn này, có thề nói rằng: Khi trả lại cho lớp văn nghệ sĩ cái vị tríđúng đắn của họ giữa các tầng lớp quần chúng của giai đoạn lịch sử mà Cuộc cách mạng tháng Tám đóng vai trò

bản lề, khi nói rằng phần lớn văn nghệ sĩ cũng là những người lao động bình thường với những mặt tích cực cùng là những mặt tiêu cực của họ, Nam Cao đã mang lại cho tác phầm của mình một sức khái quát khá rộng rãi. Dù thuộc bất kỳ tầng lớp nào, những người đọc hôm nay vẫn có thể tìm thấy ở những tác phầm đỏ của Nam Cao những bài học sâu sắc.

 

1976

 


 

QUẢ NHỎ

HAY LÀ CÂU CHUYỆN SỨC TRẺ

Ở MỘT NGƯỜI LÀM THƠ TUỒI ĐÃ GIÀ

 

Khi viết, người ta không có tuổi... Tất cả những gì ta viết, thuộc về năm tháng, thì sẽ biến mất; những gì không thuộc về năm tháng thì sẽ còn mãi không thôi.

Mấy câu trên đây là do tôi tình cờ nhặt được trong một bài báo ghi lại cuộc trò chuyện giữa hai nhà văn xô viết lão thành (1). Tuổi trẻ có cách nói chuyện của tudi trẻ. Những người già có cách nói chuyện của người già. Nhưng ở đây, chúng ta lại một lần nữa thấy rõ ở cái phần sâu sắc của nó, những câu chuyện già – trẻ là rất thống nhất. Ở đây, các cụ nói về những quy luật trong nghệ thuật. Câu thứ hai có ý hướng người ta vượt lên trên cái ngẫu nhiên hàng ngày đề đi tới cái khái quát, và nhờ thế, viết được những gì gọi là đọc được mãi. Nhưng tôi thích hơn cả là câu thứ nhất. Tác giả muốn nói: khi viết, người ta bình đẳng, không câu

---

(*) Quả nhỏ, tập thơ của Khương Hữu Dụng, Nhà xuất bản Văn học - 1973.

(1) V. Selopxki nhà văn xô viết nổi tiếng, tác giả hơn 40 quyền sách, và nhiều công trình nghiên cứu về Đtxtoiepxki, Tônxtôl, nói chuyện với P. Antôkônxki, nhà thơ đã sang thăm Việt Nam. (Trích ở báo Tuần lễ, phụ trương t Tin tức, số đầu 1973).

nệ và không có quyền được chú ý mình là gì cả. Bài viết tự nó có tiếng nói của nó, có sức thuyết phục của nó, và chỉ có thế!

Những ý tưởng ấy như có gì liên hệ với tập thơ mà tôi có trong tay hôm nay: Quả nhỏ. Nhà thơ hiều tuổi tác của mình lẫm. Tôi là một nhà thơ già miền Nam Việt Nam - lời nói rưng rưng cảm động! Nhưng cái cảm giác đầu tiên cũng là cảm giác quán xuyến sau khi đọc xong tập thơ: đây là những gắng gỏi chống lại tuổi tác, thời gian. Đây là thơ của một người muốn trẻ.

Trong trí nhớ người đọc, nhất là những thanh niên lứa chúng tôi, Khương Hữu Dụng là một người làm thơ gần như không có tuổi trẻ. Chúng tôi chỉ bắt đầu đọc ông từ sau khi hòa bình lập lại 1954. Khi bắt đầu đọc, chúng tôi đã được giới thiệu đấy là một nhà thơ lớn tuời. Phần đóng góp quan trọng của ông là phần thơ dịch, ông dịch Lý – Đỗ - Bạch, dịch Lục Du, dịch những nhà thơ cở Trung Hoa. Cái cốt cách của ông xui ông đi tìm vào thơ người xưa rồi từ đó, thơ ông dịch lại nhập vào ông một cách tự nhiên, nhập vào chính thơ ông viết ra. Thơ Khương Hữu Dụng không dễ dãi, hời hợt (cái nhạt nhẽo hời hợt giờ đây lan đến cả những người có một thời oanh liệt»). Nhưng ông cũng không có sức, sức quyến rũ mạnh mẽ -có một ít bạn đọc nào đó có mắt xanh tri âm tri kỷ, thì tác dụng cũng là trong phạm vi hẹp. Nhưng luôn luôn Khương Hữu Dụng bền bỉ, cần mẫn, chung thủy với thơ. Phải tới một lúc nào đó, ta mới chợt nhận ra: Ông không chịu yên nghỉ, đứng lại. Ông muốn làm cho thơ mình trẻ lại, kề cả làm thơ tình yêu, thơ thiếu nhi. Ông muốn tiếp lấy cái khỏe, cái thô của đời sống thực tế.

Cách đây mấy năm, chúng ta đọc trong tập Thơ chông Mỹ cứu nước những câu thơ chắc, khỏe:

Trèo lên đỉnh Côn Sơn

Ngó ra đồng Thồ Vị

Ruộng trũng nước mênh mông

Chim bay không chỗ nghỉ

Trâu nặng nhọc kéo cày

Người sục bùn xắp về

(Con gái Thô Vị)

Còn nhiều những ví dụ tương tự ở thơ Khương Hữu Dụng. Trong Quả nhỏ có một chùm thơ viết về ong. Một mặt đó là cái cách tác giả góp mặt trong việc tuyên truyền ca ngợi nền nếp làm ăn mới. Mặt khác, tôi tưởng như Khương Hữu Dụng muốn tìm thấy trong hình ảnh bầy ong một triết lý sống cho chính mình. Lướt sáng một con ong, ong này đúng là ong trong tập Quả nhỏ: ong biết mình bé bỏng, đã lấy cái nhanh nhảu cần cù đề bày tỏ sự tận tụy của mình với đời sống. Rồi đến một đoạn sau, tác giả hạ một câu tâm huyết « Thà làm ong nhỏ, hơn làm cây khô » – Câu thơ không đẹp, nhưng nó có tư cách một lời tự nhủ. Người làm thơ ấy đã không muốn ảo tưởng, lại sợ những vinh quang phù phiếm, có hư mà không có thực. Ngược lại, ông muốn gắn bó với đời sống một cách sinh động trong phần sức lực của mình. Cái phần trẻ của Khương Hữu Dụng bắt đầu từ đấy.

Có một quy luật khắc nghiệt trong sự sáng tạo nghệ thuật: quy luật về sự gắn bó trung thực giữa cuộc đời người viết và những điều anh viết ra. Phải viết đúng như mình sống, phải chân thành bộc bạch - nếu không, anh chỉ gặt hái được những kết quả giả tạo. Thật là một điều oái oăm: khi nào Khương Hữu Dụng muốn làm ra trẻ, cái trẻ bề ngoài, thì ông lại vẫn là già, và có thể nói, vẫn cô. Thanh niên hiện nay thật khó tìm thấy ngôn ngữ tình yêu của mình trong những câu đại loại: Tay vít một nhành hoa. - Níu do mùa xuân hỏi - Vì người công tác xa - Xuân ơi xuân có đợi. Có một âm hưởng quá tịch mịch trong những bài thơ kiều ấy, thứ tịch mịch không hợp với cái năng động sôi nổi của thời đại. Tôi cũng chỉ thấy quý, thấy trân trọng trước những cố gắng của tác giả Khi đọc những bài trong chùm Ông cháu của tập Quả nhỏ. Như tác giả đã nhận (đứa trẻ Dạy ông biết lạ, Dạy Ông làm thơ), những bài ấy mới chỉ có cái «lạ». Nhưng «thật Khương Hữu Dụng» nhất lại là chùm thơ Cha con, và những bài thơ tâm sự về đời, về nghề. Cái thế của các bài thơ, cái thế của tác giả trong những Thơ gửi con trong nó, Thắc mắc... hiện ra khá rõ, khiến người đọc đễ cảm thấy đồng điệu. Ở đó có thể nhận ra một tiếng nói, một hình ảnh, những bóng dáng của một người bình thường trong những năm này - trong trường hợp Khương Hữu Dụng là một người cha, một ông già có những « thốn tâm tư » với dân với nước, đã gửi tất cả hy vọng vào người con trai về chiến đấu trên chiến trường cũng là trên quê hương - người cha ấy đã dành nhiều nước mắt vui buồn với con. Đó cũng là một nhà thơ già Việt Nam đi giữa đường phố Mátxcơva còn cảm nghe tiếng hô của Maia, hoặc vừa dịch thơ Đỗ Phủ, Lục Du, vừa liên hệ tới cuộc đời của mình, tìm trong thơ người xưa lời động viên cả quyết sống, làm việc. Dịch thơ Lục Du là một thứ thơ cảm tác, rút ra bài học, vậy mà nhờ có sự chân thành, nên lại có sức thuyết phục, kề cả cái phút tác giả Ngừng dịch vùng nhỏm đậy - Viết bài thơ tặng ông - một chuyền biến đột nhiên, cũng hòa hợp lý.

Có thể rút ra nhiều kinh nghiệm khác nhau qua trường hợp Khương Hữu Dụng (ví như về quá trình vận động của truyền thống thơ cô trong việc biều hiện hiện thực mới - mở rộng ra, về một mẫu người mang cốt cách sách vở nhà nho sống trong thời đại có những biến đổi cách mạng). Thế nhưng trước tiên, tập thơ Quả nhỏ gợi ra vấn đề già trẻ như trên đã nói. Lâu nay, trong văn học, đây là chỗ có nhiều lẫn lộn. Ở chỗ này chỗ kia, có lúc có người đại khái cho rằng già trẻ chỉ là căn cứ vào tưởi tác, hễ người nào ít tuổi hơn và xuất hiện sau là trẻ, người nào nhiều tuổi, xuất hiện trước là già. Kề ra, tính cả một quãng đường lịch sử, đúng là giữa các thế hệ phải có những sai khác. Có điều, với từng người, trong từng trường hợp một - trường hợp của thơ, của văn học -không hoàn toàn có một thứ xếp hạng kiều trời cho như vậy. Đôi lúc có những tiếng nói trẻ, ít tười, chính thực lại là sự đầu thai của cái già cũ, chẳng qua anh ta có được cái phong điệu của người mới vào nghề, nên gây ngộ nhận. Thường cái mới cái trẻ trong trường hợp này là những cái dịu nhẹ, hồn nhiên, có thề nói là những cải nón bợt, ngây thơ bản thân nó là cái bóng của những gì già cũ, bởi vậy, nếu có được chính những người cũ nâng niu khen ngợi thì cũng là điều dễ hiều. Còn trong đời sống cũng như trong văn học, cái mới cái trẻ phải là một cái gì khác: một cách sống mới, một cách nghĩ mới, qua nhiều bước đường tìm tòi, vật lộn, đến mức trưởng thành, cứng cỏi, trở thành một yếu tố mới đóng góp vào quá trình lịch sử - với cả một thế hệ, có thể nói rộng ra như vậy. Riêng ở từng người, đó là sự phấn đấu một cách có ý thức, một khao khát muốn sử dụng hết những khả năng thời đại cho phép, phát huy hết sức mình góp vào tiếng nói chung cái mới cái trẻ đó có thể có ở bất cứ ai, ở mọi lứa tuổi, cả ở những người già. Tôi nhớ lối cắt nghĩa của một nhà văn nước ngoài: Người ta khi bắt đầu viết, bao giờ cũng là một sự bắt chước, cho nên bao giờ cũng hơi già. Phải mất nhiều thời gian, mới có thể tìm được phương hướng cho mình, nghĩa là phải mất nhiều thời gian người ta mới trở thành trẻ được (có những người suốt đời Không bao giờ trẻ được, lại là một chuyện khác!). Trở lại trường hợp thơ Khương Hữu Dụng. Tôi không nói rằng lúc nào ông cũng trẻ, cũng mới. Nhưng tôi thấy ở ông những nhiệt tâm của một người hiều rằng không thể già, không nên già, và trong một số trường hợp khi nào ông vượt qua mọi yếu tố tự nhiên trong mình, ông thành thực là mình, khi đó, ông đã trẻ thực sự.

 

1973


 

CẢM NGHĨ NGƯỜI MỚI CẦM BÚT

 

Trước tiên, tôi nghĩ đến những đồng chí một tiu đội với tôi hồi mới nhập ngũ. Trên đường lên Tây Bắc, buổi tối chúng tôi qua phà Suối Rút cũng là buổi tối đài phát thanh của ta báo tin Thanh Hóa, Quảng Ninh bn rơi máy bay Mỹ. Đó là ngày 5.8.1964. Vào đơn vị, thực sự chúng tôi cũng bước vào chiến tranh. Từ đó đến nay, tiu đội, trung đội bao lần thay đi: lúc đi chiến trường, lúc về xây dựng; có đồng chí chuyền đi xa, có đồng chí ở đơn vị làm tiu đội trưởng rồi trung đội trưng. Có đồng chí đi học về phụ trách đại đội phó ngay đại đội trước kia.

Lùi về trước nữa, tôi nghĩ đến những người bạn học cùng lớp, những người bạn khăn đỏ, những người bạn cũng là người đồng chí kết nạp mình vào Đoàn. Thuở ấy, chúng tôi đã mượn tên phim mà gọi một cách kiu cách là mỗi đứa sẽ có một số phận khác nhau. Vậy mà cũng chưa đứa nào hình dung ra hết rằng cả bọn lại đi theo những ngả đường khác nhau, làm nhiều công việc khác nhau đến thế.

Lớp học nào, đại đội bộ đội nào thường cũng có một vài người như kiu bọn tôi, vọc vạch làm thơ viết báo. Khi bài viết của chúng tôi bắt đầu được sửa chữa và sử dụng trên một tờ báo in ở tỉnh hoặc ở trung ương thì bạn bè đồng chí ai cũng nhìn bọn tôi bằng con mắt rất nhiều khuyến khích. Vậy mà trừ một số anh bạo dạn, còn phn đông không dám tâm sự với mọi người. Tâm lý phố chiến là: cái công việc này quả thật phức tạp. Sức mình có hạn: Mang nặng đẻ đau”, làm xong rất muốn cho mọi người xem mà lại không khỏi giấu giấu giếm giếm bí mật một cách rất vô lý. Cho đến gần đây, những bạn học cũ, những đồng chí cùng đơn vị cũ, hoặc cả những người cùng lứa tuổi, những người bạn mới quen như đều có ý hỏi tôi rằng: công việc cầm bút là như thế nào? Một số người bắt đầu học cầm bút như bọn tôi hiện nay ra sao? Những câu hỏi ấy, chúng tôi vẫn thường đặt ra, nhưng lại nghĩ không có gì đáng nói, tự mình cũng không trả lời mình cho trọn. Vẫn tâm lý ngần ngại ấy... Trong số những lời dặn dò đầu tiên của các anh lớn tuổi với những người mới vào nghề như chúng tôi, có một câu mà tôi chôn chặt trong lòng: văn chương là thứ rất dễ dang dở, dễ nản lòng. Không thiếu gì người mới xuất hiện đột xuất, tài hoa, nhưng rồi lại li đi rất nhanh, lại tt rất mau chóng. Chẳng khác như Trình Giảo Kim trong Thuyết Đường bao giờ cũng được vài ba búa đầu, đến búa thứ tư là bỏ chạy. Đến nay trong chúng tôi thỉnh thoảng vẫn có người chưa tin rằng mình đã chọn đúng nghề, đã có thể đi suốt đời với văn chương, nghệ thuật. Có điều, cứ gng sức làm, vừa làm vừa tính thêm. Đường đi nước bước của một người mới cầm bút cũng bao gồm mọi chặng như một người thợ mới học việc, một cán bộ khoa học trẻ trong những bước đầu. Tôi nhớ đến những cô thanh niên xung phong mà tôi đã gặp trên nhiều nẻo đường.  Nhiều cô ra đi, bố mẹ ở nhà chưa bằng lòng, phải trốn theo bè bạn. Đang ở nhà vừa làm vừa nghịch, vào đơn vị thì đủ mọi chuyện. Suốt dọc Trường Sơn, con gái cũng học chẻ lạt làm nhà, xúc đất đầy xe, rồi phá bom, đốt bộc phá. Hình như công việc của chúng tôi cũng thế, cũng đòi hỏi phải thật hết lòng, thật tự nguyện, không ai bảo mà tự mình buộc mình làm, lăn vào làm, say sưa, mê mải, rồi từ đó học thành người luôn thể. Trong một lần đi với đơn vị xe, tôi lại nửa đùa nửa thật mà kháo với mọi người: nghề viết có gì gần với nghề cầm tay lái ấy lắm. Công việc giao cho từng người một, tính nết thế nào thì công việc ra thế. Từng người lo liệu nhưng lại phải đảm bảo yêu cầu chung, đội hình chung. Tất cả những liên tưởng trên chỉ đ nói lên rằng: mỗi đơn vị, mỗi cơ sở, mỗi lớp học tự chia mình đi bao nhiêu công việc thì chia một hai đứa vào nghệ thuật, văn chương. Và chúng tôi có nên người hay không, có được việc hay không, chúng tôi có trách nhiệm với chính mình, nhưng cũng là chịu trách nhiệm với bao nhiêu gửi gắm, lo toan của bao nhiêu tập th mà chúng tôi đã từng được ở, từng được đùm bọc. Mối liên hệ với những cơ sở lớn lên là một trong những điều kiện tồn tại của mỗi người viết. Đó là câu chuyện lý luận mà cũng là câu chuyện tình cảm hàng ngày. Đến lượt mình, mỗi người chúng tôi sẽ phải tự lo, bằng vào những điều mình đã thể nghiệm.

 

*

Cũng phải thú thực rằng: tuy không được chia s với nhiều người, nhưng quả là một niềm vui rạo rực trong lòng mỗi chúng tôi khi bài viết đầu tiên được sử dụng. Ai ở vào địa vị này cũng thế. Như khi người ta cầm sản phầm đầu tiên sau thời gian học nghề chẳng hạn. Đó là sự ghi nhận của một thành quả lao động. Hơn thế nữa, đó là dấu hiệu của một khả năng đ có thể đóng góp tiếng nói với mọi người. Một phương hướng nghề nghiệp mở ra từ đây. Sao không hồi hộp và trân trọng cho được?

Trong những lý do đ cắt nghĩa hầu như người thanh niên nào cũng có lúc làm thơ, viết truyện, thì lý do quan trọng nhất là: lúc trẻ tuổi, cảm giác trong người ta đang nhạy bén. Mọi điều đến với mình là thuở ban đầu, còn mới lạ, còn tươi nguyên. Mới một thoáng rung thôi mà đ lại những dấu ấn rất sâu sắc. Gặp cái gì cũng ngơ ngác, ngạc nhiên, tưởng như thế giới vừa được phát hiện. Lại thích nói to lên. Lại thích phân bày tình cảm của mình trên giấy, trao đổi với người khác nữa. Thật là hồn nhiên, thật là duyên dáng, duyên dáng ngay ở cái vụng về ngượng nghịu của mình.

Tôi đi giữa buổi đầu ngày – đi giữa

Buổi đầu xuân - đi giữa buổi đầu tiên

Như sáng nay cuộc đời vừa mới mở

Và ban đầu cây với gió cười duyên.

(Xuân Diệu)

Biết làm sao, sự nhạy cảm đó là một đặc đim nghề nghiệp, một thứ tính trời cho, nhiều khi không hề có ý thức, có gắng gượng. Rồi ra, những cảm giác ấy có thể khó đến hơn, nhưng vẫn là phải có. Có thể thưa hơn, ít mãnh liệt hơn, và có thể giấu đi được, nhưng cũng không th biến hẳn, vì biến hẳn thì tức là mỗi người viết tự khóa đường mình lại, tự xóa đi vẻ hồng hào trên nét mặt mình.

Lại có 'những mặt người viết như già trước tuổi, và yêu cầu nghề nghiệp này cũng thật bức thiết. Những vinh quang trong văn chương, nếu có th gọi được như thế, đến rất nhanh và qua đi rất dễ dàng. Trường hợp một người viết thuận buồm xuôi gió, thông đồng bén giọt, viết cái gì cũng đúng là văn học cả, cái sau hơn cái trước - trường hợp đó xem ra rất hiếm hoi. Thông thường là nếu anh không quá mê muội và tự lừa dối, nếu anh tỉnh táo một chút, anh sẽ sớm nhận ra mình. Những vốn liếng dành dụm được vơi cạn đi một cách nhanh chóng. Một số bài trước còn có hồn có cốt, những bài sau thì cứ thế mà bôi bác đắp điếm. Mới trông có vẻ hào nhoáng kỹ thuật. Thật ra, càng kỹ thuật lại càng chóng chán. Văn học không thể chỉ là một ít nhận xét tinh vi, hoặc là sự giỏi bắt chước, dễ rung cảm. Bây giờ người mới học viết đứng trước một thử thách rất quan trọng: hoặc là anh quan niệm văn học một cách hời hợt, nói cho cùng là một thứ chơi văn chương, để rồi quanh qun với những tác phầm đầu tay, đi tìm những cái bóng khác của nó, hoặc là anh tiến tới một quan niệm về văn học ngày càng hoàn chỉnh, đ lo lắng cho mình có một sức lực lâu bền, có thể đi xa được.

Một người cầm bút nghiêm chỉnh sẽ phải nhanh chóng khôn lên về nhiều mặt lắm. Trước hết là cần một sự từng trải, một sự lịch lãm. Thật đáng ao ước nếu anh luôn luôn được sống giữa những cơn xoáy của thời đại, nếu mọi thăng trầm của cá nhân anh luôn luôn ăn khớp với mọi biến động của lịch sử, của nhân dân. Ấy là một may mắn không cùng. Có người được, có người không, không phải ai cũng có những may mắn ấy. Nhưng mặt khác, nói cho cùng, mỗi cá nhân vẫn có một khía cạnh đin hình của nó. Phân tích mọi người, mỗi người viết cũng tự phân tích mình luôn th. Bí mật của nghề văn là biến cho được cái riêng tư đó thành cái chung mọi người. Cả cuộc sống của tuổi thơ trước kia, dù nông nổi, dù bản năng, sẽ được huy động tới. Đọc sách là cách nhờ người khác gi lên trong mình những gì sẵn có. Đọc sách đ vượt lên trên thời gian và tuổi tác, đ có thể xuất phát ngay từ chỗ mọi người đã đến, rồi đây dù chỉ nhích thêm được một tí thì cũng vẫn là đóng góp của mình. Tất cả những việc này xen kẽ vào nhau, xuyên thấm lẫn nhau, theo hàng ngàn kiểu, với hàng ngàn đường dây, ăn ni ăn chìm, không phải bao giờ cũng tách bạch được rõ ràng, có khi tưởng như không sao hiều ni. Ngày tháng cứ qua đi với một vẻ bình lặng. Thực ra, ở tận bên dưới, một quá trình phức tạp đang đy tới, mọi yếu tố đều được vận động rất khẩn trương. Rồi tự nhiên đến lúc nào đó, những sự gom góp của anh mới hiện ra thành những sinh sắc trên trang giấy anh viết. Lúc ấy thì mỗi người khác nhau lắm rồi. Không ai tự hơn mình được. Nhưng cũng mấy ai dám nói rằng thực sự mình đã biết mình. Đã đành giữa thực tế và quan niệm, cái nọ bổ sung cho cái kia. Nhưng về từng người, trước khi đi vào thực tiễn, quan niệm giống như cái địa bàn với người đi giữa rừng rậm, Làm sao đề có chủ kiến, làm sao đề sớm nhận ra chỗ nào là mặt yếu, mặt mạnh của mình. Khi đã có hướng rồi thì mọi công việc dù ngồn ngang bề bộn đến đâu cũng cảm thấy có từng có lớp, không phải quá lo lắng, không nóng nảy phí sức nhưng cũng không cầu toàn rụt rè - tất cả những cái sau này chỉ làm cho người ta hối hận.

Trong suốt cuộc sống, ở tuời thanh niên, mỗi người có biết bao là việc phải làm. Phải nhận thức mọi chuyện đề ngay lập tức phải hành động. Từ việc chung là xác định những quan niệm sống, những con đường phục vụ đến những việc cụ thể là chọn nghề chọn ngành, rồi lo những việc riêng như gia đình nhà cửa - nếu anh không muốn là người khác thường thì anh phải lo liệu xong trước ba mươi tuổi. Một anh bạn tôi nói: chúng ta bận quá đến nỗi không biết bắt tay vào việc gì trước hết. Đấy là tình trạng có thực của một số người. Lúc đó, người viết như phải phân thân. Vừa làm tất cả công việc như faọi người, vừa phải tách ra suy xét, tự mình xét mình, rồi tìm cách phô diễn, trao đời. Qua cuộc đời mình, từng trải của mình mà nói những người khác. Từ một chi tiết bình thường đến những quan niệm lớn lao, biết thứ gì là không cần cho mỗi người viết, biết thứ gì không thể không mang vào trang sách nếu mình đã nhập vào nó, đã chiếu rọi cho nó một thứ ánh sáng. Người yếu bóng vía sẽ rợn ngợp vì thấy như mình đứng trước một khoảng không quá rộng, không biết đi theo hướng nào. Song chính đó là một thử thách. Người chủ động, người có hướng sẽ có dịp đề mở ra tất cả sức lực và đi được theo hướng riêng của mình.

Với bằng ấy bước đường, quá trình đi tới một quan niệm về văn học đúng đắn là một quá trình gian khô mà không phải bất cứ ai cũng đến được. Ở đầu mút quá trình ấy, ta có một người viết với ý nghĩa rất nghiêm chỉnh. Đó là một người làm công tác tư tưởng, công tác tâm hồn. Đó là một người biết giải thích những điều mọi người đều quan tâm. Vai trò của người sáng tác là cống hiến cho xã hội một sự vật không ai có yêu cầu và hình dung ra trước, nhưng khi đã tiếp thu rồi thì không ai là không cần đến được. Quan niệm về vai trò của nghệ thuật trong cuộc sống, quan niệm về người chiến sĩ - nghệ sĩ phải được hình thành vừa đúng đắn, vừa độc đáo, vừa được xã hội chấp nhận vừa phù hợp với tài năng và bản lĩnh của từng người.

Đứng ở chỗ xuất phát trên một con đường xa, với mỗi người cầm bút cái gì cũng cảm thấy thiếu, chỗ nào cũng cần lo toan. Nhưng đáng lo toan nhất là điềm này, có nó rồi thì với tui đời và kinh nghiệm sống, với sự trao đôi và giúp đỡ của mọi người, mọi vốn liếng khác sẽ dần dần bồi đắp được.

Có những người đọc khi gặp người viết đâm ra ngạc nhiên. Hình như trước kia đọc văn, mình quan niệm về người viết đó hơi khác. Loại trừ trường hợp người đọc kia do mới gặp và có nhận xét không đúng, thì cũng có người viết sống một đằng viết một nẻo, còn người trong văn chương không giống con người hàng ngày. Nói cho cùng, đó sẽ là một thứ văn chương vay mượn, đôi khi là một sự bắt chước khéo tay rất dễ rơi rụng. Còn sống giữa những người viết thật sự, bất cứ ai cũng sẽ có một cảm giác là người làm sao văn thơ làm vậy, văn chương thế bởi người như thế, cả những điềm bề ngoài ai cũng nhận thấy những điểm quanh co khuất khúc, bị nhòe đi dưới một ảnh hưởng nào đó, theo một thói quen nào đó chỉ người thân thiết ở lâu mới nhận ra. Điều đó lại càng đúng từ những ngày đầu tiên, khi người ta còn đang ở tuời thanh niên. Cho nên tất cả những nỗi lo sống, lo làm người trước khi lo viết là những điềm thuộc về lương tâm của mỗi người, và bây giờ đặt ra thì cũng không còn là sớm sủa nữa.

 

*

Trông vào một nhóm người tập viết, nhiều khi thấy những nét mặt khác nhau nhất. Người của quê hương đồng bằng, lúc nào trong câu chuyện cũng có những con thuyền như bay trên sông, những bãi đất sa bồi, những đêm trông máy bơm hợp tác. Người của biển cả của những cơn sóng thần sóng lừng, và những cánh hải âu trên biển. Người lính Hà Nội vào Trường Sơn nhớ mãi cánh đại bàng đất và những mùa mưa dài. Còn bạn đị học ở nước ngoài về, vốn muốn giấu đi nhưng bè bạn lại rất cần anh nói về Béthôven và Mikenlănggiơ, về Rômanh Rôlăng. và Sôlôkhốp. Chúng tôi vốn xuất thân từ những môi trường khác nhau; về mặt tính khí, chúng tôi khác nhau nhiều lắm. Vậy mà bấy nhiêu chỗ khác nhau như thế, bao giờ cũng được chúng tôi tô đậm hơn nữa, có ý thức làm cho nó ngày càng rõ nét hơn nữa, đề cuối cùng đưa ra một thứ gì khác tất cả những người khác trước mình, và bên cạnh mình. Rút cuộc, cái chung nhất, cái làm cho chúng tôi quí nhau nhất chỉ là hiều nhau có những quan niệm thống nhất. Đó là những nguyên tắc sống, những hướng nhìn xã hội, và cả những khát khao làm việc, những mong mỏi và ao ước về nghề. Lắm lúc, tôi có ý nghĩ hình như tạo hóa bố trí cũng công phu lắm. Cũng giống như mọi nghề mọi ngành, ở đây có đủ bộ, đủ kiều, đủ phong cách. Những tính cách khác nhau bồ sung cho nhau. Có những sự làm quen đến rất nhanh, và người ta chợt nhận ra rằng đúng là lâu nay ta thiếu anh này mà ta không hay. Ở đây, không ai có ý niệm về ngôi thứ cả.

Những câu chuyện của chúng tôi cũng mỗi thời kỳ một khác. Nó cứ theo dần với sự trưởng thành trong suy nghĩ của chúng tôi mà biến đồi. Khi đầu thì ồn ã, lúc nào cũng mang thơ văn mình ra mà đọc, mang văn thơ người khác ra mà phầm bình. Nhưng cái thuở ban đầu ấy qua đi nhanh chóng. Người nào cũng đã biết chỗ mạnh chỗ yếu của chính mình. Thường xuyên hơn, kỹ lưỡng hơn là những tâm sự, những bàn bạc về cuộc đời, những ý nghĩ sau một chuyến đi, một ít điều thu hoạch được qua một quyền sách. Thảng hoặc có, đọc nhau và trực tiếp trao đổi về nhau thì những nhận xét cũng kín đáo hơn, sắc nhọn hơn... Nhìn chung câu chuyện xem chừng chậm rãi, mỗi người như ít tranh luận đi, gặp nhau đề nghiền ngẫm những ý nghĩ là chính. Nhưng đó lại là chỗ cần thiết, chỗ còn lại của những lần trò chuyện. Sau khi gặp nhau, người nào cũng cảm thấy như được thúc giục: Vừa có phân tự tin hơn, thấy mình hòa hợp trong những băn khoăn lo lăng của bạn bè. Vừa thêm phần lo lắng cho việc viết, thấy mình phải cố gắng đề xứng đáng với mọi người. Rồi ra, nếu ai có viết gì thì bè bạn – đó chính là những người đọc đầu tiên. Gạt đi mọi thứ thiên lệch cá nhân, có lẽ không đâu người ta nhìn rõ nhau như ở giữa những người viết. Chúng tôi theo dõi nhau, tính đến quá khứ và tương lai của nhau trên từng bước một. Không ai cản đường ai cả, chúng tôi muốn tất cả đều theo hướng của mình và viết tốt hơn nữa. Rơi rụng người nào thì tiếc người ấy. Và một điều vui sướng bậc nhất của những người viết là lúc nào đó ngồi với nhau, tìm ra được những giá trị mới, nhận thêm được những người bạn mới, theo dõi, tin tưởng. Chẳng những người cùng nghề, mà cả nhân dân đất nước lúc nào cũng mong chờ có thêm những tài năng. Ở cái ngành này, tài năng vẫn còn là hiếm hoi lắm. Nhiều người trong chúng tôi đã nhiều lúc nghĩ chẳng qua mình chỉ đóng vai trò bắc cầu. Sẽ có những người đang lăn lộn ở những ngả đường xa nhất hôm nay. Sẽ có những người ở chiến trường về. Sẽ có những người thật sự có tài. Bằng cả cuộc đời mình, những người ấy đã và đang chuẩn bị cho những đóng góp lớn lao mà đất nước mong chờ. Nói lực lượng viết trẻ hiện nay còn những mạch ngầm chưa ai tìm ra là với ý nghĩa ấy.

Một mối quan hệ khác có tính chất tình cảm sâu sắc trong mỗi lớp người mới viết còn là những trao đi đồi lại với lớp người đi trước. Có lẽ người thanh niên ở ngành nào đôi lúc cũng sung sướng chợt nhận ra mình bỗng được là đồng nghiệp với các bậc cha anh. Riêng trong phạm vi văn học, niềm sung sướng của chúng tôi còn lạ lùng hơn nữa. Ở đây, chúng tôi được tiếp xúc, được trò chuyện với những người mà tên tuổi đã in sâu vào tâm khảm từ ngày ngồi ghế nhà trường. Thỉnh thoảng lúc vui câu chuyện với các anh, tôi vẫn nhắc lại những tác phẩm mà tôi còn ghi nhớ tường tận cho đến cả vị trí in trên trang báo, một bức tranh minh họa, mấy chữ in sai. Có gì là lạ. nhưng cái đó là những bài học vỡ lòng của chúng tôi. Công việc sáng tác phần lớn bắt nguồn từ những ấu trĩ mô phỏng theo cái gì mà người thanh niên thấy hay. Chúng tôi tự nhận là những học trò, dù học trò không bao giờ biết mặt thầy cả.

Những lần gặp gỡ đầu tiên với các anh lại càng đề lại trong chúng tôi những ấn tượng sâu đậm. Sau này tôi được biết rằng nhiều anh cũng đề tâm lo lắng cho chúng tôi nhiều lắm, Sau những hàn huyên vui vẻ, các anh sớm bảo chúng tôi về những vất vả khó khăn trong công việc. Với cái nhìn của một người trong cuộc, hơn nữa, một người lớn tuời, các anh phân tích cặn kẽ và đầy sức thuyết phục về từng bước đi, từng thành công và thất bại của chúng tôi. Ngược trở lại, chúng tôi cũng sớm nhìn các anh như những người có thể tin cậy được đề tâm sự, đề nhờ trả lời cho bao nhiêu khúc mắc trong lòng về cuộc đời và nghề nghiệp. Không khỏi có lúc, các anh cố giấu một mụ cười trước những dự định trẻ con và ngớ ngần của chúng tôi. Nhưng ngay lập tức, các anh lại biết rằng không có những mưu đồ ấu trĩ, những dự định viền vông kia, thì chúng tôi lại bông phèng và vô vị một cách vô duyên hơn nữa. Lịch sử đi theo đường xoáy trôn ốc. Những thế hệ sau bao giờ cũng lặp lại những bước đi của thế kệ trước, chỉ có khác là những bước ấu trĩ ngày càng rút ngắn, sự trưởng thành nhanh hơn. Điều tâm tình lớn nhất các anh nói với chúng tôi là trong văn học không một sự chiếu cố, khuyến khích, một sự đỡ đầu nào có thể dựng lên được một người viết. Điều quyết định nhất vẫn là ở từng người viết tự lo liệu lấy. Nói thế thôi, chứ chính các anh vẫn cần mẫn chỉ bảo, vẫn theo dõi cặn kẽ. Và bản thân tấm gương sống và làm việc của các anh khi chúng tôi được ở gần biết rõ một cách tỉ mỉ, đã là sự đỡ đầu quan trọng, sự gợi ý chí tình rồi. Đến một lúc nào đó, các anh cũng thấy phải mà chúng tôi cũng thấy cần nói chuyện với các anh một cách khác. Không phải chỉ có lắng nghe mà còn bàn bạc tranh luận. Không phải là một mà có khi còn tồn tại những ý kiến khác nhau. Bây giờ mỗi bên lại có công việc thực tiễn bảo đảm đằng sau. Nhưng bao giờ cũng thế, chỉ ít lâu thôi, mọi người đều hiều những sai biệt ấy về mặt thái độ chẳng có gì quan trọng, mà về mặt công việc lại là chuyện tất nhiên, Đã thật yêu quí nhau thì việc gì mà lúc nào cũng phải nôi với người kia về tấm lòng của mình! Một cách rất là chân thành, có anh đã nói đến sự vượt lên của chúng tôi mà các anh coi như chuyện tất nhiên phải có,

 

*

Làm công việc cầm bút, đã nhiều lần chúng tôi được nghe tâm sự của nhiều người cùng tuời. Những nỗi lòng sâu kín, những bước đường quan trọng của những người quen lâu và mới gặp, của anh bộ đội cũng như của người sinh viên, của đồng chí cán bộ huyện và của cô thanh niên xung phong. Bao giờ thì những nỗi niềm tâm sự đó cũng ánh lên một vẻ trong sáng, toát ra một không khi tốt đẹp, và tình cảm tin yêu, và cái nhìn hướng về đằng trước. Với tất cả những ấu trĩ vụng dại, thậm chí những lỗi lầm nữa, người thanh niên nào cũng cảm thấy mình đang lớn lên, thấy tự hào và có đủ can đảm đề kể lại, đề chia sẻ những gì riêng tư của mình với mọi người khác. Do sự mến yêu và tin cậy hết lòng, các bạn đã chuyện trò và gửi gắm những cái đó cho chúng tôi. Trước khi viết lên trang giấy, đúng hơn là bắt nguồn cho mọi thứ sẽ viết, tấm lòng chúng tôi cũng xôn xao những mong chờ, những lắng nghe, cùng vui, cùng buồn, cùng thấy cần tâm sự. Nếu nói đến những niềm tự hào trong nghề thi đó chính là nỗi vui, là niềm tự hào thứ nhất.

Bây giờ đến lượt chúng tôi tâm sự trở lại. Có bao nhiêu điều cần nói ra, có bao nhiêu điều ấp ủ bấy lâu từng làm chúng tôi băn khoăn nghĩ ngợi. Chính chúng tôi cũng chưa hiều hết công việc, hiềuhết mình, mình là thế nào và có thể thành những gì. Chính chúng tôi còn đang tự nghe và nghe được hay không còn là ở khi làm việc, mà chúng tôi thì mới bắt tay làm việc. Có điều, như từ đầu đã nói, cảm giác đầu tiên và quán xuyến mà mỗi người ngày càng thề nghiệm (ít ra là một người như tôi quan niệm) là thấy nghề này cũng giống như mọi nghề, việc mình cũng giống mọi việc khác, cũng ở tình trạng tương tự, may mắn và bất hạnh tương tự. Phải trông vào chung quanh, đề không sốt ruột, đề yên tâm và gắng sức làm. Ai có công việc người ấy, sẽ có người nào lo liệu việc này thay hộ ngoài chính chúng tôi?

Lại một lần nữa, tôi muốn nhắc đến những điều mà các anh lớp trước tâm sự. Vốn rất yêu mến thanh niên, một anh có lưu ý rằng tuổi trẻ cần cố gắng nhìn mọi thứ cho nghiêm chỉnh. Không bước đi theo những lối mòn nhưng cần trân trọng những gì người đi trước đã làm được. Nhất là với công việc của mình, có lẽ nên bớt «đùa», mà trả lại cho nó cái ý nghĩa cần có. Không hiều các bạn khác thế nào, riêng tôi, tôi không khỏi giật mình. Quả là trước đây mình đã «đùa » hơi nhiều. Đùa với văn học và đùa với cuộc đời. Đùa với mọi người và với chính mình. Văn học như một trò chơi, tôi nghĩ thế, đấy là quyền của cá nhân, thích thì làm không thích thì bỏ. Không ai có quyền yêu cầu mình cái gì hết. Không ai giúp mình được và mình cũng chẳng bảo được cho ai. Cho đến gần đây, tôi mới nhận ra rằng cái lõi đùa này không phải vô hại. Nó sẽ trói chân trời tay mình lại. Nó sẽ làm hỏng cả một đời người. May mà chưa có tác hại gì lớn. Đã đến lúc cần nhìn vào công việc với một thái độ đúng mức. Cần nhìn cho hết ý nghĩa của mỗi dòng chữ, mỗi trang báo, cho đến mỗi lời nói, mỗi việc làm hàng ngày. Những vất vả gian khồ của bè bạn đồng chí cũ trên chiến trường và trong nhà máy, cả những hy sinh thầm lặng của bao nhiêu người mẹ người chị, rồi tỉnh thần ngàn năm của nhân dân đất nước, thành quả hơn ba mươi năm nay của cách mạng hai miền-có thể ứa nước mắt lắm chứ, khi ta nghe một điệu hát hoặc được báo một cái tin, tất cả những cái ấy không cho phép mình một phút nghỉ ngơi lơi lỏng, một thoáng qua quýt tầm phào.

Yêu cầu của xã hội ăn khớp với mong mỏi của cá nhân. Chúng tôi rất yêu nghề, mong muốn dùng tất cả sức lực đề làm việc. Bao giờ đó chẳng phải là một may mắn hiếm có. Cho nên nhập với niềm tin của bao nhiêu người, của các thế hệ trước và của bè bạn, từng người một cảm thấy tự tin hơn. Tin rằng mình sẽ làm được công việc đã tự nguyện làm. Không làm được là một điều đáng xấu hồ!

 

1970


 

NHỮNG NGƯỜI ĐỌC CỦA CHÚNG TA

 

Đơn vị mà tôi đến công tác, chiến đấu trong một hoàn cảnh đặc biệt. Từ hậu cứ đến chiến trường, đường xa mất chừng mười lăm, hai mươi ngày. Tự đảm nhiệm lấy việc vận tải, tiếp tế, đơn vị đi theo đường dây riêng; tất cả trên vai người lính, từ cái tăng, cải vông, cho đến khẩu phần gạo, lạng muối. Trước lúc lên đường, nhiều anh em tần ngần mãi bên chiếc ba lô. Họ bàn soạn rất kỹ. Họ tính đếm xem nên mang cái gì, bỏ cái gì. Những thứ còn lại trên vai phải là những thứ thiết yếu, không sao thiếu được, mà cũng không thể tìm được ở rừng núi hay lấy được của địch trên đường, trong đồn. Thành thử, trong số những thứ phải mang đi, rất ít khi có mặt những quyền sách. Dẫu sao, sách báo cũng không phải là cái loại cần coi trọng đầu tiên - Người ta tặc lưỡi và tự nhủ như vậy, khi nhìn cái ba lô đã căng phồng quả rồi.

So sánh với những ngày ở hậu phương, thời gian của người chiến sĩ ở chiến trường có nhiều chỗ khác. Có những lúc phải thật nhanh, thật linh hoạt: trong một vài ngày, vài buổi, có khi anh phải làm công việc mà đáng ra mất hàng tuần, hàng tháng. Làm không quản đêma ngày, làm bằng được. Nhưng thỉnh thoảng lại có những phút thật rảnh rang. Giá kề lúc này có một quyền sách! Bấy giờ nhiều người mới lại ước thầm và tiếc đã không chịu mang sách đi theo. Rồi đề giết thời gian, anh em lại ngồi tán chuyện vui, giở cái rá ra đan, hoặc gò cái ca, cái bát.

Cho nên, khi gặp một số anh em làm công tác văn nghệ, bao giờ các đồng chí cũng hỏi chúng tôi có mang theo quyền sách nào không? Và cầm quyền sách trên tay là người lính chúi đầu vào đọc, người nọ đăng ký», xếp hàng ngay sau người kia. Nhiều buồi, tôi ước ao có một cái máy ảnh, ghi lại cái cảnh đáng yêu: một anh đang cầm sách đọc, anh khác đợi không chịu được, ngần ra một lúc rồi quay vào ngồi dối diện, đưa tay giở mấy trang cuối và ghé mất, chớp qua cái mục lục, hay là đọc mấy mầu tin cuối cùng. Xem thế thì dễ mỏi cờ lắm! Được một lúc, anh đành quay ra nói chuyện với chúng tôi. Anh hỏi han về nhà văn này nhà văn khác, dường như đó là những người anh thân từ lâu, dù chưa bao giờ anh gặp. Anh thăm dò thêm một vài chuyện nghe được về giới vẫn nghệ. (Sao mà những chuyện này có cánh bay nhanh thế!). Càng nói, câu chuyện càng sôi nồi hơn. Những lần chuyện trò như vậy bao giờ cũng mang lại cho cả hai bên những niềm vui, nó cũng chính là sự tiếp sức thường xuyên của người đọc đối với những người viết.

 

*

Khi nào thì câu chuyện giữa hai người mới gặp có thề sôi nồi ngay từ phút đầu ? Đó là khi người ta cùng có những người quen chung, bạn bè chung; nói rộng ra, khi người ta có những mối quan tâm chung, sống theo những nguyên tắc chung, thì lạ lẫm đến mấy rồi cũng trở thành thân thuộc. Ở đây sau sự quan tâm chung và đà biểu hiện sự quan tâm chung, chúng tôi còn chung một ngôn ngữ đó là nghệ thuật, đó là văn chương. Cho nên, nếu câu chuyện giữa một người viết và một người đọc có thể nhanh chóng nhạy bén, quen thân, thì cũng là phải.

Rất nhiều người viết đã nói về những ngạc nhiên trước trình độ hiều biết và tấm lòng ưu ái văn học khá sâu sắc ở những người đọc mới. Văn học cồ và văn học mới, văn học thế giới và văn học Việt Nam, hầu như ở lĩnh vực nào, người học sinh hôm qua – người bộ đội hôm nay cũng có những từng trải, nó ăn vào thành những cách ăn, cách nói, thành tình cảm, và một vài nhân vật văn học đã thành những con người có thật, len vào mọi lúc chuyện trò. Yêu cầu văn nghệ đối với đời sống vốn là một yêu cầu có thực, và cũng thật lớn lao. Câu chuyện có thề miên man kéo từ nhân vật nọ sang nhân vật kia, từ quyền này sang quyền khác. Ai đã từng đặt chân lên những con đường mòn chỉ đủ một vài người đi, hoặc hành quân, hoặc lầm lụi vác gạo, tải đạn; ai đã từng suốt ngày ngồi bên hầm chốt, đón lõng, chờ địch đồ bộ, đủ hiều lối nói chuyện miên man, nhiều khi rất lặt vặt, với những câu hỏi không đâu vào đâu và những lần cãi nhau dường như vô nghĩa này. Chiến tranh nhiều lúc có những khoảng trọn vẹn dành cho cá nhân, hoàn toàn cho phép mỗi người chìm vào những suy nghĩ riêng tư. Chưa tiếp xúc với cái gì mới, người ta hãy quay về lật đi lật lại quá khứ. Những kỷ niệm nhỏ nhất hồi ở gia đình bỗng dưng bật dậy. Một bài học thuộc lòng quên tự lâu lắm, tự nhiên trở về trong đầu. Nếu biết lo liệu và tận dụng một cách đúng đắn, đây là một dịp người ta có thể đánh giá lại quá khứ, và suy xét trước về tương lai. Về mặt văn học, cách thức càng dễ. Đôi hỏi của lịch sử là mỗi thế hệ sẽ có một sự khám phá riêng, nó là cách đóng góp độc đáo của họ vào việc tìm hiều và đánh giá văn học quá khứ.

 

*

Nhưng có lẽ điều người đọc quan tâm nhất phải là những tác phẩm văn học hiện nay, những tác phầm hàng ngày hàng giờ ra đời, đi theo mọi chặng đường gian lao, có khi đến với người lính ngay ở tuyến trước. Đó là một lẽ thường tình. Nghe tin có người viết văn viết báo đến đơn vị, nhiều cán bộ và chiến sĩ hoặc kín đáo, hoặc công khai, nhưng đều nói một cách thẳng thắn:

- Anh lại chỗ tôi chơi! Bọn này có vô khối chuyện kè đề cho anh có thể viết được.

Từ những bài học chính trị cơ bản, người chiến sĩ vốn đã hiều rõ vị trí của mình trong cuộc chiến đấu chung. Cũng bắt đầu từ đó, anh hiều rõ chính mình phải là nhân vật chủ yếu của nền văn học hiện nay. Anh có ý thức đầy đủ rằng cuộc sống mà mình đang sống là một thực tế lớn lao, nó cần được ghi lại, được phản ánh như một bằng chứng của lịch sử về đời sống của dân tộc trong những năm này, ngày này. Anh không bằng lòng chỉ là một người đọc thụ động. Hơn thế nữa, anh còn muốn là một người kiềm tra những điều nói tới trong văn chương. Chính đây là chỗ xuất phát quan trọng, mà cũng là chỗ khác nhau rõ rệt giữa người đọc hiện nay và những người đọc trước kia. Trong xã hội cũ, một nhóm người rỗi rãi tìm đến văn học như tìm một sự giải trí. Giờ đây, với đông đảo quần chúng, yêu cầu giải trí đó cũng có, nhưng yêu cầu nhận thức lại nồi lên hàng đầu. Khi lặn lội suốt ngày đi chọc đường (1), cỏ gianh cửa tóe máu tay, tối ăn nằm gạo rang rải tấm ni lông ra nằm tạm; lúc đi mệt mãi mới đến nơi nghĩ, ngả lưng ngay tảng đá lớn giữa suối, chia nhau mấy quả vải rừng... lần nào cũng vậy, người chiến sĩ lại nhìn vào văn nghệ, tìm một sự đối chiếu.

- Đấy, cuộc sống của chúng tôi đủ những phút vui buồn như vậy, mà đã có quyền truyện, bài thơ nào nói được đầy đủ?

Có một thoáng ngượng ngập, nhưng nhiều hơn là những vui mừng dậy lên trong lòng người làm công tác văn nghệ. Một nhận thức quan trọng đã ăn sâu vào suy nghĩ người đọc kia. Các anh nắm được sức mạnh lợi hại của văn nghệ. Các anh dành cho người viết một lòng tin thật sự và mong đợi ở văn nghệ khá nhiều. Trong lời nói, cách nhìn các anh dường như đã ngầm giao ước: các anh có thể vất vả, có thể vui lòng chịu đựng mọi gian khô hy sinh, có thể làm mọi thứ đề giúp đỡ chúng tôi, miễn là chúng tôi làm được công việc ghi lại đời sống, tâm tình của các anh, ghi lại lịch sử hôm nay, nói lại với nhân dân, đất nước, nói với cả gia đình, làng xóm về những điều các anh không nói được nên lời. Có được những người đọc như thế theo dõi, lo toan, lẽ nào những người viết có lương tâm còn dám lơi là, chểnh mảng?

---------

(1) Mở đường mới.

 

*

Rất nhiều lần, tôi đã được nghe nhiều người chiến sĩ kề lại kỷ niệm với những trang sách mà mình đã đọc. Trong vô vàn những thứ góp phần nhen lên trong lòng người học sinh ý chí lên đường, diệt thù, có vai trò của văn học

Nhiều bài thơ và những nhân vật trong truyện đã vẫy gọi anh, giục giã anh ra đi, và bây giờ vẫn ở bên anh. lặng lẽ thúc giục anh kiên trì chiến đấu. Đó là vai trò đặc biệt của nền văn học trong bốn mươi năm cách mạng, kề cả những tác phầm mới viết trong những năm chống Mỹ gần đây. Về phần này, những người đọc bao giờ cũng nói tới với một tình cảm độ lượng và mến thương. Càng ngày các anh càng có những chỗ thông cảm với người viết, dần dần nắm chắc tiếng nói riêng của nghệ thuật, thấu hiều cho những vui buồn của một người trong nghề. Kịp đến khi đôi bên thân thiết như bạn bè, người chiến sĩ sẽ nhờ người viết trao đổi kỹ thêm ý nọ ý kia, và ngược trở lại, mạnh dạn nói thêm ý kiến của mình về các tác phầm. Từ những vấn đề lớn, như nội dung, tư tưởng, cho đến cách viết, chữ dùng, các anh đều có ý kiến đóng góp. Thường các anh đòi hỏi văn học phải hiện thực hơn, quần chúng hơn, mà cũng không sa vào vụn vặt, tầm thường. Một năng khiếu thẩm mỹ như thế, về căn bản là lành mạnh, đúng đắn.

Trong khi nghe người chiến sĩ bìn về văn học nghệ thuật, tôi hiều rằng không phải mọi ý kiến của họ cũng đều đúng cả. Ngay chính tự anh em cũng biết tính chất xô bồ và tự phát trong ý kiến của mình. Điều thú vị chỉ là nhiều khi những ý kiến ấy có một dáng vẻ rất lạ, vừa cụ thể, vừa sâu sắc, rất đáng ngạc nhiên. Còn những chỗ có mặt nọ mặt kia - tất cả đều đáng cho ta nghiên cứu. Tất cả đều có lý do hình thành của nó. Phải từ đó mà lý giải: Bắt nguồn từ đâu, người đọc lại có một khẩu vị như thế? Tự lúc nào, và trong điều kiện nào? Trước tình hình ấy, trách nhiệm người viết là như thế nào?

Do những sự khác nhau trong ý kiến - chắc chắn cái đó còn kéo dài, còn phát triền - mới thấy vai trò của lý luận là cần thiết như thế nào! Điều đáng mừng là người đọc hiện nay bắt đầu ngày càng chú ý tới những bài phê bình, nghiên cứu, trao đồi trên báo chí. Cũng chính là vì yêu cầu nhận thức của văn học đòi hỏi như vậy. Cuộc sống càng phong phú, nó càng đòi hỏi người ta không được chết chìm vào những hiện tượng cụ thề, mà phải nắm được cái gì là chủ chốt. Lý luận mở ra cho người đọc một đường hướng, đưa ra những tiêu chuẩn chung. Việc đọc lý luận không thay thế cho việc đọc tác phẩm cụ thể, nhưng lại nâng cao nó lên. Có lần, tôi gặp một đồng chíanh nuôi, tuổi đã hơn ba mươi, ngồi đọc một quyền sách rất dày. Anh em kháo: Ông này ghê lắm, đọc Mác-Ang ghen tuyền tập đấy!. Mà anh em nói thật. Tôi hỏi:

- Thế đồng chí đọc thì hiều phần nào nhất?

- Hiều phần Nguồn gốc của gia đình, tư hữu và chế độ nhà nước.

Tôi tin rằng đồng chí đó đã đọc hết, và trả lời đúng với nhận thức của mình. Ngoài việc nâng cao trình độ chung tất cả những điều đó còn có thề giúp các đồng chí thêm hiều, thêm cảm thông với văn học.

 

*

Kể từ khi lo tính về một bài viết, đến lúc nhìn thấy nó sáng sủa gọn gàng hiện lên trên trang giấy in, dường như mọi người viết đều trải qua những dần vặt. Liệu những điều mình viết ra có đúng những điều mọi người đang quan tâm tới? Liệu người đọc bình thường, người đọc vô tư nhất sẽ đối xử với bài báo, trang sách của mình thế nào? Trước mắt anh, yêu cầu xã hội hiện ra qua những khuôn mặt cụ thể. Lòng tin vào người đọc chính là hóa thân từ lòng tin vào cuộc đời. Cái công việc này vốn phụ thuộc vào tình cảm, hứng thú rất nhiều. Chỉ một câu nói thoáng qua thôi, đủ làm người viết hăng hái gấp bội, hoặc buồn nản xỉu đi; hoặc viết ra những dòng chữ có hồn, hoặc đánh vật mãi với trang giấy chết, Nếu không có một lòng tin bền chắc, liệu có ai dám viết làm gì? Hóa cho nên, vốn ít chính thức bàn bạc rõ ràng, kỳ thực sự tìm hiều và lắng nghe người đọc vốn là một công việc thường xuyên, chi phối rất nhiều tình cảm mỗi người viết, nó cũng là một bảo đảm đầu tiên đối với công việc cầm bút.

Tôi cho rằng trước hết phải đặt người đọc hiện nay vào chính cương vị xã hội của họ. Đó là tất cả những người bình thường. Những cán bộ, những chiến sĩ, người kỹ sư và người bán hàngv.v... với những công việc, những lo toan thiết thực của họ. Họ là những con người của đất nước ta, trong. những năm này, ngày này... Riêng về mặt đời sống tinh thần chẳng hạn, với một chiến sĩ ở đơn vị, anh phải tính Trước đây, anh ta đã được học hành trong một nhà trường thế nào? Bước vào đời lính, anh ta đã được học những bài chính trị cơ bản thế nào, tâm lý tình cảm chuyền biến ra sao? Tưởng là giản đơn, nhưng đó là những thứ người viết phải biết. Chi li ra, cần phải nắm người chiến sĩ – người đọc kia, thời giờ ở đơn vị khi nào rỗi, khi nào bận, lúc rỗi nhiều nhất đọc được độ bao nhiêu trang sách, và tổng cộng một năm đọc độ bao nhiêu trang. Cần một sự điều tra, một thứ thống kê khoa học như thế lắm, đề cuối cùng, chúng ta có một ý niệm về người đọc cụ thể. Từ những điều kiện tâm lý, tư tưởng đó, một cách tất yếu, có thể suy ra khẩu vị văn học của người đọc.

Sau những điều kiện chung ấy, riêng về, mặt thẩm mỹ, lại chính người viết, lứa này tiếp lửa khác. góp phần tạo nên, bồi dưỡng nên khẩu vị của những người đọc. Trách nhiệm người viết có thể vượt qua những điều cụ thề nói rất nhiều. Mỗi bài một ít, dần dà, người đọc sẽ lấy ở từng người viết, ở tất cả những người viết một lối nhìn, một cách nghĩ, từ đó sinh ra những đòi hỏi mới, những mong mỏi mới.

Lần đầu tiếp xúc với một lớp người đông đảo như một đơn vị bộ đội, một công trường, một đội thanh niên xung phong, nhiều lúc thấy như bao la quá, rối rắm quá. Người đọc nhiều, mỗi người một tính nết, mỗi người một trình độ, một người viết giống như một người thời cơm nấu thức ăn, vừa miệng người này thì không vừa miệng người kia, làm sao được tiếng khen chung của mọi người cho được. Ấy là không kề văn chương vốn có những ngôn ngữ riêng cần được giảng giải có những khía cạnh riêng cần cảm thông. Mà các anh thì bận bịu nhiều quá, một trăm công việc kéo tới, làm gì có thời giờ đề nghe người viết tâm sự, trao đổi đôi điều.

Một quần chúng có khẩu vị tốt là một sự đỡ đầu rất quý cho nghệ thuật. Nhưng, đề có một công chúng như vậy, công việc phấn đấu còn rất lâu dài. Đối với người viết lúc này, chỉ còn một cách duy nhất là tranh thủ mọi sự đồng cảm, tranh thủ bạn đọc ngày càng gần gũi và hiều biết văn nghệ hơn. Cách thức duy nhất là có nhiều tác phầm hay ! Những tác phầm ấy, tự nó biết nói chuyện và người đọc sẽ nghe nó chăm chú hơn cả, đọc nhiều tác phầm giá trị, tự khắc khẩu vị của quần chúng sẽ phát triền đúng đắn, sẽ không còn hiện tượng giả thật lẫn lộn, khen chê không phân minh. Với những tác phầm hay chứng minh, những lý luận chân chính sẽ biến thành lý luận chung; và mọi thứ ngộ nhận, đủ đến với người đọc bằng cách nào, cũng đều bị đẩy lùi.

Những công việc lớn đòi hỏi người ta bắt đầu bằng một lòng tin. Nhưng ở đây, không phải là một sự phỏng đoán phiêu lưu. Sau cái bề ngoài ồn ào, bộn rộn, trong đời sống tinh thần chung, một cái gì ồn định nhất vẫn nằm ở tận bên trong và nó đang nhích lên, nhích dần lên. Nhịp với sự phát triền ở một hoạt động khác, nhận thức của quần chúng về văn học ngày càng có nhiều dấu hiệu đáng mừng. Những người đọc mới, những người đọc của chúng ta, đáng cho chúng ta tin tưởng như vậy.

 

1971


 

PHÊ BÌNH CŨNG CÓ THỀ CÓ ĐÓNG GÓP

 

(Mấy ví dụ về hoạt động của những ngời bút làm nên nhịp sống bình thường của phê bình văn học).

 

I - LÊ ĐÌNH KỴ với Đường vào thơ.*

 

Lê Đình Kỵ đặt tên cho tập sách phê bình của mình là Đường vào thơ. Chừng ý anh muốn coi công việc phê bình là môi giới, đưa đường. Ta tạm bằng lòng với cách hiều như thế và vui mừng thấy anh đã làm công việc này khá thành thục. Khi nói trên mọi trang viết, Lê Đình Kỵ đã chỉ rõ cái gì, là thơ, cũng tức là nói anh đã dẫn người đọc đến những phong cách khác nhau trong thơ ta mấy chục năm vừa qua: cái hùng tráng và tấm lòng yêu thương của Tố Hữu, một chất thơ bình dị và sâu xa trong Đất nở hoa của Huy Cận; phong cách chính luận trong thơ Chế Lan Viên.v.v..

 

Nếu như không ít nhà văn ở ta vào nghề bằng cách làm thơ – hãy tập sự làm một ít thơ đã, rồi chuyền sang thì hầu như nhà phê bình nào cũng có viết văn sau

 

(*) Nxb Văn học, 1969.

lần viết về thơ. Ấy là vị: sự bồi đắp hiều biết của chúng ta về thơ chừng như rất sớm, nền thơ dân tộc đã qua những chặng đường dài. Từng người chúng ta dễ hiều thơ, lòng ta dễ ngân vang theo thơ lắm. Có điều, từ khi cảm thấy đến chỗ phân bày trên mặt giấy, khoảng cách vốn khá xa. Và không phải nhiều người đến được một sự hiều biết về thơ như Lê Đình Kỵ. Anh nhập được vào tác giả như một người trong cuộc, đề thấy chỗ dễ, chỗ khó. Càng những chỗ mịt mờ sương khói, thơ lung linh ẩn hiện, - như ở giữa cái dễ dàng và dễ dãi, cái say và cái tỉnh, cái khái niệm và tư tưởng thơ ca... Lê Đình Kỵ lại càng tỏ ra có sự tinh tế của một nhà phê bình. Anh vừa theo sát các tác giả trong từng bài thơ, từng câu thơ, lại vừa chú ý đề từ đó mở rộng ra, nâng cao, khái quát. Hơn một sự phầm bình cụ thề, người viết muốn truyền đến ta một tình cảm, một cách nhìn, một lý tưởng thầm mỹ như anh vẫn nói... Rồi ta sẽ vào các bài thơ khác dễ dàng hơn...

 

Khi ráp các bài viết lẻ tẻ lại, phê bình của Lê Đình Kỵ, không bị phân tán, chéo giò». Ngược trở lại, ai cũng đễ thấy một cái gì thống nhất, một tác giả thống nhất. Một người có tình với sáng tác và cũng khá tỉnh; từng trang, từng dòng ở đây được chất lọc từ một tâm hồn mang nhiều cảm xúc. Nhưng không khỏi vì thế có lúc anh đã đi quá đà, đến nỗi đề lại trên trang sách những đoạn những câu cầu kỳ và rắc rối, những nhận xét còn có phần chủ quan.

 

Với Đường vào thơ, lại thêm một trường hợp, đề người ta hiều phê bình cũng có thể đóng góp, cũng thành một thứ văn học với đúng nghĩa của nó. Sau khi đã cùng công nhận như thế, chúng ta có quyền nói thêm điều mong mỏi ở tác giả Đường vào thơ. Câu chuyện bắt nguồn từ quan niệm. Đối với nhà văn phê bình, nói đưa đường có

lẽ chỉ là một cách nói. Cái chính là qua việc đó, anh có những gì ký thác, gửi gắm của riêng anh. Sau sự tinh tế, người đọc chưa thấy Lê Đình Kỵ bao quát và đặt ra những vấn đề trong văn học ta, trong thơ ta một cách mới mẻ. Từ những hiện tượng, những người và việc văn học hôm nay lại muốn đòi hỏi tác giả nâng lên thành những vấn đề của đời sống. Trong văn học, dù sáng tác hay phê bình, bao giờ đó cũng là những điều cuối cùng mà người viết và người đọc cần trao đổi.

 

1970

 

II - TRIỀU DƯƠNG với Tìm hiều và suy nghĩ(*).

 

Có lẽ tính hẹp trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học, Triêu Dương có được một số người biết tới. Còn như giữa các cây bút đang sáng tác và phê bình đều đặn làm nên nhịp sống sôi nổi của nền văn học hôm nay, quả thật tên anh chưa gợi ra một cảm tưởng gì rõ rệt. Vậy mà Tìm hiều và suy nghĩ, cái tác phầm đầu tiên ấy trong khu vực này, lại đã trở thành cuốn sách cuối cùng của anh. Ở tuổi năm mươi, Triêu Dương đã vĩnh viễn nằm xuống cuối năm 1980. Tôi nghĩ đến cuộc đời khiêm tốn của một số đông chúng ta. Hình như không ít người chỉ mới chứng tỏ là có khả năng làm việc, biết làm việc thì đã già, nhưng bởi lẽ, ta tin rằng con đường mình đi là đúng đắn, nên, như những người đi bộ, ta vẫn bền bỉ mà đi, được tí nào hay tí ấy, không có gì phải ân hận.

 

Nếu đã quen biết Triêu Dương, người ta không khỏi có lúc nghĩ giữa cuộc đời và trang viết của anh sao mà

 

(*) Nxb Tác phẩm mới, 1982.

khác nhau, thậm chí công nhau khá mạnh! Với dáng gầy gò lẻo khẻo, con người tác giả Tìm hiều và suy nghĩ dễ gợi lại hình ảnh những hàn sĩ ngày xưa. Anh rất lắm bệnh. Anh đau yếu luôn. Song anh lại là một ngòi bút hết sức nghiêm khắc. Lĩnh vực thành thạo nhất của Triêu Dương lại là thời kỳ văn học cận đại, khi Pháp mới sang, cái thời rất nhiều nhà nho búi tó củ hành của chúng ta xếp bút nghiên đứng dưới cờ nghĩa quân, và làm rất nhiều bài thơ hùng tráng mà bị thiết (một số trong họ đã trở thành nhân vật chính được nói tới trong hai bài viết quan trọng ở phần giữa tập Tìm hiều và suy nghĩ, một về thơ văn yêu nước Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, một về văn thơ yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX). Từ những truyện vẻ dân gian đầu thế kỷ XIX tới những câu thơ dậy sóng của một Phan Bội Châu nồng nhiệt đều không xa lạ với Triêu Dương. Anh sống với cái thời cận đại này một cách hết lòng, đề rồi lúc quay sang văn học hiện đại, anh lại đặc biệt quan tâm tới tiều thuyết lịch sử là một lĩnh vực rất hóc búa, muốn hạ một hai câu phê bình cho đích đáng, người viết phải dày công đọc lầm. Toàn là « những lối đoạn trường khó khăn, khúc mắc! Lại nữa, đã viết về đối tượng nào, người thầy giỏi dạy văn kiêm nhà nghiên cứu này cũng tự hành mình hết mức. Viết về 33 truyện ngần chọn lọc, anh đọc tạt sang cả những tuyền tập truyện ngắn của Liên Xô, cuộc thảo luận về truyện ngắn ở Pháp đề so sánh. Hoặc viết về cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến thì kê cứu đề biết từ lai lịch từng bài thơ đến từng việc nhỏ trọng cuộc đời riêng của cụ Tam Nguyên. Sự chiến thắng số mệnh », như người ta vẫn nói, ở đây có một khuôn mặt cụ thể của nó: sự tận tụy. Có thể bảo rằng nhiều trang phê bình của Triêu Dương còn dừng ở mức khảo chứng, mô tả, mà chưa lên đến mức những khái

quát sâu hơn. Cũng có thể bảo rằng ý kiến của anh thường lành quá, chưa tài hoa chưa sắc sảo Nhưng bù lại, văn Triêu Dương bao giờ cũng mực thước, thận trong. và có thể nói là văn có khí cốt với nghĩa thứ vẫn ấy rắn rỗi, chắc thiệt, bao giờ cũng có ý đề nói. Anh thường ký lưỡng, tỉ mỉ nhưng không dài dòng.

 

Sau hết, tôi muốn lưu ý đến thái độ điềm đam trong ngòi bút phê bình Triêu Dương, biểu lô rồ nhất là trong những đoạn anh đối thoại với các tác giả nồi tiếng đang sống: bàn với Chế Lan Viên về nghề nghiệp; bàn với Xuân Diệu về cách hiều Nguyễn Khuyến và trò chuyện với Tô Hoài nhân đọc Người ven thành. Lời lẽ đúng mục Ý tứ rõ ràng. Và cũng khá rõ là một niềm tự tin, hiểu hiện ở lối viết xưng tôi » thoải mái và cách trình bày mọi chuyện rất mạch lạc: Không chút điệu bộ, anh từ tốn nói hết ý của mình, lường trước mọi sự phản bác, bình tĩnh lắng nghe. Tóm lại là một thái độ phê bình đáng quý, và dễ thuyết phục. Ở trên, tôi có nói rằng trong giới sáng tác và phê bình văn học, người biết anh không phải nhiều. Nhưng, ngay ở cái dạng mộc mạc của nó, những trang viết hay nhất của Triêu Dương đã có sắc thái văn học, cách nhìn, cách nghĩ của anh là gần gũi với văn học. Bởi văn học không thuộc về riêng ai, văn học thuộc về tất cả những người sống tâm huyết với cuộc đời này.

 

1984

 

III - MỘT ÍT KỶ NIỆM VỀ NHỊ CA

 

Hình như một lần nào đó, nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nói rằng ông theo nghề đó một cách bất đắc dĩ. Tôi không rõ có đúng Hoài Thanh vào nghề như vậy

không nhưng theo tôi hiều, trường hợp mà ông nêu lên không phải là ít, và trong số đó, có một người từng nhiều năm phụ trách công tác lý luận phê bình ở Tạp chí Văn nghệ quân đội, người đã từng hướng dẫn tôi và Ngô Thảo đi theo nghề này, và cũng là người sau khi cho in 12 cuốn sách cả viết lẫn dịch, vừa trút hơi thở cuối cùng, từ giã cuộc đời và văn học, ngày 28-10-1984.

 

Người đó là Nhị Ca.

 

Nhị Ca tên thật là Chử Đức Kính, sinh năm 1926 tại Hà Nội. Sau khi nhập ngũ, anh đã chuyền qua đủ thứ công việc, khi thì là phóng viên, là trợ lý văn nghệ quân khu, khi phụ trách một đơn vị trong văn công quân đội khi là cán bộ thư viện, cuối cùng, gần 40 tuổi, mới đi hần vào nghề phê bình văn học. Không kề những tác phầm dịch, không kề tập sách mỏng Viết hồi ký thì mãi 1972, khi đã 46 tuổi, tập bài phê bình đầu tiên của anh mới được in ra. Đó là tập Từ cuộc đời vào tác phầm. Sự thực số đầu sách của Nhị Ca đâu có nhiều : Về sau, anh cũng chỉ cho in thêm có tập bài Dọc đường văn học (1977) và một cuốn chuyên khảo mang tên Gương mặt còn lại – Nguyễn Thị (1983) Trong cuộc đời có phần tẻ nhạt của số đông người viết phê bình chúng tôi, kè ra như thế là Nhị Ca cũng đã đạt được cái mức mà những người khỏe mới làm được. Và nếu tính cả việc làm báo, biên tập, hướng dẫn những người đi sau, thì đây đã là một nhà phê bình có đóng góp, trong đó cái đóng góp chủ yếu của anh, cái phần đề lại sâu đậm nhất trong tâm trí chúng tôi, là anh tìm được một cách sống bình tĩnh, thoải mái, một cách sống khá phù hợp với nghề nghiệp và con người minh.

Xin được bắt đầu bằng một kỷ niệm riêng.

 

Hà Nội, mùa đông 1968. Với số đông anh em phóng viên, biên tập của Văn nghệ quân đội thì việc trở lại ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế sau mấy năm sơ tán cũng chỉ là chuyện bình thường, như việc viết bài, ra báo vốn là chuyện bình thường. Nhưng đối với tôi, không phải như vậy. Tôi chỉ mới được chuyển về đây, chưa đầy một năm, vả lại, địa điểm mà tôi đến nhận công tác là một làng quê Sơn Tây, bởi thế, ngôi nhà này đối với tôi thật nhiều lạ lùng bỡ ngỡ. Căn gác như rộng quá. Người còn vắng quá. Thường khi trong tôi bao ý nghĩ bồn chồn, bao câu hỏi day dứt, tất cả đều liên quan đến sự bí mật ghê gớm» là những sáng tác mà tôi cảm thấy từ nay mình được dự phần! Ôi, mới ngây ngô làm sao, những sốt sắng của tôi lúc ấy! Rất nhiều trưa, tôi đã không ngủ, như những đứa trẻ con, vốn thích la cà khi người lớn ngủ. Trong trường hợp này, người phụ trách trực tiếp, mà cũng là người cùng phòng với tôi, là Nhị Ca, thì lại có vẻ như vô tâm, chả đề ý gì, chả dự định gì. Trưa nào, anh cũng đánh một giấc đàng hoàng, trở dậy, mang chậu xuống dưới nhà, rửa mặt, đánh răng, rẽ đầu ngôi đâu vào đấy rồi mới bắt tay vào công việc, không chút vội vã.

 

Đấy là con người của mực thước, của sự đều đều, cuộc sống anh đi theo một nhịp có sẵn, và anh tự tin như thế là phải, một sự tự tin đến mức sống bên cạnh anh tôi đâm ra ngượng ngùng vì những thảng thốt vô lý của mình. Dần dà, thái độ của tôi đối với sự bình thản của anh có cả hai phía.

 

Có lúc, tôi không hiều nỗi; nhưng lại có lúc, tôi ghen tị, thèm được như vậy nà không theo được, nhất là về sau, khi đã tìm ra nhiều vẻ mặt khác nhau của nó. Trước hết là trong cách hiều về văn học. Những tưởng là một thanh niên Hà Nội cũ, thông thạo tiếng Pháp, đã từng dịch Anna Karênhina như anh, ắt hẳn phải có một quan niệm

phóng từng tự do lắm. Nhưng không, phải nói ngược lại mới đúng. Trừ việc riêng không kẻ - đã gọi việc riêng, ai nói làm gì – còn trong công tác, Nhị Ca rất đúng mực.

 

Theo anh không có gì sai, nếu bảo văn học là những công việc thiêng liêng trọng đại, đặc biệt là với những người đã chọn việc cầm bút làm nghề nghiệp. Nhưng, vẫn theo lời Nhị Ca, trong thời này mà nói, nhất lại là trong chiến tranh, còn bao nhiêu việc trọng đại, có ý nghĩa quyết định bằng mấy. Người ta còn phải lo gạo, lo đạn, lo cho bộ đội có tinh thần chiến đấu vân vân và vân vân... Vậy thì hãy xếp cái thảng thốt của anh lại, đừng có tố nó lên, và nhất là đừng có vớ vẫn nói chuyện đâu đâu, hãy lo công việc cụ thề đi. Vâng, đừng có vớ vẫn nói chuyện đâu đâu, đấy là lời chê nặng nhất mà Nhị Ca giành cho những cơn nóng lạnh của chúng tôi. Anh không thích kiều vớ vẫn ấy.

 

Anh thích nói tới những nhiệm vụ mà chúng tôi phải gánh vác. Công việc cơ quan, anh làm đều đều và trong khuôn khờ những công việc được quy định ở đó – kề cả viết - anh cảm thấy niềm vui của mình, sự thanh thản của mình. Dù đọc dù viết, trông anh lúc nào cũng khoan thai, thậm chỉ cả những hàng chữ anh viết lúc nào cũng đều đặn không lúc to lúc nhỏ như ở những người khác.

 

Một lúc nào đó, tôi phải công nhận trước mình là một người có cá tính, có bản lĩnh. Tới lúc ấy, không phải là Nhị Ca «lý luận » nữa mà anh tâm sự:

 

Rất nhiều người, trông mặt tôi hồng hào, cứ tưởng tôi khỏe lắm. Khi bắt tay tôi, họ mới kêu lên «Sao tay ông nóng thế?». - Lâu nay, mình chỉ làm việc được bằng một phời, lấy đâu ra khỏe».

 

Vâng, cái đó tôi biết...

 

Đề tôi nói tiếp về hoàn cảnh của tôi những năm đó: bấy giờ, bệnh lao còn là một bệnh đáng sợ lắm. Nhiều

thẳng, bênh không nặng như mình, song vì bi quan quả đầu hàng bệnh tật mà chết. Có thằng tự tử. Cả cái lán bệnh mười hai thằng nằm dài thế này, đã bao nhiêu lần, mười một, thằng đi» chỉ còn lại mình tôi rồi lại mười một thằng khác «đi» tiếp. Tôi sống được, một phần chỉ bởi tại tội cố sống, không muốn tin rằng là mình sẽ chết.

 

Lòng tin ấy ở tôi mạnh mẽ khe khắt. Chẳng hạn như trong chuyện ăn. Đang ốm, nhiều khi có thấy ngon lành gì đâu nhưng cần phải ăn là ăn, tự nhồi mình như nhồi vịt vậy. Rồi sẽ thấy thích và quan trọng hơn, rồi sẽ khỏe.

 

Xưa nay, tôi vẫn thấy cần quan niệm như duy vật biện chứng, duy vật lịch sử vẫn dạy, tức là hoàn cảnh tạo nên tính cách con người. Khi tôi còn khỏe, tôi làm đủ việc, tôi phụ trách đội cổ động tuyên truyền cho kháng chiến, tôi làm trợ lý, tôi đi họp với cụ Ngô Tất Tố, ông Nam Cao, ông Trần Văn Cần về văn nghệ. Rồi tôi làm thơ, thơ in đá ấy mà, có ra gì đâu, nhưng mà đã in ra. Tóm lại, là tôi đủ việc như mọi người. Còn bây giờ tôi ốm, thì tôi làm việc theo kiểu bây giờ, không thể phung phí sức lực như những người đang khỏe và chính mình lúc đang khỏe. Ông chưa thì hiều tâm trạng của một người ốm nặng trở về, đơn giản là vì ông chưa ốm, thế thôi. Nhưng ông phải nhờ xưa kia, tôi cũng như ông và nếu ở hoàn cảnh tôi, ông cũng như tôi. Chúng ta chẳng có gì là khác nhau. Khi nghĩ thổ, cô thề lại dễ sống hơn.

 

Trong phạm vi thân tình, Nhị Ca đã giảng giải với tôi khá kỹ lưỡng. Anh không nói tới một lý thuyết xa xôi phức tạp nào. Anh chỉ cố nói rõ nói đúng những gì anh đang sống. Trong guồng máy công tác văn nghệ đang hoạt động đều đặn, anh tự nhận mình như một đinh ốc nhỏ, có việc của mình và làm đủ những việc đó. Anh kính trọng những anh em thường xuyên lăn lộn ở các đơn vị, những anh em đi thực tế và trở về, viết ra được những tác

phẩm có giá trị, thành niềm kiêu hãnh của phong trác sáng tác trong quân đội nói chung. Phần anh, anh lặng lẽ ngồi trước bàn, chiếc bút chì xanh đỏ trên tay chọn thơ (bấy giờ Văn nghệ quân đội còn rất ít người và có một thời gian dài, Nhi Ca phải trực cả tò thơ) lo mục phê bình giới thiệu của tạp chí, khi có điều kiện cũng đi dự một vài buổi mừng công ở các đơn vị. Hàng tuần, cũng như nhiều anh em khác, nếu không bận gì lắm, Nhị Ca đến Câu lạc bộ quân nhân. Nhìn anh ngồi trước vại bia mới thấy hết vẻ bình thản sống và lòng yêu đời của anh. Tuy Nhị Ca không nói gì, nhưng cả con người anh, cả nét mặt anh như muốn kêu to lên : « Tôi không đòi hỏi gì hơn! Như thế này đã là mãn nguyện lắm rồi! Được sống trên đời này đã là sung sướng lắm rồi!». Chính đó là nhận thức cơ bản của anh, điều không những anh thích nói to lên mà còn thành tâm hướng theo nó, coi nó là phương châm chỉ đạo của mình trong cuộc sống, trong công việc.

 

*

 

**

 

Trong một bài viết mang tên Ý nghĩ phê bình văn học (in lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, đầu năm 1974), Nhị Ca từng trình bày cách hiều về công việc của mình.

 

« Từ trong nguồn gốc sâu xa của nó, sáng tác và phê bình chỉ là hai mặt nhất trí của một nhu cầu tinh thần sáng tác là hành động, phê bình là nhận thức và dương tri của hành động đó.

 

Phê bình ở ta luôn luôn tìm cách khẳng định những điều tốt đẹp có thực, những đóng góp dù nhỏ nhất của những người làm ra của cải tâm hồn.

Phê bình cũng như sáng tác đều đại diện cho lợi ích xã hội và phê bình rất có quyền và cần phải đưa đơn đặt hàng cho nhà văn, hướng nhà văn vào việc góp phần giải quyết những vẫn đề trung tâm của cuộc đấu tranh cách mạng.

 

Đây cũng là những quan niệm được anh tuân theo mỗi khi cầm bút. Với anh, dù mỗi bài phê bình có ký tên ai đi nữa, thì đấy vẫn là tiếng nói của dư luận, của chỉ đạo, và sau đó mới là ý kiến riêng yêu thích riêng của cá nhân. Vậy thì phải tỉnh táo, lý trí phải vững, dù có bị chê một tí cũng chẳng sao. Trên cương vị một người phụ trách công tác lý luận phê bình của Văn nghệ quân đội trong những năm ấy, Nhị Ca thường phải lo mấy loại bài sau đây:

 

Một là những khi các sách sáng tác, lý luận của các lãnh tụ được in ra như thơ Hồ Chủ tịch, thơ đồng chíSóng - Hồng, thơ Tố Hữu, Tạp chí cần có tiếng nói của mình; hoặc những khi kỷ niệm 25 năm, 30 năm ngày thành lập Quân đội, Tạp chí cần có bài tổng kết một giai đoạn v.v... và v.v...

 

Hai là những khi có các sáng tác của anh em ở chiến trường gửi ra, hoặc một số đồng chí ở tạp chí đi công tác về viết được những cuốn sách tốt, cần khẳng định như khẳng định một phương hướng, một cách làm việc.

 

Trước những yêu cầu quan trọng như vậy, Nhị Ca bao giờ cũng vui vẻ đón nhận công việc, và viết bài với tất cả sức lực của mình. Anh đã viết về Những cuốn sách của Bác Hồ dẫn chúng tôi đi, về Những trang thơ hùng tráng và thiết thực. Anh đã viết về văn xuôi Nguyễn Đình Thi Nguyên Ngọc, Hữu Mai, Nguyễn Minh Châu về thơ của Chính Hữu và Phạm Tiến Duật v.v...

Một trong những điều anh hay dặn dò chúng tôi: phải công bằng trong đánh giá. Trên tạp chí có tồn tại những cách viết khác nhau cũng là chuyện tất nhiên. Mỗi tác giả có độc giả của họ. Nếu phê bình chỉ nói những ý thích riêng của người viết thì theo Nhị Ca, nó sẽ rơi vào hỗn loạn, thậm chí có hại cho sự đoàn kết. Trong số những kỷ niệm về quan hệ Nhị Ca với những người sáng tác, tôi còn nhớ như in câu chuyện sau đây: Một lần, do vô ý thế nào đó, Nhị Ca làm cho nhà văn X. cảm thấy bị chê. Anh X. giận lắm, lần sau ra sách, không tặng Nhị Ca nữa. Nhưng Nhị Ca vẫn mượn sách của X. về đọc thật kỹ tới trang cuối cùng, sau đó nói với tôi: «Trong khu vực này, thằng này viết vẫn « bợm nhất đấy. Tôi không làm cách nào chuyền nhận xét đỏ đến với X. song coi đây là một bài học đối với công việc.

 

*

 

**

 

Lúc còn làm việc bình thường, Nhị Ca sẵn có thái độ trân trọng với lớp người đi sau. Anh tin khi mình không làm việc nữa, sẽ có những người khác làm, và nửa đùa nửa thật, anh bảo biết đâu, khi mình gặp chuyện khốn khó, những người đó chả giúp mình được ít nhiều!

 

Những tưởng đó chỉ là những điều Nhị Ca vui mồm nói chơi, nào ngờ, trong đời anh, lại có lúc trở thành sự thật: Sau khi từ Tạp chí Văn nghệ quân đội chuyền về Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam ít lâu. Nhị Ca bị đứt một bên mạch máu não, phải nằm liệt một chỗ, trong khi bản thảo cuối cùng, cuốn Gương mặt còn lại Nguyễn Thi còn dang dở. Một đồng nghiệp trẻ của anh, anh Ngô Thảo, đã gánh vác việc hoàn chỉnh chuyên khảo này của Nhị Ca, nhờ đó, cuối năm 1983 cuốn sách được

in ra, trong sự vui mừng, hơn nữa, sự thanh thản của Nhị Ca: những gì làm được, anh đã làm, có thể yên tâm ra đi.

 

Suốt bốn năm nằm trên giường bệnh, Nhị Ca vẫn tỉnh táo nghỉ ngơi, ăn uống (ăn uống lúc này là một công việc), chịu đựng mọi đau đớn, sẵn sàng chấp nhận những diễn biến sắp tới. Và khi có điều kiện, anh đọc sách, suy nghĩ về đời sống, nhớ lại mọi vui buồn trong hơn năm chục năm làm người của mình. Nhiều bạn bè đến thăm anh không khỏi ngạc nhiên, bởi thấy người bệnh còn quá tỉnh, thân thể thì héo tàn đi, nhưng đầu óc sáng suốt thêm, không oán, không giận, từ tốn hỏi chuyện anh em đang khỏe đang làm việc. Có hôm anh nói đùa đối với tôi : «Có phải đứa nào cũng hỏi thăm rằng Nhị Ca đã chết chưa phải không?». Lần khác, nghe nói hai người bạn trẻ một nam, một nữ tính chuyện gắn bó với nhau, mà lại ngượng ngùng, giấu giếm, anh nhấn: «Về bảo với chúng nó, đừng tranh cướp của người khác, đừng phạm pháp là được, còn bằng tài năng của mình, bằng lao động của mình, ai thêm được một bát cơm ngon cứ ăn, một chén rượu ngon cứ uống, một mối tình tốt đẹp cứ hưởng. Nhân danh một thằng sắp chết tôi muốn nói với mọi người như vậy. Trong giọng nói đã lạc đi của anh, trong nụ cười nhiều khi không thành của anh, trước mắt chúng tôi vẫn là một Nhị Ca tha thiết với đời sống này. Lại nhớ những kỷ niệm về cuộc sống một thanh niên Hà Nội cũ, mà lúc vui chuyện, anh từng kề. Lại nhớ những lúc mắt anh sáng lên bên chén rượu. Lại nhớ những lúc anh, sau giờ làm việc, ngất ngưởng cái mũ vải trắng trên đầu hỏa nhập một cách tự nhiên vào đường phố Hà Nội, và sau 1975, là đường phố Sài Gòn, hòa nhập vào đó, đề rồi mất hút đi, với cuộc đời riêng trong đó hết sức thoải

mái. Anh bảo tôi nếu còn khỏe, sau Nhà thờ đức bà Pari anh rất muốn dịch Décaméron của Bôcátxiô, một cuốn sách ca ngợi hạnh phúc trần tục, ngay trong cuộc đời chúng ta đang sống. Nhị Ca không làm được ước muốn cụ thể ấy, nhưng tinh thần của anh, tinh thần của cách sống mà anh tuân theo, chúng tôi đón nhận, trân trọng, bởi càng ngày càng thấy không chừng trong sự dễ dàng của nó, đó là một cách sống đúng.

 

1984


 

MỘT CÁCH HÌNH DUNG VỀ NHÂN VẬT TIỀU THUYẾT

 

Đây đó, chúng ta thường thấy có những trẻ nhỏ đứng trước mặt người lớn thì đụt, chậm, gọi dạ bảo vâng, có vẻ rất hiền lành nhưng lúc đứng với bè bạn thì lại tự nhiên thoải mái, vừa ngây thơ hơn, vừa hóm hỉnh hơn. Lúc ấy, xét nét một chút thì dễ nhận xét đứa trẻ chưa thật ngoan ngoãn, nền nếp, nhưng sao vẫn thấy thích thú theo dõi xem em ra sao, cảm thấy như thế mới đúng là trẻ con và có thể yên tâm rằng mình hiều đúng về đứa trẻ.

Có thể là sự so sánh của tôi còn hơi thô thiền một chút, nhưng thử hình dung khoảng cách giữa nhân vật trong đời sống và nhân vật trong tiều thuyết, tôi vẫn muốn nhắc ví dụ ấy: Một số tính cách trong các tiểu thuyết của ta hiện nay mặc dù đã được những tay nghề thành thạo miêu tả, khá tinh tế, hấp dẫn nhưng sao vẫn cứ như đứa trẻ đứng trước người lớn. Ít nhiều họ còn thiếu sinh sắc. Họ không mau mắn, sắc sảo như người đời mà cũng không có những lúc... nhạt nhẽo, khờ dại, vô lý như người đời. Như là xấu hồ, nhân vật không chịu trình diện trước độc giả, Thoáng cái là nhận ra họ ngay mà không sao thấy được nét mặt họ. Thật khó lòng suy xét về họ, không biết nói về họ thế nào, không yêu, không ghét, chỉ thấy tưng tức, và nếu được nói, thì chắc có thể nói thẳng với họ một câu rằng họ không phải là như vậy!

 

*

Phải nói ngay ở đây không có ý đòi hỏi nhân vật tiều thuyết phải giống y như con người ngoài đời. Giữa trang sách và cuộc sống không bao giờ có sự trùng khít hoàn toàn, đó là một lẽ nhiều người đã biết. Về đại thể, thế giới trong tác phẩm là một thế giới dễ hiều hơn, so với cuộc đời thực. Cuộc sống bao giờ cũng phức tạp, nó triền khai vô tận trong không gian và nối tiếp thường xuyên trong thời gian. Người nghệ sĩ mang lại cho nó một sự hạn chế, ít thì một vài câu thơ, cùng lắm độ nghìn trang tiều thuyết. Trong một khung cảnh nhất định, nhân vật văn học phức tạp nhất cũng bị thu hẹp, bị cắt xén.

Vậy thì tại sao, tại sao cùng là những con người bị cắt xén đó, mà kẻ thì sinh động tự nhiên, kẻ thì cử như là hình nhân, cử chỉ vụng ngượng, lời ăn tiếng nói khô cứng? Nhân vật không hiện lên được, bởi nó chưa có cái động cơ thúc đầy mọi hành động cử chỉ, quy định mọi mặt tính cách, cũng tức là chưa có bộ mặt thật. Và lý do & đây, như chúng ta đều biết, trong một số trường hợp, là do người viết còn dừng lại ở những biều hiện thuộc về bề nồi của nhân vật. Vẫn mượn cách so sánh trong trường hợp trên, vì như cần phải miêu tả một đứa trẻ, thì một số tác phẩm của chúng ta mới chăm chăm chú chú dựng lại cái thần thái lờ đờ của các cộ các cậu lúc đóng kịch » trước các bậc cha mẹ, mà không thấy được nhiều mặt tính nết của đứa trẻ, không thử tự hỏi chính em thật ngoan ngoãn hay chỉ làm ra vẻ ngoan ngoãn đề vừa lòng mọi người, và sau cái vẻ bề ngoài kia, em còn nghĩ ngợi những điều gì khác: Đi theo hướng đó, dù có khéo léo ghi chép và kề chuyện có duyên đến mấy đi nữa, rút cục vẫn là đưa ra một nhân vật ở trên sân khấu, không phải ở bên cạnh và ở sau sân khấu mà tập hợp tất cả những biều hiện này mới làm nên bộ mặt thật của nhân vật.

Lâu nay, văn học chúng ta đang có nhiều cố gắng đề nâng cao chất lượng tiều thuyết, và một trong những cố gắng đó là làm sao đề cho tiểu thuyết ôm trùm được những thời gian dài, nhiều sự kiện nhiều mối quan hệ, nhiều nhân vật. Ở trong cái hoàn cảnh đó, mỗi con người như có điều kiện tự bộc lộ. Có người gọi đó là cách làm cho nhân vật có một cuộc đời, có cái làm nên số phận. Kề ra, nói số phận hay nói thế nào cũng được, có thêm hoàn cảnh đề nhân vật phát triền tính cách thì còn gì bằng! Có điều, nói tới số phận, cái chính vẫn là xem xem có phải tác phẩm đã tìm thấy quy luật phát triền của nhân vật, chỉ rõ nhân vật trong nhiều bình diện tính cách của nó. Khi chưa tìm cách lật hết mọi phía khác nhau trong nhân vật, thì dù có đi vào bao nhiêu lớp lang. chương mục, đó vẫn là «cuộc đời», «số phận của những hình nhân. Đại đề nó vẫn là câu chuyện về đứa trẻ đứng trước mặt cha mẹ, duy có khác trước chỉ em với cha mẹ, nay thêm khách khứa, bè bạn, đề cho em phải đứng lâu hơn, ra ra vào vào nhiều lần hơn, song tính cách đơn điệu của em vẫn chỉ là một.

Số phận không có nghĩa là biên niên, là liệt kê tài liệu. Thực chất của số phận là mối liên hệ bên trong tính cách, cái thần của tính cách, do hoàn cảnh quy định. Khi đã nắm được cái đó rồi, thì dựng lại một quãng đời ngắn, hay đi vào nhân vật từ bé đến lớn, là chuyện tùy ý, đằng nào cũng được. Ví như những giây phút quan trọng: thỉnh thoảng, mỗi chúng ta không khỏi trải qua những khoảnh khắc tự mình phải quyết định nhiều chuyện liên quan đến cả cuộc đời mình và có thể, cuộc đời một số người khác. Ở trong những giây phút đó, mỗi chúng ta có thể cảm thấy sức khống chế ghê gớm của hoàn cảnh nó dồn ép mình, thúc bách mình, mặt khác bản thân vẫn gắng gỏi giành lấy thế chủ động. Ở trong những giây phút đó, mỗi chúng ta say và tỉnh, tính toán và liều lĩnh, tìm kiếm và buông trôi. Mỗi người có dịp đi hết một phía nào đó của con người mình đề rồi thực tế là chạm phải cái giới hạn có sản. Thời gian chỉ có khoảnh khắc, mà mức độ biến đồi trong con người mình rất lớn, vượt xa hàng tháng hàng năm trì trệ. Đó là những giây phút số phận, có thề là đất triền khai của văn học, đôi khi là điều kiện đề có thẻ có những tác phầm có sức bao quát lớn.

 

*

Bây giờ thủ dừng lại kỹ hơn ở trường hợp đã nêu về đứa trẻ. Ở đây, có điều cần phải phân biệt. Đứng về mặt giáo dục thiếu nhi mà xét, chúng ta đều hiều là phải bảo ban các em thế nào để các em tôn trọng cha mẹ; trước

mặt cha mẹ, thày cô giáo, nói chung là trước mặt người lớn, các em thật thà, tự nhiên, nhưng vẫn phải biết giữ gìn thận trọng, không lồ tồ tùy tiện như đứng trước bạn bè cùng tuồi. Trẻ cần thoải mái trong đối xử, nhưng không phải được phép bừa bãi lung tung, với ai cũng «cá mè một lứa». Sớm có ý tứ là đứa trẻ biết xử sự phân biệt, trong những trường hợp khác nhau vẫn làm chủ được mình, sao cho lúc nào cũng đúng mực. Một cách nhìn nhận đúng đắn về em không thề chỉ xem xét em lúc ra chơi với bè bạn, cho là lúc đó con người em mới thực, còn mọi lúc khác đều là chuyện đối phó. Nếu cứ thế mà suy, rồi sẽ rơi vào sai lệch cực đoan, cho rằng mọi đứa trẻ đều hư đốn và giả dối.

Nhưng như thế tức có thể nói trong một đứa trẻ bình thường, đã có ít ra đến hai bình diện, hai cuộc đời điều này không những chúng ta có thể quan sát các em trong sinh hoạt hàng ngày, mà cả trong văn học. Các nhà văn có kinh nghiệm viết về thiếu nhi đều biết rõ sự tế nhị đó. Và họ đã không tách rời hai mặt, không chọn mặt nọ hy sinh cho mặt kia, ngược lại, họ tìm bằng được mối ràng buộc hai mặt với nhau, lấy đó làm đường dây phát triền tính cách. Một em nhỏ thận trọng, giữ gìn trước mặt cha mẹ, lúc ra trước bạn bè vẫn có thể chơi nghịch thoải mái. Mà cũng đối với bạn bè thôi, có lúc em đùa vui dễ dãi, có lúc ra dáng nghiêm nghị, tập làm người lớn, như khi cần phải chỉ huy những đồng đội cũng đeo khăn đỏ như mình chẳng hạn. Ngoài ra, các em học theo lời ăn tiếng nói người nọ, bắt chước người kia, cậu này chu đáo lại hay làm ra vẻ vô tâm, cậu khác lười biếng vẫn ra dáng chăm chỉ, cứ ai thiếu cái gì, thì hay nói tới cái đó. Nói một cách ước lệ, tức mỗi nhân vật nhỏ tuổi đó đã bắt buộc phải đóng vai, mỗi em có nhiều vai, và có ý thức làm sao nhập vai của mình trong từng lúc một. Nhà văn chỉ có thể trở nên chân thực khi đề cho nhân vật của mình đóng được những vai khác nhau, mà vẫn chỉ rõ đó là một con người thống nhất.

Tính chân thực còn làm cho nhân vật có sức lôi cuốn người xem, và đó là điều cũng sẽ đạt được từ chỗ nhân vật có nhiều vai, tức có nhiều phía, nhiều bình diện như cách nói ước lệ chúng ta đang nói. Quả thật, khi ấy, nhân vật sẽ luôn luôn hiện ra nhiều vẻ, khiến người theo dõi phải chú ý. Và đây là cả một yêu cầu đối với tiểu thuyết. Một trong những lý do khiến cho người đọc chưa thấy hứng thú khi đọc một số tiểu thuyết hiện nay là lý do sau đây: Các nhân vật trong tiều thuyết đó cứ trần trần » từ đầu đến cuối, vừa đọc ít trang phần một đã biết ngay là người thế nào, đến những trang khép quyền truyện lại có phát triền thì cũng đại khái loanh quanh như người đọc đã đoán sẵn. Cả tập sách không mang trong mình một yếu tố nào biến động, do đó, lôi cuốn bất ngờ, hỏi làm sao gây được hứng thú? Ở đây, không phải là chuyện cố ý chạy theo thị hiếu, làm cho nhân vật hấp dẫn - cái chính là tự cách nghĩ của nhà văn về nhân vật. Có phải theo anh, trong mỗi đời người, tất cả đã được vạch sẵn, mọi việc thông đồng bên giọt theo đúng «kế hoạch » đã định? Hay cuộc đời trong tác phầm cũng có rất nhiều khả năng, mỗi con người luôn luôn đồi thay và đòi hỏi được quyết định, quy luật chung luôn luôn hiện ra trong những dáng vẻ riêng, nhờ thế, mỗi cuộc đời đều sinh động, không lặp lại, mỗi con người là một thế giới nhiều hình nhiều vẻ, hơn nữa, một thế giới độc đáo, đúng như nó có trong thực tế?

Qua một ví dụ thô thiền cuối cùng, cái chính là chúng ta thử đi tới một cách hiều về nhân vật tiều thuyết. Nếu đây đó, các nhân vật đó còn nhợt nhạt đơn điệu, thì đó không phải là chuyện thủ pháp, mà cần tính tới một cái gì lớn hơn thuộc về cách hiều nhân vật, cả nhân vật trong đời lẫn nhân vật văn học. Có phải giữa hai loại nhân vật đó, quãng cách còn khá lớn? Con người trong sách với cách biều hiện của nó, còn có phần tĩnh, lặng, gò bó? Mà những con người ngoài đời, được thực tế cuộc chiến đấu chống Mỹ và sự nghiệp xây dựng chủỉnghĩa xã hội rèn luyện, đã trở nên phong phú đa dạng hơn hẳn. Tự soi lại mình thì biết: Trong mỗi cá, nhân, có những con người khác nhau, đấu tranh với nhau, nương tựa vào nhau. Mỗi cá nhân mang trong mình rất nhiều khả năng, và sẽ bộc lộ thành những tính khác nhau, tùy theo hoàn cảnh, điều kiện. Nhiều, rất nhiều những sự chuyền hóa, thay đồi, và tất cả là ở mức độ mạnh mẽ mãnh liệt. Bởi đó là cả một xu thế lịch sử. Chỉ riêng một điều: Trong những năm qua, mỗi người bình thường chúng ta phải đối phó với những vấn đề lớn lao nhất của đời sống, đặt ra cho đất nước dân tộc. Trong khi đó, mỗi người không thôi trở về với những mặt bình thường trong con người mình... Và những mặt tính cách ấy cùng tồn tại.

Tóm lại, với tất cả những cung cách riêng, con người Việt Nam chống Mỹ đã đi hết một phía nào đó của con người nhân loại hôm nay. Đó là một tiền đề tốt cho sự phát triền văn học. Nhưng việc vận dụng một cách nhìn nhận như thế vào trong công việc viết văn còn đòi hỏi nhiều thề nghiệm,

Về mặt biểu hiện con người, trong các thể loại văn học, xưa nay tiều thuyết vốn có nhiều ưu thế đáng kể. Từ lịch sử hình thành và những thay hình đồi dạng của nó, tiu thuyết đã tự chứng tỏ nó đặc biệt có khả năng «co dãn » để thích ứng với với việc miêu tả một đối tượng uyền chuyền, phức tạp như con người. Trước mặt chúng ta, nếu có thể nói như vậy, tất cả những con đường đề đi vào những phía sâu xa của các tính cách, các tâm hồn đều được đề ngỏ, và vai trò của mỗi người viết tiều thuyết là tìm được con đường độc đáo của mình, trong số những con đường đó. Trên cơ sở quan niệm đúng đắn và mới mẻ, các thủ pháp sẽ nảy nở lành mạnh. Có người dùng lối biên niên, chất chồng thật nhiều sự kiện, đưa ra một toàn cảnh rộng lớn. Có người dùng phép phân tích, đào sâu vào thế giới riêng trong nhân vật. Rất nhiều sự pha trộn thể loại như tiều thuyết – trữ tình, tiều thuyết -du ký, truyện sân khấu (mà ở ta đã có người sử dụng) nảy sinh do những yêu cầu cụ thể trong từng trường hợp. Tác phẩm trở nên chủ quan hơn bao giờ hết cũng có (các nhân vật chỉ xoay quanh một mẫu người của tác giả chẳng hạn); đồng thời, ở nước ngoài đã thấy có trường hợp, tiều thuyết được kết cấu bằng cách nhân vật tự thuật một đoạn, tác giả lại chen lời bình luận của mình một đoạn, vì cho rằng như thế mới bảo đảm tính khách quan của tác phẩm v.v. và v.v. Tất cả những thủ pháp trên đều là những thề nghiệm, và tự nó không mang lại giá trị gì cho tác phẩm, điều quan trọng là người viết sử dụng nó như thế nào. Song, cũng phải ghi nhận, tất cả những cái đó đều là những cố gắng nhằm làm cho tiều thuyết có thể biểu đạt càng sâu sắc càng tốt tâm lý con người. Cách nào thì cách, ngày càng thấy có nhiều ý kiến cho rằng nhà văn không nên tự coi mình là một thứ tạo hóa, biết rõ mọi chuyện, bày đặt ra nhân vật nọ nhân vật kia như những cái cớ tùy tiện. Ngày càng thấy nồi lên yêu cầu nhà văn phải đối xử với nhân vật mình một cách bình đẳng, đề cho nhân vật nói lên tiếng nói của nó, và trong việc dựng lên nhân vật, cái chính là phải thấy mỗi cá nhân đó gợi mở không cùng về nhiều phía, tâm tư nhiều tầng nhiều lớp phức tạp, ràng rịt với nhau, điều cuối cùng về nhân vật đó chưa được nói ra, nên tất cả các phía các mặt đều cần dò tìm khai thác.

 

1974


 

SỰ SÁNG TẠO TRONG TRUYỆN NGẮN

 

Cũng như ở ký, ở tiểu thuyết, sự sáng tạo trong truyện ngắn vốn có khuôn khổ của nó. Được hình thành từ sáng tác của nhiều người, một số cách viết lâu dần ổn định, thành những đặc tính thể loại, người ta mặc nhiên công nhận. Ví dụ, truyện ngắn nên viết về những quãng đời người, còn rất khó bao trùm cả cuộc đời nhận vật. Ví dụ, truyện phải có cốt truyện, đề người ta dễ tóm tắt. Và, ở nhiều nhà văn chuyên viết về truyện ngắn như Q. Henry, Môpatxăng, nghệ thuật viết truyện được coi là đồng nghĩa với nghệ thuật hình thành những cốt truyện sắc nhọn v.v... và v. v...

 

Nhưng quy phạm nào cũng có tính tương đối của nó. Nếu việc tuân theo quy phạm đã không bảo đảm cho bất cứ một sáng tác nào của những ngòi bút xoàng xĩnh học đòi, thì việc đi ngược quy phạm lại luôn luôn có sức mời gọi những ngòi bút độc đáo, Rất nhiều lần, những người này đã sây vầy, bởi những thất bại trong cuộc tấn công vào quy phạm. Nhưng dần dà họ cũng có những thành công và những trường hợp ngoại lệ giờ đây đã trở nên nhiều vô kề, một số được chung đúc thành những quy phạm mới, đề rồi lại mời gọi những đợt công phá mới.

Thí dụ như vẫn đề truyện «không có chuyện». Trong khi những thí nghiệm của Nguyễn Công Hoan còn đơn độc, lẻ tẻ, thì một Pauxtốpxki chẳng hạn, đã rất thành công, gần như tạo thành một môn phái riêng, với những truyện ngắn tự bao phủ trong một thứ sương mù của những ấn tượng mung lung. Bước đầu được giới thiệu vào Việt Nam những năm 59-60, lối viết này đã đẻ ra một số truyện, gây được sự chú ý của nhiều người, tuy cũng nhanh chóng người ta nhận ra rằng thành công ở đây không phải dễ, trở thành một tác giả trong khu vực này càng không dễ.

 

Trong toàn bộ sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan gần như không có truyện nào viết về cả một đời người, hoặc những ấn tượng bao trùm do cả một cuộc đời tạo nên. Với Nguyễn Công Hoan, bao giờ truyện ngắn cũng là những mảng đời, những cảnh đời nho nhỏ. Trong thâm tâm tác giả, hình như ý thức về việc viết các loại truyện về cả một đời người không thấy đặt ra, chứ đừng nói thửlàm. Mà đâu chỉ riêng Nguyễn Công Hoan, rất nhiều người khác nghĩ vậy. Nhưng ở Sêkhốp, Lỗ Tấn, Nam Cao, Thạch Lam và nhiều tác giả khác, loại truyện bao quát cả một đời người vẫn có và thường hiện ra với nhiều vẻ khác nhau. Là những nhà văn đặc biệt nhạy cảm với những số phận bé nhỏ vất vưởng, họ hiểu rằng cuộc đời những con người này nhiều khi chỉ cần một truyện ngắn là đủ. «Truyện ngắn là một thề tài dân chủ, và một cuộc đời dù nhạt nhẽo đến đâu cũng đủ sức làm đầy một truyện ngắn - - Sêkhốp đã nghĩ vậy, và đã viết Người trong bạo, Đusétca. Lỗ Tấn có Khồng Ất kỷ có Chúc Phúc. Và Nam Cao, một phần con người Nam Cao cũng hiện lên qua Ở hiền, Dì Hảo v.v. Còn ba chữ Một đời người thì được Thạch Lam dùng đề đặt tên cho một truyện ngắn của mình.

 

151

Trong một thiên truyện khác, mang tên Hai lần chết, Thạch Lam dựng lại quãng đời một nhân vật nữ từ bé đến lúc lớn đi lấy chồng, và tự tử mà không chết. Có cảm tưởng rằng Ở hiền của Nam Cao cũng như Hai lần chết của Thạch Lam đều được viết rất thoải mái. Với loại nhân vật như thế, viết từng ấy trang như thế là vừa, & đây không có chuyện phải cắt xén dồn ép gì cả.

 

Mới xét trên hai quy tắc lớn của truyện ngân (truyện phải có chuyện và truyện chỉ cắt ra một khúc, một đoạn, trong cả cuộc sống), chúng ta đã thấy một sự thực có hai mặt: cả quy tắc đề ra cũng đúng, mà việc làm ngược quy tắc cũng đúng. Tính trên số lượng thuần túy, những truyện tuân thủ quy tắc vẫn nhiều hơn, nhưng chính vì thế mỗi lần được đọc những truyện không tuân theo quy tắc, chúng ta thấy có chút ý vị riêng. Suy cho cùng, việc đi ngược quy tắc chỉ thành công trong điều kiện nó xuất phát từ chính yêu cầu của nội dung câu chuyện, khớp với nội dung ấy, là một bộ phận hợp thành chặt chẽ của nội dung ấy. Nhưng ngoài ra những lần phạm quy tắc vẫn có cái vẻ hấp dẫn riêng của một trò chơi, và đứng về phía người sáng tạo mà xét, có lẽ ai cũng không khỏi có những thoáng sung sướng khi đã được tham dự những trò chơi như thế.

 

G. Rođary là một nhà văn Ý, chuyên viết cho thiếu nhi. Trong một số truyện ngắn, sau khi trình bày các dữ kiện chính, ông thử nêu ra vài kết luận khác nhau có thể có, rồi tùy bạn đọc lựa chọn». Đấy là về mặt cấu trúc. Trong nghệ thuật kể chuyện, nhiều truyện ngắn hiện đại còn có lối nhìn sự vật qua nhiều con mắt khác nhau, rồi đảo lộn không gian, thời gian – ví dụ rõ nhất là trường hợp truyện của W. Faulkner (Mỹ). Một truyện ngắn như Bông hồng cho Emily thường được coi là ví dụ dễ hiều nhất và bút pháp Faulkner. Lại nữa là những

sáng tạo nho nhỏ khác, kiều lấy đồ vật, hoặc các chim muông thú vật, làm nhân vật chính hoặc viết toàn that từ, toàn nhật ký, toàn những tin đăng trên báo, toàn đối thoại v.v. và v.v.

 

Trên nét lớn, có thể nói truyện ngắn là nơi rất phù hợp đề tiến hành những sáng tạo loại ấy. Chẳng những thế, truyện ngắn lại cũng đòi hỏi phải được đời mới, đề khỏi nhàm chán, tẻ nhạt. Dù khác nhau rất xa trong phong cách biều hiện, những người viết truyện ngắn đều có chung một cảm tưởng là ngòi bút luôn ở trong quá trình sinh thành, vì mỗi truyện ngắn – cũng như mỗi bài thơ -dẫu sao vẫn là một sinh thể độc lập, có cuộc đời riêng có sự trọn vẹn riêng. Dù bé nhỏ bao nhiêu, nó cũng là một đầu việc, một mặt hàng, một đơn vị. Ngay trong phạm vi một tập truyện ngắn, nếu được thấy giữa truyện nọ với truyện kia, có những đồi mới thì việc đọc nó sẽ rất thú vị. Cố nhiên, trước đó đã phải giả thiết có một sự nhất trí chung giữa các truyện, nó là bằng chứng của một ngòi bút có bản lĩnh, có sắc thái riêng. Ở những « tác giả » loại hai loại ba, chuyên môn đi cóp nhặt, xào xáo lại văn của người khác, thì những sự lập lòe, đa dạng của các truyện chỉ là một thứ ánh sáng ma trơi không đáng nói tới. Sự đa dạng ấy vừa tất nhiên, vừa vô bồ.

 

Sự đa dạng mà chúng ta nói ở đây khác hẳn: nó là sự sinh sôi nảy nở của một bản lĩnh thống nhất.

 

*

 

**

 

Tuy chỉ mới phát triền qua một giai đoạn ngắn ngủi (từ đầu thế kỷ XX đến nay), nhưng truyện ngắn ở ta -truyện ngắn theo nghĩa hiện đại – đã có sự trưởng thành đáng kể, trong đó việc hình thành tác giả được đặt lên hàng đầu.

Chẳng hạn như vào khoảng 40-45, không hẹn mànên, cùng lúc, trong văn học thấy xuất hiện mấy phong cách truyện ngắn: Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiền, Thanh Tịnh, Kim Lân... Trước 1940 một mình cây bút Nguyễn Công Hoan đứng đó, đơn độc. Nay cả mấy phong cách cùng lúc này nở, mỗi người một vẻ riêng, mà chỗ khác nhau đầu tiên của họ là những vùng quê họ nói tới. Nam Cao và vùng quê riêng của ông, những vườn mía, những vườn trầu. Bùi Hiền và những xóm chài Nghệ Tĩnh với rất nhiều hủ tục. Mọi chuyện được Thanh Tịnh kề, đều liên quan đến vùng nông thôn ven Huế, chung quanh làng Mỹ Lý. Một cốt cách ngoại thành Hà Nội riêng, là mầu sắc rất đậm của Tô Hoài. Kim Lân lại còn «chuyên canh » hơn nữa: trong cái khu vực hẹp là đất Kinh Bắc cũ, ông nói khá kỹ tới chuyện thả chim, chọi gà. Đối với sự hình thành một tác giả truyện ngắn những vùng quê này không chỉ là một thứ giới hạn về địa lý, mà còn giới hạn về những nguyên có xúc động và cách xúc động của một nhà văn, về những mẫu người, những suy nghĩ, và điều suy nghĩ thường trực nhất là ý nghĩa của mỗi kiếp người trong cuộc đời này. Đấy cũng là những yếu tố tạo nên sự khác nhau thực sự giữa người viết này với người viết khác.

 

Đặt bên cạnh Nguyễn Công Hoan, những tác giả nói trên viết không nhiều bằng. Ở họ, cũng không thấy có sự hóm nghịch thường trực như ở Nguyễn Công Hoan, đặc biệt là những hóm nghịch trong cách dựng truyện. Nhưng vì nhiều lẽ khác nhau mỗi người vẫn hiện ra như một tác giả truyện ngắn.

 

Lấy một ví dụ: Trường hợp Nam Cao. Cho đến nay, trong số những truyện ngắn của tác giả Chí Phèo mà các nhà nghiên cứu sưu tầm được không thấy có truyện nào có lối viết cho có vẻ khác đi một chút. Lúc nào cũng

vậy, những rang viết xít vào nhau, những mảng văn đầy, đậm, là dấu hiệu của sự phân tích của tác giả về trường hợp được ông nói tới: hoặc tình thế của một ông giáo nghèo, một ông nhà văn thất nghiệp, hoặc cuộc đời kỳ cục của một người cùng đỉnh, cảnh ngộ oái oăm của một cụ già hay một đứa trẻ. Cái mà ta nhận ra Nam Cao đầu tiên là một hơi văn riết róng, mỗi câu nói như đứt từng miếng thịt, nói từng câu nhát một, nhưng câu nọ cứ dính vào câu kia, như một cơn đay nghiến. Với một cặp kính thấu đáo. Nam Cao phân tích từng khía cạnh tâm lý nhỏ nhất diễn biến trong nhân vật. Và ta có cảm tưởng cần viết nữa, Nam Cao còn tìm thấy cái đề viết, và còn có sức lôi cuốn người đọc.

 

Trường hợp Nam Cao là một ví dụ về phong cách truyện ngắn độc đáo, có giọng riêng của mình, và quan trọng hơn, những nhân vật riêng của mình. Từ các trang viết của Nam Cao, Chí Phèo khật khưỡng đi vào văn học, tiếng cười của Bá Kiến nghe lạnh bên tai; những Điền, Thứ cả nghĩ và hay làm liều, đề rồi hối hận; những Nhu (Ở hiền), Dì Hảo... không nói gì nhiều, nhưng cuộc đời cứ là những thoáng bùi ngùi không dứt ra nồi... Có tác giả truyện ngắn nào ở ta có được nhiều nhân vật đáng nhớ như thế! Có cảm tưởng rằng, tuy chỉ dùng đến rất ít giấy mực, nhưng truyện ngắn Nam Cao đạt tới hiệu quả mà đôi khi tiểu thuyết cũng phải ghen tị. Đọc liền một lúc các truyện ngắn ấy chúng ta như lạc vào một xã hội đông đúc đậm đặc những cái mặt người dị dạng. Đời sống trong truyện ngắn Nam Cao đúng là được nhìn qua một cặp kính mầu tối, nhiều chỗ tối sầm sầm, có người đã kêu rằng ở đây sao mọi chuyện gắt quá, chua cay quá, mà thiếu hẳn cái ngọt ngào và do đó, không phản ánh được cuộc sống toàn diện. Nhưng với một tác giả truyện ngắn, làm được như Nam Cao cũng đã là khá nhiều rồi, thông thường không mấy khi người ta đòi hỏi nhiều đến thế.

Trong ở chuột và một số truyện ngắn như Nhà nghèo, Lụa, Ông trăng không biết nói của Tô Hoài, phần còn lại là phần không khí xã hội, những nghịch cảnh, và một cảm giác rằng tất cả đều đang đi dần tới chỗ lụi tàn, tan nát.

 

Nhiều truyện ngắn Thạch Lam giống như những phác thảo tâm lý, một «cảnh tượng nho nhỏ giúp cho người ta hình dung một trạng thái tâm lý (trừ một vài trường hợp như Nhà mẹ Lê, Cô hàng xén, nhân vật được phác họa qua một số nét đáng nhớ).

 

Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời cũng rất rõ cốt cách nhưng nhân vật lại nghiêng về chất tạo hình hơn là ý nghĩa xã hội.

 

Mà đây đều là những tác giả đã thành hình trong văn học Việt Nam trước Cách mạng,

 

Nhìn vào truyện ngắn sau 1945, ta thấy ở các tác giả như Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Vũ Thị Thường, Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Quang Sáng, Hồ Phương, Đỗ Chu... (1) đều có sự phát triền đa dạng, truyện này đậm về nhân vật, truyện kia ăn ở không khí, giọng điệu, Và nhìn rộng ra ở các nước khác cũng vậy, truyện ngắn cho phép các tác giả của nó tồn tại ở nhiều cung bậc. Nếu có được các nhân vật sắc nét thì càng hay. Nhưng nhiều khi, chỉ cần một chút gì đó thật đậm, đủ sức gây ám ảnh và gợi ra cách hiều đời riêng của tác giả là đủ, ngoài ra là cách dựng truyện, cách lên » tác phầm, cách viết cho gọn, chặt. Đơn vị tạo nên sự thống nhất ở đây là bản thân tác giả, là khả năng luôn luôn chụp được những cảnh đời gọn ghẽ xếp vừa một truyện, truyện ấy dù lui tới thế nào, vẫn mang dấu

 

(1) Các tác giả này mỗi người đều có một tập truyện ngắn tiêu biều in lại ở NXB Văn học.

ấn rất rõ của người đã viết ra nó. Trong sự miên man của cuộc đời, người viết như biết mang lại cho ta những trạm nghỉ đều đặn, ở đó ta đủ sức tiếp nhận ý niệm chung về toàn bộ chuyến đi đề rồi sau đó, sẽ cùng với anh ta tiếp tục đi nữa.

 

Cái chất riêng của ngòi bút, điều ấy vốn là đòi hỏi chung cho mọi thề tài, đến truyện ngắn càng trở nên một đòi hỏi bắt buộc.

 

Con đường đề một nhà văn đạt tới thế giới truyện ngắn riêng của mình, đôi khi là rất giản dị, nhưng thông thường, rất quanh co phức tạp. Tôi nghĩ đến trường hợp Nguyễn Tuân. Khi nói đến một ngòi bút độc đáo, người ta nghĩ ngay đến Vang bóng một thời, ở đó có từ những nhân vật riêng, những khung cảnh riêng, đến những chữ riêng chỉ tác giả mới sai khiến được. Nguyễn Tuân thành thục trong bút pháp của mình đến mức ta tưởng bắt đầu cầm bút, ông đã có lối viết như vậy, ông sinh ra đề làm một Nguyễn Tuân kỹ lưỡng, tỉ mỉ, kênh kiệu. Nhưng chúng ta lầm. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, trước khi viết Vang bóng một thời Nguyễn Tuân vốn đã thề nghiệm đủ thứ bút pháp kề cả lối viết dựng lại những mảng đời thực với giọng văn hài hước, như kiều truyện ngắn Nguyễn Công Hoan. Nam Cao trước khi viết những truyện ngắn cay đắng chua chát của mình, từng là tác giả của nhiều bài thơ trữ tình cuối mùa. Trong cuộc đời của nhiều nhà văn nổi tiếng xưa nay, vẫn có những hành trang sau phải bỏ đi, nhưng bước đường phiêu bạt lạc lõng rồi, tới một lúc nào đó, mới tìm thấy được cái phần đích thực mà mình vốn có và phải có.

 

***

 

Đi từ những sáng tạo lẻ tẻ trong từng truyện ngăn cụ thề tới sự sáng tạo toàn diện của một tác giả, chúng ta đã

thấy một bước leo thang đáng kể. Tuy vậy lịch sử truyện ngắn còn biết tới những sáng tạo cao hơn một nấc nữa. Trong một số trường hợp, sự sáng tạo này được đầy tới mức sánh ngang mọi sáng tạo xuất sắc trong văn xuôi nói chung, kề cả trong tiểu thuyết.

 

Đó là trường hợp của những tác giả thật lớn, mà Sẽkhốp là một ví dụ.

 

Đâu là chỗ cống hiến của Sêkhốp đối với truyện ngắn?

 

Trước tiên là về số lượng. Ít ai viết nhiều như ông." Toàn bộ 30 tập Sêkhốp mới xuất bản gần đây, 12 tập giành cho thư, 18 tập giành cho sáng tác trong đó truyện ngắn chiếm phần chủ yếu. Ngoài ra chỉ có một vài bút ký và mấy vở kịch. Vốn không bao giờ coi mình là một thiên tài, ở Sêkhốp không có cái lối quan trọng hóanghè nghiệp. Ở đâu, và bất cứ lúc nào, về bất cứ việc gì, ông đều viết được. Ông bảo: «Dường như tôi có thể viết mọi điều anh muốn. Giả sử anh bảo tôi viết về cái chai này. Thế là sẽ có truyện ngắn nhan đề Cái chai». Có lần sau khi dự một tiệc cưới, Sêkhốp cùng bạn bè kéo vào một quán ăn bình dân. Họ gọi mấy cốc nước trà. Nhưng ở những lát chanh đặt bên cạnh cốc trà lát nào cũng thấy bốc ra mùi hành. Điều gì đã xảy ra trong tâm tríSêkhốp, không ai rõ, chỉ biết, ông vui vẻ bảo:

 

- Tuyệt. Thế mà các cậu còn than thở là thiếu đề tài. đề viết. Đây không đáng là đề tài sao? Chỉ thế này thôi, cũng đã đủ viết một truyện ngắn.

 

Dân chủ hóa truyện ngắn, mang lại cho thề tài này khả năng vào sâu đời sống, thông cảm được với mọi kiếp người xã hội, đóng góp về số lượng của Sêkhốp thật ra có ý nghĩa như thế. Một nhà phê bình Nga cho rằng tất cả nước Nga đều được Sêkhốp đề mất tới «phố xá mà chúng ta đi, những căn nhà trong phố, những người mà chúng ta gặp trên đường và chính ta, chính bạn đọc nữa »,

Qua các tác phầm Sêkhốp, ta biết khá tỉ mỉ cuộc sống nước Nga lúc đó.

 

Trong diện chú ý của Sêkhốp người ta thấy từ lão quản Prisubêép (Nguyễn Tuân dịch thoát là quản Bi) mấy người đánh xe ngựa, chú bé Vanca, đến những nhân vật kỳ cục như người tu sĩ vận đồ đen, hoặc người trong bao », thầy giáo Bêlicốp. Nhưng thành công nhất ở Sêkhốp phải kề là những nhân vật có đời sống tâm lý phức tạp, những người chán cuộc sống này lắm rồi, nhưng không đủ sức thay đồi nó, không tin có thể thay đổi nó. Không biết bao nhiêu lần, Sêkhốp đã mang vào tác phầm của mình những nhân vật vừa khao khát vừa chán chường này, và mỗi lần lại cho nó một sắc thái riêng, đến mức có thể nói loại tâm lý này mới là nhân vật chính ở Sékhốp. Cũng như những Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài... trên kia đã nói, truyện ngắn của Sêkhốp không chỉ cho thấy cả một thế giới với từng con người cụ thề trong đó, mà còn là một cách hiều về cuộc đời này nói chung, một sắc thái về đời sống mà chỉ với tác giả mới trở nên rõ rệt. Đối với tiều thuyết theo quan điềm thông thường, điều đó hình như không được, nhưng trong truyện ngắn, nó lại được chấp nhận. Gorki đã diễn tả rất tinh tế cái màu sắc riêng ở các truyện ngắn Sêkhốp. Ông bảo đọc Sêkhốp người ta cảm thấy như vào một ngày cuối thu buồn bã, khi không khí trong suốt như pha lê in đậm nét những thân cây trụi lá, những ngôi nhà chật chội, những con người tẻ ngắt... Trí tuệ của tác giả như ánh nắng thu soi rọi một cách sáng tỏ đến tàn nhẫn vào những dải đường thiên lý mòn nhẫn, những con đường làng cong queo, những ngôi nhà chật chội bần thìu...»

 

Sở dĩ chúng ta nói kỹ về Sêkhốp vì có lẽ không nhiều người chuyên tâm tới truyện ngắn đến thế, cũng không mấy ai giải phóng cho truyện ngắn triệt đề đến thế. Đời

sống vào trong tác phầm vừa vẫn là chính nó, vừa đã nhuốm một thứ ánh sáng riêng đến mức không giống ở bất cứ ai khác. Đấy là hai mặt cùng lúc cảm thấy ở mọi sáng tác thiên tài.

 

Đứng về mặt nghề nghiệp người ta đã sớm nhận xét Sêkhốp đi từ loại truyện ngắn có cốt truyện sắc nhọn đến loại truyện ngắn không cần đến mọi loại tình tiết gay cấn. Sự mệt mỏi của tâm lý nhân vật về sau chuyền cả vào thành sự mệt mỏi của câu chuyện, thành nỗi buồn trước một cái gì đáng lẽ phát triển mà không được phát triền. Cốt truyện trong Sêkhốp, thời gian về sau là một cái gì đáng xảy ra, có thề sắp xảy ra, rồi lại không xây ra. Bởi vậy, về một phương diện nào đó mà xét, phải thấy Sẽ khốp thực đã thoát khỏi mọi thứ quan hệ thất nút cởi nút thông thường. Ở những tác phầm về sau của ông, cách vào truyện – ra truyện rất tự nhiên, y như một người đang đi giữa phố thấy bất cứ ai cũng có thề nói ít lời về người đó, đến lúc phải chia tay thì chia tay, tuy không tuyên bố nhưng bao giờ cũng ngầm có ý bảo rằng cuộc đời của mỗi người vừa sinh động, vừa tẻ nhạt, vừa bao nhiêu là chuyện, lại giống nhau vô hạn, ai cũng thế thôi, mỗi người sẽ tự lẫn đi giữa dòng người bao la. Một nhà văn từng bảo mỗi truyện ngắn là một đỉnh núi, lên tới đó, ta không chỉ cảm thấy cái cao vợi của núi, mà còn thấy cả đồng bằng bát ngát ở dưới. Truyện ngắn Sêkhốp có được cái đột ngột đó là của một cuộc gặp gỡ -nếu không thì làm sao mỗi chúng ta còn cảm thấy điều gì đó cần phải đọc; tuy nhiên, từng giây phút đột ngột đó không đánh tan cảm giác về sự nhạt nhẽo vốn cũng vô tận của cuộc đời. Nói rằng triết lý trên đây của Sêkhốp tim thấy ở truyện ngắn một nơi thề nghiệm đắc địa cũng được, mà nói rằng chỉ trong truyện ngắn, cái triết lý trên của Sê-khốp mới hiện ra đầy đủ cũng được. Ở đây, hình thức và

nội dung đã hoàn toàn xuyên thấm nhau, tan biến vào nhau Sẽkhốp hoàn toàn tự do trong cái thể tài mà ông sử dụng.

 

Như một nhà văn Anh là S. Maugham (Môôm) đã nhấn mạnh, không nên coi truyện ngắn Sêkhốp là tất cả. Chỉ nên nói, với những đặc điểm trên, Sêkhốp là một cực phát triển của thề tài này, trong khi Môpátxăng, O Hen-ry... là những cực khác. Tuy nhiên, trong văn học, phải nói, chỉ những thiên tài mới có được những đồng góp cỡ đó. Từ sau Sẽ chốp, nhiều nhà văn nói rằng họ không thề viết như trước đó vẫn viết.

 

Bài học rút ra qua trường hợp Sêkhốp: giống như chính cuộc đời này, mọi thề tài đều có khả năng biến hóa vô tận. Một khi đã có được cách nhìn nhận mới mẻ về đời sống, nếu nhà văn ở đây là người viết truyện ngắn còn tìm được hình thức thề tài thích hợp, và đầy được những thề nghiệm của mình chín đầy tới mức trở thành những hình thức ổn định, bình thản, thì sức sáng tạo nảy nở không biết đâu là cùng, và sự đóng góp của nhà văn trong hình thức thể loại, cũng sẽ là không gì thay thế nồi.

 

***

 

Sự sáng tạo trong truyện ngắn thật không cùng. Nhưng sự sáng tạo trong truyện ngắn lại bắt đầu từ những công việc bé nhỏ, tưởng như lặt vặt. Bởi vậy, niềm vui sáng tạo – một niềm vui tưởng như không gì so sánh nồi có thể đến với chúng ta hàng ngày. Nếu hiều dũng cảm là khả năng biết suy nghĩ tính toán đề vận dụng sức lực của mình, làm việc một cách tốt nhất, thì trong cả đời văn lẫn trong lao động cụ thể trên từng trang truyện, người ta đều cần dũng cảm. Đấy là điều sau hết cần nhấn mạnh.

 

1983

 

MỘT ÍT GHI NHẬN CHUNG QUANH SỰ ĐỒI MỚI GIỌNG ĐIỆU TRONG VĂN XUÔI

 

1.

 

Theo dõi vở kịch Nhà tư sản quý tộc (mà trước kia quen gọi là Trưởng giả học làm sang) của Môlie, không ai bảo ai, hầu như tất cả chúng ta đều bật cười khi nghe ông Giuốc đanh phát hiện «Õ, thế ra hơn bốn mươi năm nay, tôi nói văn xuôi mà tôi chẳng hay biết gì cả ».

 

Tuy nhiên, trong cái phút ơrica này của nhà tư sản, không phải không có một chút hạt nhân hợp lý. Đó là văn xuôi vốn rất gần đời sống hằng ngày. Văn xuôi có khả năng biều hiện những sắc thái khác nhau nhất của hiện thực. Do đó ở cả tiều thuyết, ký lẫn văn chính luận, khả năng biến hóa của văn xuôi là vô cùng đa dạng, bản thân chúng ta chưa ngờ hết và do đó chưa sử dụng hết. Lấy ra từ những tác phầm mới xuất bản khoảng 1975-1980, những ví dụ mà chúng tôi sẽ nêu trong bài mới là những thể nghiệm nho nhỏ, có khi chỉ là những thề nghiệm tự phát, nhưng đã rất nên đề ý nếu chúng ta cùng lưu tâm tới việc xây dựng một nền văn xuôi hiện đại.

 

- Ký sự miền đất lửa là một tác phẩm viết về cuộc chiến đấu ở Vĩnh Linh đọc khá cảm động.

Kề chuyên chiến đấu và phác họa lại một số gương mặt bình di của Vĩnh Linh anh hùng, đấy là một việc không mấy mới mẻ. Chọn cách nào đây? Các tác giả cuốn sách chọn một con đường ngắn nhất là lấy ngay những chuyện mình đã sống đã chứng kiến ra đề kề. Nhưng theo tôi, cái phần độc đáo đáng nói nhất của Ký sự miên đất lửa ở chỗ này : cách dẫn truyện. Trong phạm vi 234 trang khô to (*), cả tác phầm được chia làm bảy phần, bốn chục chương nhỏ. Và bốn mươi chương đó được viết từ những góc độ khác nhau.

 

Có chương là lời kề của từng tác giả, Vũ Kỳ Lân Nguyễn Sinh.

 

Có chương là những đoạn nhật ký mà mỗi tác giả đó từng viết những năm 1965, 1967 (riêng phần của Nguyễn Sinh Trích số tay phóng viên).

 

Có chương là lời kề hoặc nhật ký của những người khác, ví dụ chương 25 là nhật ký của tiều đoàn trưởng Hoàng Công Thành; các chương 24, 26, 30, 31 là lời kề của đồng chí Nguyễn Văn Hội, riêng chương 32 lại là lời kề của đồng chí Nguyễn Huy.

 

Những lời kề, đoạn nhật ký... ấy từng cái đứng thành mảnh riêng, giữa cái nọ với cái kia không cần có những vết hàn lộ liễu vẫn gắn bó với nhau góp phần tạo nên một tác phầm hoàn chỉnh. Đó là một ví dụ về sự áp dụng thủ pháp môngtagiơ của điện ảnh sang văn xuôi.

 

Nói riêng về việc tạo ra những mảng độc lập.

 

Đã gọi là viết văn, việc lấy tài liệu của người khác đề làm giàu thêm cho kinh nghiệm của mình, kề cũng là chuyện thường tình. Nhưng lối đề tài liệu «mộc » rồi đưa thẳng vào sách như thế này ít ra là đề độc giả có cảm tưởng tài liệu được đề « mộc» và được đưa thẳng

 

(*) Bản in lần thứ nhất, 1978

vào tác phầm - có những chỗ rất hay. Về mặt giọng điệu, nó tạo ra ấn tượng trong tác phẩm tồn tại những giọng khác nhau, cài chen vào nhau. Người đọc được thưởng thức một bài hát có nhiều bè. Hiệu quả có phần thú vị hơn, và chắc chắn là khác so với loại bài hát chỉ do một giọng thực hiện, dù riêng giọng đó đã rất điều luyện.

 

Sau đây là một ví dụ khác, rõ rệt hơn: Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải.

 

Nguyên cuốn ký sự được hình thành sau những ngày tác giả, với tư cách một nhà báo, có dịp tham dự chiến dịch lịch sử xuân 1975. Bất cứ ai ở hoàn cảnh này cũng dễ lúng túng. Mặc dù biết rất nhiều, mỗi người thường vẫn chỉ biết từng mảng, các mảng ấy không thật thuần nhất. Đề cho tiện, tác giả liền dùng lối «biết đâu kể đấy». Chương I chép chuyện tác giả «xuất hành » và đi từ Hà Nội vào Huế. Chương II thuật lại những chuyện bàn cãi giữa mấy nhân vật tư sản trí thức ở Huế, thực tế cũng là một cách giải thích tại sao ta thắng địch thua. Chỉ từ chương III trở đi, tác giả mới đi vào chuyện chính là những giờ phút của tháng ba lịch sử ở mảnh đất Tây Nguyên. Nếu ở chương I, chương II và chương cuối, chương VI, ngòi bút của tác giả là ngòi bút chính luận, thì ở hai chương chính này (chương III, chương IV), tác giả chỉ lo một việc là thuật lại lời kề của nhiều người khác, từ đồng chí tư lệnh phó mặt trận, đến người lính; lời kề mạch lạc, gọn ghẽ. Rút cục lại, với Tháng Ba ở Tây Nguyên, ta có cảm tưởng như được đọc hai tác phẩm khác hần nhau, nhưng cả hai lại bồi bồ cho nhau đề làm nỗi bật cái tư tưởng chính mà tác giả muốn nói với người đọc.

 

Ở Ký sự miền đất lửa, trước những sự kiện quan trọng của Vĩnh Linh, bên cạnh lời kề của nhân vật chính, còn

có những đoạn làm nền, đó là vắn tắt một số tài liệu rút ra ở các bản tin tham khảo, kè lại khi thì một cuộc họp báo ở Nhà Trắng, khi thì một lời tuyên bố của người phát ngôn Bộ tư lệnh Mỹ ở sân bay Tân Sơn Nhất. Trong Tháng ba ở Tây Nguyên, tài liệu càng nhiều, bao gồm đủ loại như đệ trình của các tướng nguy Phạm Văn Phú, Phạm Duy Tát... gửi cấp trên, công điện của Nguyễn Văn Thiệu gửi cấp dưới v. v... Bảo rằng đó là bóng dáng của một thứ văn xuôi tư liệu thì cũng được. Nhưng nói hẹp hơn, và có phần chắc hơn đó là cái cách làm cho văn xuôi kề chuyện đỡ đơn điệu, nhất là khi thứ văn kề chuyện này không được một cốt truyện hoàn chỉnh hỗ trợ.

 

**

 

Khi tìm được hình thức hợp cũng là lúc nội dung một tác phẩm được tổ chức xong, đúng như nó cần phải có.

 

Bởi vậy, những đồi mới trong hình thức một tác phầm thường vẫn khởi đầu từ những đồi mới trong nội dung mà riêng tác phẩm đó đòi hỏi.

 

Nhưng việc tạo ra những hình thức kề chuyện khác đi như vậy còn chứng tỏ văn xuôi vốn có một tiềm năng đáng kề. Nếu chịu khó khai thác triệt để, chúng ta có thể mang lại cho nó những đồi mới hữu ích.

 

Xin được nhắc qua một khía cạnh thuộc về lịch sử.

 

Trong ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, ngay từ nghĩa gốc của nó, chữ văn xuôi vốn đã có nghĩa đơn giản bình thường (trong khi thơ sớm được hiều như một hành động sáng tạo thiêng liêng, cao cả).

Thoạt đầu văn xuôi, còn lẫn với các thề khác không phải văn học (như triết học, lịch sử...). Trong văn học dân gian, nó tồn tại dưới dạng những truyện kẻ không có hình thức cố định. Chỉ dần dần, văn xuôi mới trở nên hoàn chỉnh và có cốt cách như hiện nay. Nhưng bấy giờ, những chỗ yếu hôm qua của nó lại biến thành chỗ mạnh. Nó trở nên mềm dẻo, linh hoạt. Nó có thể nói về những khu vực khác nhau nhất của đời sống bằng một thứ ngôn ngữ gần với đối tượng đó nhất. Vả chăng, bản thân ngôn ngữ trong văn xuôi không chỉ là phương tiện miêu tả, mà còn là đối tượng miêu tả. Người ta phải lo truyền đạt cho được ngôn ngữ đời sống khi đưa nó vào trang sách. Bởi vậy, trong văn xuôi, tiếng nói thường hiện ra đa thanh, có tiếng nói của tác giả, lại có tiếng nói của các đối tượng được nói tới. Những tiếng nói ấy cùng cất lên đua tranh với nhau rồi lại hòa vào nhau, tôn nhau lên. Với những tác phầm đi hết khả năng văn xuôi vốn có, người ta như được chứng kiến một cảnh diễn tưng bừng, ở đó mọi sắc thái vừa tự phân biệt, vừa hòa hợp với nhau.

 

Đọc các tác phẩm văn học nước ngoài hiện nay, chúng ta thấy đặc điểm này của văn xuôi được khai thác rất triệt để.

 

Một mặt, người ta tìm cách làm cho giọng nói của tác giả tách ra, không lẫn với giọng nói của nhân vật. Có phải bao giờ nhà văn cũng hiều đúng những anh A, chị B được kẻ trong tác phần hay không? Trước câu hỏi này, một số nhà văn trả lời: chưa chắc. Bởi vậy, trong khi tìm cách đi rất gần nhân vật, nhà văn vẫn vạch rõ ranh giới giữa mình với những anh A, chị B đó. Thậm chí đã

thấy có những cuốn sách sau một đoạn nhân vật nói, lại có một đoạn bình luận của tác giả, đại ý nhắc nhở người đọc là nên hiều như thế này, như thế kia mới đúng.

 

Mặt khác, giữa các nhân vật không phải bao giờ cũng có sự hiểu biết chính xác về nhau, nhận thức mọi văn đề giống nhau. Bấy giờ, cách tốt nhất là làm cho từng người trong họ có dịp nói ý kiến riêng của mình. Lấy vi dụ ở một số tác phẩm mới dịch sang tiếng Việt. Như trường hợp Ngược dòng (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1979): trong lời giới thiệu của người dịch ở đầu cuốn sách, chúng ta thấy nói tới thủ pháp mỗi sự kiện lại được trình bày qua sự tiếp nhận không phải chỉ của một người mà của nhiều tính cách rất khác nhau. Hoặc trong Hai mươi giờ (Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, 1978): Xâu chuỗi lại một sự kiện xảy ra trong quá khứ, tác giả dùng lối dàn cốt truyện ra thành hai mươi mầu ghi chép, mỗi mầu là một cuộc gặp gỡ. Mục đích lối dàn truyện này nhằm làm cho tất cả các nhân vật « nói một cách khác nhau, từ nhiều góc độ, về cùng một chuyện» (Xem Phụ lục tham khảo ở cuối sách).

 

Tóm lại, ở ký cũng như một loại hình văn xuôi đã có cốt truyện như tiều thuyết, việc tạo ra sự đa dạng trong lời văn kề chuyện vẫn được các nhà văn nước ngoài hết sức lưu ý.

 

Đầy lên một chút nữa, câu chuyện đang nói còn động chạm đến những vấn đề phức tạp như thời gian trong văn học, thời gian hiện tại và thời gian quá khứ; tiếng nói bên trong và tiếng nói bên ngoài của con người; dòng ý thức v.v.... Tất cả nghe đều có phần xa lạ với chúng ta, song thực ra, đều là những vấn đề mà mỗi người cầm bút từng có lúc phải đối mặt.

Trong các tác giả văn xuôi của ta hiện nay, có một người kiên trì tìm tòi theo hướng này, đó là Nguyễn Thành Long, Toàn truyện Con trai con gái Cụ Hì của anh (in trong tập Giữa trong xanh) được viết theo lối các đoạn độc thoại nội tâm của hai nhân vật chính đặt nối tiếp nhau, xen kẽ vào nhau. Do chỗ hai nhân vật chính ấy một chiến sĩ giải phóng và một cô gái cơ sở – trong hoàn cảnh bị kìm kẹp, đối mặt mà không được nói với nhau một lời, nên lối dùng độc thoại nội tâm là có lý. Nôi chung, trong văn Nguyễn Thành Long, những đoạn nhân vật vừa nói với mình, vừa nói với người khác, rồi những ảnh hưởng bên ngoài đứt nối giữa dòng độc thoại nội tâm dày đặc,... không phải là hiếm, bạn đọc hơi khó theo dõi, nhưng khi hiều ra, thấy có thể chấp nhận được.

 

**

 

Những người có dịp theo dõi sân khấu mấy năm gần đây đều biết giới đạo diễn ở ta đang có những nỗ lực đáng kề để mở rộng không gian sân khấu. Giữa lúc các nhân vật đang trò chuyện bỗng đèn tắt, chỉ có một luồng ánh sáng dọi vào nhân vật nào đó, và nhân vật này lên tiếng tự nói một mình – việc ấy đã quá quen. Gần đây hơn là một số cách làm khác: ở vở này, ánh sáng và tiếng động được huy động phối hợp, đề diễn tả một trận đánh; không gian sân khấu không chỉ thu hẹp vào mấy thước vuông của sàn gỗ mà được mở ra rất rộng, thậm chí có nhiều lớp khác nhau, lớp xa lớp gần cùng tồn tại cạnh nhau. Ở vở diễn kia, một đạo cụ được khai thác. thế nào đó đề có ý nghĩa tượng trưng, cùng một miếng gỗ lúc có thể hiều là cái ghế, lúc có thể hiều là cái thuyền, như trong chèo cò... Rồi lối thay đồi phông

màn ngay trước mặt khán giả, nhằm đánh tan mọi thứ ảo tưởng rằng đây là chuyện giống như cuộc đời », mà công khai tự nhận đây là sân khấu diễn tả cuộc đời » v.v... và v.v... Tính ước lệ của sân khấu là điều được mọi người chấp nhận «Không gian ước lệ ấy mở ra cho người nghệ sĩ một khoảng rộng sáng tạo mới » (Trần Bảng).

 

Tuy không rõ rệt bằng, nhưng trong văn xuôi ta, cũng đang có xu hướng tương tự. Những đồi mới trong cách dẫn truyện, cách trình bày đối thoại đã thấy hé ra thấp thoáng ở một ít trang viết của Tô Hoài, Nguyễn Kiên và nhiều người khác... Ngay ở một số tác giả tương đối trẻ hơn, người ta cũng có thề nhận ra những cục cựa» nho nhỏ. Mở đầu và kết thúc Trong cơn gió lốc, Khuất Quang Thụy dùng lõi in nghiêng kể lại chuyện một trung đội trưởng thích viết nhật ký khiến người đọc có cảm tưởng cuốn sách của anh hình như nối tiếp ngay cuốn nhật ký đó, đúng hơn nó là cái bóng phóng to của cuốn nhật ký đó. Trước khi thuật chuyện chính, Nguyễn Tri Huân trong Năm 1975 họ đã sống như thể tìm cách chép ra mấy đoạn nhật ký của một sĩ quan ngụy, ngụ ý của anh là tạo ra một bằng cứ đề người đọc so sánh, kết quả là dù chỉ chiếm có hơn chục trang, nhưng đoạn nhật ký này vẫn lởn vởn trong tâm trí người đọc khi đọc sách. Nó như một thứ giọng khác và làm nền đề cho ta nghe rõ hơn giọng chính của tác phẩm.

 

Văn phê bình cũng là một thứ văn xuôi. Đến nay, theo như cách viết của chúng ta, nó mới hiện ra như một thứ độc thoại của người viết. Chúng ta đã quen với lối viết này đến mức coi đó là bộ mặt duy nhất của văn phê bình. Nhưng không phải vậy. Có lần, nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh bảo với tôi: Anh ao ước một dịp nào đó viết được những trang phê bình gồm hai mạch rõ

rệt, một là mạch tư liệu, thật xác thực rõ ràng, như trong toán học; một là mạch suy nghĩ của bản thân người viết, phóng túng, tự do như trong thơ; cả hai mạch đó song song tồn tại cạnh nhau, nương tựa vào nhau mà hợp âm của chúng, mới tạo nên hiệu quả chung. Tuy Nguyễn Đăng Mạnh chưa làm, nhưng những suy nghĩ của anh thật có cơ sở xác đáng. Biết đâu nó chả là một cách làm giàu thêm cho phê bình, giúp phê bình đỡ tẻ nhạt.

 

Khi tôi nói những nhận xét này với một vài anh em viết văn, những người có thiện chí đều bảo: đi tìm cách viết như vậy không khó, làm sao cho hay khó hơn. Đồng ý, tôi không hề nghĩ cứ bày đặt ra tự khắc có văn hay.

 

Vấn đề là phải tu dưỡng rèn luyện như chúng ta vẫn nói-Nhưng có lẽ, cũng nên thống nhất lấy một điềm: dẫu sao những thề nghiệm này vẫn rất cần, không nên lảng tránh. Chẳng phải chính thực tế sáng tác trong những năm qua đã chỉ rõ, có lúc, phải thứ văn xuôi phong phú về giọng điệu này mới chở hết nội dung tác phầm đề cập tới, và như vậy, mọi tìm tòi rất cần được khuyến khích.

 

1980