MỤC LỤC
ĐẦU SÚNG TRĂNG TREO
MỘT MẠCH THƠ
KHÁNG CHIẾN
ĐƯỢC TIẾP TỤC
Nếu
không kể đến bài Ngày về mà tác giả
ít khi chọn in lại thì, đối với đa số bạn đọc chúng ta, Chính Hữu trở thành một
cái tên đáng nhớ là từ bài Đồng chí:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.
-
Bài thơ nói một thứ tình cảm mới, tình đồng đội của những người lính hiện nay.
Người ta kề ra những vất vả gian nan, đã cùng chia xẻ; để thấy thêm gần gũi với nhau. Và hình ảnh những
người lính do đó chỉ càng thêm đẹp. Mỗi câu thơ ở đây đều rất mực gọn gàng chặt
chẽ: Miệng cười buốt giá, Rừng hoang
sương muối. Nhưng cô đọng nhất, hàm xúc nhất vẫn là cái câu cuối cùng: Đầu
súng trăng treo. Chỉ có bốn tiếng thôi mà thấy vẽ lên cả một hình ảnh, vừa có ý
nghĩa, vừa mỹ lệ. Nhờ đó tình cảm đồng chí đồng đội càng thêm ấm áp. Rất ấm áp,
trăng treo đầu súng mà vẫn chẳng thấy lạnh lẽo chút nào.
Giữa
nhiều bài thơ khác, những bài thơ làm trong kháng chiến, Chính Hữu chỉ chọn lấy
một ít bài tiêu biều. Anh cố gắng tránh những cái gì ấu trĩ nằm trong phần ấu
trĩ chung của thơ ca lúc ấy. Tháng 5 ra
trận, lối thơ bầy chữ hiền hậu; những câu Mùa thu thây giặc chất sông núi - Mùa hạ thây giặc phơi đầy đồng,
tất cả hơi
hướng những năm 48, 49 tưởng vẫn còn nguyên.
Và
Mái buồn nghe sấu rụng, cái đêm Hà
Nội 1950 ấy đã được dựng lại, có không khí mà lại rất tạo hình. Càng về sau
này, cái nhìn của anh về kháng chiến càng sâu sắc hơn, người và cảnh vào thơ
vẫn cứ là ít, nhưng hiện ra đậm nét hơn. Hình ảnh người mẹ trong Gửi mẹ khá nồi
«Những đêm gió mưa dữ dội - Vẫn thắp hương cầu trời phù
hộ bước con đi». Không phải bà mẹ Việt Nam thì có bà mẹ nào trên thế giới lại yêu nước
theo kiều như thế?
Trong
Thư nhà sự liên tưởng từng nét chữ “như gồng như gánh dân công” đã quí. Nhưng càng quí hơn là
điều khẳng định:
Một lá thư nhà
Chia đôi nhiệm vụ
Hai người đoàn tụ
Hai đầu chiến trường.
Mới
đầu thì ta thấy thắc mắc, tưởng như vấp phải một cái gì vô lý. Nhưng đến lúc
hiều rõ thì ta bỗng vui mừng mà thấy lớn lên theo tầm suy nghĩ của tác giả,
không phải chiến trường hẹp lại mà là mối tình càng mở rộng ra, càng nhân lên
không biết là bao nhiêu lần. Trở lại chủ đề đồng chí đồng đội là bài Giá từng tấc đất. Nhưng là một sự trở
lại có nâng cao và mở rộng.
Khi bạn ta
lấy thân mình đo bước
Chiến hào đi
Ta mới hiểu giá từng thước đất.
Đúng
như tư cách một nhà thơ bộ đội, Chính Hữu bao giờ cũng giữ lấy một hơi thở rắn
rỏi, chắc khỏe. Tình cảm của anh dường như thường lặn sâu vào bên trong. Có
phải đó là thói quen của những người đã dạn dày trong chiến đấu? Dầu sao, chớ
có bảo tình cảm đó không mãnh liệt đậm đà. Nói tới cái chết, những vần trắc ở
đây như chứa đầy uất hận. Những ý những chữ quan trọng được tách ra thành những
dòng thơ riêng để nhấn mạnh... Bấy nhiêu yếu tố màng lại cho bài Giá từng tấc đất một nét mặt rất mới.
*
Nếu
trong kháng chiến, thơ Chính Hữu đã ít thì trong mấy năm hòa bình, tính theo tỷ
lệ thời gian, hoa trái tâm hồn anh càng thưa thớt hơn. Đầu súng trăng treo không có những bài thơ thời sự hiều theo ý
nghĩa trực tiếp của nó. Bởi vì khó lòng tìm thấy trong đó từng bước đi của hiện
thực một cách cụ the, chi li. Nhưng nếu hiểu tính thời sự một cách sinh động
hơn, nếu hiều tính thời sự như là sự gắn bó gần gũi giữa tầm tư tưởng của bài
thơ với những vấn đề lớn đang đặt ra trong cuộc sống, thì mới đánh giá được
mười một bài thơ Chính Hữu làm trước năm 1965.
Như
trên đã nói, Giá từng tấc đất, Thư nhà...
là nhịp cầu nối giữa thơ kháng chiến và thơ trong hòa bình của Chính Hữu. Từ đó
về sau, tác giả ngày càng đi tới một phong cách tương đối ổn định. Dường như
anh không bao giờ bằng lòng với cách nhìn sự vật một cách hời hợt, kề cả cách
chấm phá vài nét rồi bỏ đi chẳng hạn. Thường trực trong anh là một ý thức muốn
thâu tóm những bước đi, những biến chuyền của cách mạng ngay trong những sự
việc bình thường. Với anh, Lá phiếu hôm
nay:
Kể chuyện
chúng ta
khi đi tay không
Khi về
Trời mây - ruộng đồng - tất cả.
Những
khẩu hiệu mà chúng ta vẫn nói vẫn nghe hàng ngày, bỗng nhiên được tác giả soi
rọi từng bước đi trong lịch sử:
Những đêm lửa đỏ xóm làng.
Thức với những người du kích
Khẩu hiệu đứng trên đường
bất khuất
Người
nào làm thơ chắc biết từ cái tứ khẩu hiệu
này đến một bài thơ cụ thể, là cả đoạn trường cheo leo hiểm trở, nhà thơ rất dễ
rơi xuống cái vực thẳm khẳng định chung chung. Nhờ ở vốn sống, mà cũng nhờ ở
cái tầm nhìn tầm nghĩ Khẩu hiệu... như lương tâm kêu gọi, nhà thơ đặt được
bài thơ đúng cái tầm cao mà nó có thể đạt được. Cũng như vậy, với một chuyện Duyệt binh, tác giả bỗng khơi được nhiều
vấn đề mà bình thường chúng ta chỉ cảm thấy một cách thấp thoáng. Bài thơ có vẻ
lạnh lùng tỉnh táo, không phải làm cho người ta vẫn vương mà là làm cho người
ta suy nghĩ, suy nghĩ mãi không thôi. Đến đây, càng ngày càng rõ cái vẻ riêng
trong thơ Chính Hữu. Anh muốn trực tiếp ngợi ca hóm nay, ngợi ca cách mạng ngay
trong cái tư thế chúng ta đang cầm súng, đang vượt mọi khó khăn gian khổ. Không
sa đà vào việc kề lề những sự việc cụ thể, luôn luôn anh muốn vươn tới ý nghĩa
khái quát của các hiện tượng -và chủ ý ấy đã được thực hiện khá thành công
không phải là trong một hai lần, Đêm tuần
tra súng ướt hơi mây, sau khi dùng một nét nhỏ để đựng không khí rồi, anh
tập trung nói những suy nghĩ của người lính biên giới. Thăm Anbani, anh thấy:
Núi Anbani như gươm như mác
Như đội ngũ năm trăm năm xưa của Scăng-đếc-béc
Biển Anbani sôi nổi bốn bề
Như lịch sử Anbani trường kỳ sóng đập.
Dù
cái chất chiến đấu ở phong cảnh và lịch sử nước bạn thế nào, nhưng phải có lối
nhìn riêng mới khiến tác giả khai thác được nét nổi bật đó.
*
Dạo
ấy, còn có những ngày tạm gọi là hòa bình, Song le, ở những con người có tầm
nhìn xa thì «có thể nào yên» có lúc nào không thao thức một ý chí chiến đấu?
Thơ trong
Đầu súng trăng treo là như vậy. Một bài thơ nhỏ về một đề tài rất quen thuộc
như cây cũng mang dấu vết riêng của tác giả:
Nghìn dặm đường vui rì rào đất nước
Trong bước ta đi vội đêm ngày.
Vẫn
là con đường ngàn dặm, con đường hành quân, và người đi thì phải mải mê bước
vội. Cho nên, rất dễ hiều khi thấy thơ anh nhanh chóng bắt vào cuộc sống chiến
đấu ở miền Bắc những năm chống Mỹ. Bắt đầu là niền thông cảm với một đồng chí
chiến sĩ giải phóng. Rồi ao ước thành sự thật. Vẫn cái hăm hở hồ hởi, mà nỗi
vui Đường ra mặt trận đã đầy đặn hơn,
tràn trề hơn. Cách mạng là một ngày hội lớn của quần chúng. Nhiều người quá, chào nhau không kịp nhớ mặt. Càng đông
vui, càng tự hào:
Sung sướng bao nhiêu: tôi là đồng đội
Của những người đi, vô tận, hôm nay.
Như
là một lối biều hiện riêng, ý niệm hôm nay thường được Chính Hữu nhấn mạnh
trong sự suy nghĩ của mình để đánh dấu một khoảnh khắc của sự rung động. «Sáng
nay ta về Hà Nội», « Một lá thư nhà hôm nay ta đọc», «Đất nước ta cầm trong lá
phiếu hôm nay» Đến những ngày hôm nay - chiến đấu thì những nhắc nhở đó lại
càng có ý nghĩa. Quả thật, trở lại cầm súng hành quân nhưng mỗi ngày bây giờ
đâu phải chỉ là bản sao của 20 năm về trước... Đất nước lớn lên, có nhiều «
ngôi trường ngói đỏ bình yên». «Cánh đồng đang gặt. Hàng ngũ ta đi dài như
tiếng hát ». Mỗi người trong chúng ta cũng đều cảm thấy mình đã vượt qua những
cái ấu trĩ ngày xưa. Không phải chỉ là một niềm say bát ngát thoáng chút mơ hồ,
chúng ta đi chiến đấu vì một trang giấy học trò lành hiền, vì một ánh đèn soi cho
em ta ngồi học. Kẻ thù hung bạo lắm. Nhưng đấu tranh này là trận cuối cùng. Cho
nên mới có cái cảnh:
Súng ta kê
bên nổi nhỏ
các em nằm.
Câu
thơ tạo hình sắc lạnh quá. Xem chừng có vẻ tàn nhẫn! Nhưng thực tế như vậy, gây
nên những cảnh đó là tội ác của kẻ thù. Cuối cùng chỉ còn một cách xóa sạch khổ
đau là dốc lòng chiến đấu. Cả miền Nam như thế, cả nước như thế. Ở đâu cũng gặp
những ngọn đèn gác đường hành quân. Nói cho cùng, cuộc chiến đấu đã vượt qua
giai đoạn bắt đầu. Vượt lên, chúng ta đang chạy đua với thời gian, Thắng lợi,
ta thấy nó đang trước mặt:
Đi nhanh đi nhanh
Chiến trường đã giục
Đầy núi đầy sông
Đèn ta đã mọc
Trong gió trong mưa
Ngọn đèn đứng gác
Cho thắng lợi, nối theo nhau
Đang hành quân đi lên phía trước.
Niềm
thao thức hành quân đã thường xuyên đi về trong nhiều bài trước kia, giờ đây
càng có sức mạnh như một lời kêu gọi, một khẩu hiệu hành động. Nó là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt toàn bộ tập thơ. Cả đến vần điệu của câu thơ cũng phục vụ cho ý đó.
Thơ nhiều câu ngắn, thường là những vần trắc hoặc thanh không. Thơ nhiều động
từ nhanh mạnh hơn là những tính từ màu mè rực rỡ. Thực ngắn, gọn, sít sao.
*
Trở
lên là những cảm nghĩ của một người đọc khi có dịp nhìn lại cả quãng đường
thơ Chính Hữu đã đi trong khoảng gần hai mươi năm qua. Khỏi
phải nói, đây là một tập thơ có giá trị. Điều cần khẳng định trước hết là tác giả của nó là một người
làm thơ có trách nhiệm. Trong tình trạng thơ ta còn nhiều bài dễ dãi quá mức, trường
hợp Chính Hữu có tác dụng rút kinh nghiệm bồ ích về việc tôn trọng người đọc.
Tuy nhiên, muốn đóng góp một tiếng nói nghiêm chỉnh, không gì hơn là cũng nên
nói thẳng một số băn khoăn nuối tiếc. Tình cảm đồng đội nói như mức ở Đồng chí là vừa, đến phần đầu Giá từng thước đất đã hóa nhạt. Phần
cuối bài thơ Khẩu hiệu rơi vào chung
chung, chưa xứng với phần trước. Cũng như vậy, ý trước ở bài Một nửa chân thành, dễ thông cảm, nhưng
sau đó tác giả có phần lạm dụng rơi vào chỗ gò gẫm, thiếu tự nhiên. Nhìn chung,
khi nào cái tình của tác giả đi kịp sự suy nghĩ thì bài thơ khá đạt. Trái lại,
bài thơ sẽ thiếu hẳn sức sống nếu thiếu những rung động bên trong. Nhân đây, có
thể nảy ra một lo ngại chính đáng: tình cảm trong thơ Chính Hữu chưa được thấm
đượm khắp nơi. Kẻ thù vô hình của thứ thơ suy tưởng dễ kéo người viết sa vào
những mệnh đề rời rạc tản mạn. Điều đó đã được Chính Hữu giải quyết bằng cách
chọn lấy một tứ chung, khắc họa một hình tượng toàn bài khả dĩ lưu lại trong óc
người đọc. Song le, ở từng chi tiết nhỏ đã thấy tác giả trở đi trở lại với
những biểu tượng chung chung.
Đêm
tháng 5 trước hôm bỏ phiếu bầu cử Quốc hội « Trống cờ bay bổng» - và đến đường ra mặt trận bây giờ lại «Xao xuyến bờ tre từng
hồi trống giục » Lá cờ tiếng trống
với Chính Hữu, ngoài ý nghĩa thực, dường như còn để tượng trưng cho cách mạng...
Chủ yếu là những rung động, những nếp cảm nếp nghĩ hằn vào tiềm thức.
Nhưng cả lối biểu hiện độc đáo đó, cùng với những “núi sông”, “câu hát”, “ngọn đèn thức trong đêm...”, nhất là cái ý kết luận hành quân, hành quân khi bị trở đi trở lại nhiều quá, vẻ tươi tắn sao mà giữ
được như những lúc đầu?
Cuối
cùng, nên nói qua về mặt sắp chữ đặt câu. Trừ đôi bài như Cây, Ngọn gió còn toàn
tập của Chính Hữu có một giọng điệu riêng biệt. Nhưng nếu nghĩ về đường dài,
một sự đơn điệu ít nhiều đã cứng lại như ở đây chưa chắc đã là một điều đáng
mừng, đứng về phương diện một nhà thơ mà nói. Thơ Đầu súng trăng treo tránh được lai căng mà vẫn rất hiện đại. Tuy
nhiên với vóc dáng như hiện nay, từng bài vào với quần chúng chưa chắc đã được
trôi chảy tự nhiên.
*
Với
Chính Hữu, lòng tin của chúng ta đã có cơ sở những năm đầu kháng chiến. Điều
đáng mừng là trong những ngày chống Mỹ, ngòi bút anh như có dịp khởi sắc lại.
Không gì khác, Đầu súng trăng treo là một hơi thơ khỏe mạnh góp phần nói lên
tiếng nói của những người đang chiến đấu và chiến thắng.
1967
MỘT TIẾNG NÓI LẠC QUAN
TRONG NHỮNG NĂM CHIẾN TRAΝΗ
- THƠ PHẠM TIẾN DUẬT
(Đã in trong
“Phê bình & Tiểu luận” dưới nhan đề “Âm hưởng lạc quan trong thơ Phạm Tiến
Duật)
Những người đã có dịp đi với bộ đội ít nhiều hân biết
rõ người chiến sĩ của chúng ta có một đời sống tinh thần đặc biệt; các anh rất
dễ vui, và niềm vui của các anh rất trẻ, khỏe. Hành quân nhọc mệt nhưng đặt ba
lô nghỉ là nói đùa, nói «trạng». Leo những cái dốc ê ẩm, đặt cho dốc đủ mọi thứ
tên để cười. Làm được cái hầm đẹp đã vui. Cải thiện
được bữa rau rừng cũng vui! Đánh xong trận ác liệt về, các anh lại càng tìm
thấy nhiều chuyện vui. Cái lạc quan, cái vui đã thành một nét bản chất của
người chiến sĩ, nó nảy sinh trong mọi hoàn cảnh, như một thứ thách thức vượt
lên khó khăn; nó là cái hơi ấm toát lên từ tâm tình của những người tự tin và
đang chiến thắng.
Mấy năm vừa qua, Phạm Tiến Duật luôn luôn có mặt giữa
những người chiến sĩ như thế. Anh đi với lái xe, với công binh, với thanh niên
xung phong trên một tuyến đường vận tải quân sự đặc biệt, và những bài thơ của
anh in lại trong Vầng trăng quầng lửa,
trong Thơ một chặng đường chính là
được bắt nguồn từ cái vui, cái lạc quan
của cảnh và người anh sống, anh gặp trên đường. Như là có một sự gặp gỡ đặc
biệt giữa tâm hồn một người chiến sĩ và một
người làm thơ. Và chúng ta có một tiếng thơ khá độc đáo.
Lần theo những trang thơ, người đọc biết rằng Phạm
Tiến Duật đã đi nhiều nơi lắm. Trong văn học, từ việc sống đến việc viết, có
nhiều cách thức khác nhau. Có người đi rất nhiều nhưng chỉ cốt nắm lấy không
khí, cái “thần”, chung
nhất của khung cảnh. Đọc những trang viết của họ, nhiều khi thấy ánh lên một
cái gì rất mới mà không bao giờ có địa chỉ rõ ràng. Phạm Tiến Duật không như
thế. Anh đi đến đâu, anh gặp những ai, ta dễ đoán biết. Anh muốn mang vào trong
thơ cả những chi tiết bộn bề như văn xuôi: những chuyến xe bom giật, bom rung
vỡ kính; những đêm «cao xạ thình thình điểm đầu
canh ba»; khu vực kho một ngày 17 trận bom Mỹ dội. Gợi ý cho bài thơ của anh là
một cái cặp tóc ai để quên trên cỏ, tiếng đuổi
gà của bà mẹ khi lúa chín trên đồng. Đọc thơ như được cùng anh vào một cuộc đi,
xa xôi và đầy hứng thú. Mọi thứ đều được anh chăm lo, chí chút. Lúc nào anh
cũng giữ được một thứ ngạc nhiên, một niềm say mê “say miền đất lạ” rất tự
nhiên. Tuy vậy, đó chỉ là cách viết. Điều quan trọng là thơ Phạm Tiến Duật
không bó hẹp trong những người, những cảnh cụ thể. Mọi người khác, ở những đơn
vị khác, đều có thể tìm thấy ở thơ anh một sự thông cảm. Một mặt, anh không
muốn đơn giản, sơ lược. Như một người chứng kiến nghiêm chỉnh, anh nói khá đầy
đủ về những vất vả đến với mỗi chúng ta trong cuộc chiến đấu. Mặt khác ảnh nói
rõ những cái đó, nhưng không làm chúng ta băn khoăn do dự, mà ngược trở lại,
một tiếng cười giòn tan cất lên, với tất cả sức trẻ của mình, chúng ta đã vượi
qua mọi gian khổ. Người chiến sĩ trong thơ Phạm Tiến Duật vừa thực vừa đẹp một cách lạ lùng. Dù có thế nào,
vẫn không có chuyện gì về tất cả những người ở đây hết. Những xa cách «Trường
Sơn đông Trường Sơn tây» không làm cho ai buồn.
Trong cái đêm bom rung vỡ cả mái ngói, người chiến sĩ vẫn ung dung ngủ lại với
gió sông Lam. Phải lạc quan lắm mới có được một giọng thơ như trong bài Qua một mảnh trời thành phố Vinh ấy!
Càng đi vào những miền trọng điểm như Seng Phan, «tiếng bom như tiếng thú» nghe
lại càng nhỏ. Và hơn thế nữa, không những ung dung tự tin, người chiến sĩ còn
tìm được những niềm vui ấm áp. Anh không bỏ qua một đàn bươm bướm trên lèn đá,
một câu hò trong đêm bốc vác rộn ràng.
Biết tiếng hát trong rừng “nhịp với phách xem chừng sai cả” anh vẫn lắng nghe. Một tình thương mến bao trùm.
Thương
em, thương em, thương em biết mấy.
Trong bài Gửi
em, cô thanh niên xung phong, tình cảm giữa hai nhân vật rất tiêu biểu của
cuộc chiến đấu của chúng ta, của anh bộ đội và cô thanh niên xung phong, được
biểu hiện thật lành mạnh mà thấm thía, đậm đà. Ở các bài khác Khi em qua đèo, Nghe em hát trong rừng
cũng vậy.
Tất cả những tâm tình chiến sĩ ấy là rất phổ biến,
nhưng lại mang một dáng vẻ riêng của Phạm Tiến Duật. Anh hóm hỉnh nghịch ngợm
mà đôn hậu thương yêu. Anh dễ dàng sao trong việc làm thân trò chuyện với mọi
người! Và không chỉ có vui, anh còn có dụng ý muốn mang tới chúng ta những suy
nghĩ khái quát. Chuyện các cô gái lái xe: niềm tin có thật trong cuộc chiến
đấu. Nói về các lứa tuổi kế tiếp nhau trong trưởng thành là bài Khi em qua đèo. Về mặt này, bài thơ dựng
cảnh Vầng
trăng quầng lửa khá tiêu
biểu. Trong ánh chớp nhoáng nhoàng của bom đạn, tiếng hát vẫn cất lên, mọi dấu
hiệu của sự sống vẫn nảy nở. «Và vầng trăng, vầng trăng đất nước vút qua quầng lửa vụt lên cao» -
Như là có một thoáng tượng trưng, nửa thực nửa hư. Sống với khung cảnh ấy,
những ý nghĩ về dân tộc, về đất nước, về chiến thắng như cùng trở về trong ta.
Sức thuyết phục của bài thơ là ở cả một không khí được gợi lên khá trọn vẹn.
Không phải ngẫu nhiên, trong những năm chống Mỹ, thơ
Phạm Tiến Duật thường được mọi người nhắc nhở. Đó là một tiếng nói trẻ, thứ
tiếng nói mới trong thơ. Người làm thơ này bao giờ cũng coi bài thơ là một kiến
trúc. Anh chọn được tình thế đáng nói. Anh biết nói một cách đặc biệt, thường
lướt qua những chỗ lặt vặt, giành bất ngờ cho cái chốt chính, cái kíp nổ của bài thơ. Đọc thơ anh, dễ có những thoáng giật
mình: sao có những điểm thi vị thế này mà không ai nhìn ra! Riêng cách đặt câu,
dùng chữ trong bài đã chứng tỏ Phạm Tiến Duật là một người làm thơ có nghề
nghiệp vững chãi đến độ dám đi ra khỏi một số khuôn sáo thông thường. Về mặt
giọng điệu, nếu xưa nay thơ của nhiều người như một tiếng hất, thì Phạm Tiến Duật làm cách khác: Anh muốn trò chuyện với
người đọc. Anh luôn luôn đi bên cạnh ta, thì thầm với ta điều kia điều nọ. Cách
viết này mang lại cho tác giả một lối đi riêng, hợp với sức viết đang độ khỏe.
Cái tài hoa, cái khéo léo tay nghề, là tương ứng với cách cảm, cách nghĩ của
anh và hai mặt đó gắn bó làm thành một phong cách thống nhất. Tại sao lại nảy
sinh và tồn tại phong cách đó? Từ những năm chống Mỹ, trong bộ đội ta đã hình
thành một lớp chiến sĩ mới, với cách sống, cách chiến đấu mới, dáng dấp tâm lý
mới, có phần kế thừa mà có phần phát triển so
với các thế hệ cha anh. Họ vẫn đọc những bài thơ của các nhà thơ lớp trước.
Nhưng họ cần có tiếng nói của mình trong văn học. Thơ Phạm Tiến Duật là một
trong những tiếng nói đó. Có điều
không nên cường điệu, coi thơ Phạm Tiến Duật là một mẫu mực, hơn nữa, một mẫu
mực duy nhất cho tiếng thơ của cả thế hệ cùng tuổi
với anh. Trên cái nền phát triển rộng rãi về mọi mặt của
xã hội miền Bắc từ sau 1954, người chiến sĩ của chúng ta đã
trưởng thành vượt bậc, với rất nhiều vẻ khác nhau. Để nói lên tiếng nói của họ, cần nhiều tiếng thơ khác
nhau. Chỉ có thể nói Phạm Tiến Duật là một tiếng thơ trong đó với nghĩa nó có
những chỗ mạnh chỗ yếu nhất định. Chỗ yếu quan trọng trong thơ Phạm Tiến Duật
là bề ngoài bao quát được một hiện thực nhiều mầu sắc, song vẫn có cái vẻ đơn
điệu của nó. Đây đó, một vài bài thơ dường như chỉ khác nhau về đề tài, về
khung cảnh, về cách nói, mà ý tứ thì lặp lại. Thực tế lớn lao quá! Có lúc, tác giả như bị ngợp: Anh chỉ kịp làm những
đoạn “ống kính chụp nhanh» mà chưa có sự cảm thụ và
chuyển hóa sâu sắc. Thường khi anh chạy theo những
thay đổi ở bề ngoài khung cảnh mà quên lắng nghe đúng
mức về những phản ánh, những vang vọng của mọi thay đổi đó trong lòng, để sự
kiện có dịp hòa cùng nhịp điệu với lòng mình. Cũng như nhiều người viết trẻ
khác, một số khái quát ở Phạm Tiến Duật hoặc không sáng rõ, hoặc rơi vào chỗ
đơn giản, sơ lược. Niềm vui mà anh gợi lên có phần dễ dàng, nhưng lại chưa thật
sâu lắng. Say miền đất lạ, anh đâm ra sa đà vào những cái ngồ ngộ, kỳ lạ, rồi
tự bằng lòng, cười đùa vui vẻ mà không thấy hết những cái mới cơ bản trong
khung cảnh và trong lòng người. Trong đời sống cũng như trong văn học, kinh nghiệm
cho biết chưa bao giờ những cái ngồ ngộ đó có khả năng biểu hiện những điều
quan trọng nhất. Cũng như về mặt cách viết, khi nào cố làm ra vẻ đơn giản, Phạm Tiến Duật lại rơi vào một sự sắp xếp, thành ra một thứ sáo mới, muốn làm duyên hơn là có duyên thật sự. Lẫn với cái thô mộc chân chính;
một đôi khi sự qua loa cầu thả đã xuất hiện trong thơ anh.
Bấy nhiêu chỗ yếu chỗ mạnh nói trên cố kết lại hữu cơ
trong thơ Phạm Tiến Duật. Anh là người có bản sắc mạnh mẽ, bản sắc không giống
ai, nên rất khó thay đổi. Mà có thay đổi, thì vẫn là đổi mới
trong cung cách của mình. Cho nên, hơn cả những đóng góp cụ thể, nên tìm ở thành công của anh một ý nghĩa khái quát:
Nó là một bằng chứng xác minh thêm cái phương hướng lớn, phương hướng đi vào
đời sống của nền văn nghệ mới. Thực tế dân tộc ta nói chung, thực tế bộ đội ta
nói riêng là nguồn cảm hứng vô tận đủ sức nuôi dưỡng những tài năng lớn và khác
nhau. Đó là điều lâu nay chúng ta vẫn nói. Đặt trong cái toàn cảnh đó, thơ Phạm
Tiến Duật mới là một trường hợp, một thí nghiệm.
Triển vọng của nó ra sao còn tùy thuộc ở sự phấn
đấu của riêng người viết. Nhưng có điều chắc chắn: khi được phổ biến, ngay từ
bây giờ nó đã là một gợi ý, một kích thích tốt cho những tiếng nói bằng thơ
khác đang tiềm tàng trong lớp người trẻ tuổi đang cầm súng.
1971
MỘT CUỘC GẶP GỠ ĐỀ LẠI NHIỀU CẢM
TÌNH
(Đỗ
Chu và tập truyện ngắn PHÙ SA)
Người đọc văn Đỗ Chu mới đầu dễ có cảm tình từ lời
văn, nhịp điệu. Văn Việt Nam vốn khó viết, hình như có một thứ quy luật nào đó
mơ hồ và khắc nghiệt đầy người viết đi. Tránh trúc trắc, nếu không khéo, người
ta lại sa vào biền ngẫu ngay. Cái duyên của câu văn, cách bố tríkhi dài khi
ngắn, âm điệu bằng trắc thế nào, Đỗ Chu gần như có được từ bản năng. Những
truyện Đường qua nhà, Mùa cá bột xinh nhỏ như một bài thơ, đọc
xong lại muốn đọc lại.
Trong cách nhìn nhận, suy xét cuộc đời ở Đỗ Chu luôn
luôn lộ ra hai khía cạnh song song: thơ mộng và tinh nghịch. Khi dựng truyện
vẫn thấy một Đỗ Chu như thế. Với giọng điệu riêng mang âm sắc trữ tình như hiện
nay, những truyện trong Phù sa không
ly kỳ, phức tạp, nhưng thông thường vẫn là nhiều bình diện. Đỗ Chu thích cho
nhân vật xưng tôi và chính Đỗ Chu đứng ở góc độ tôi đề mà kề lễ cùng bạn đọc
những điều gần như kỷ niệm. Cách thức bày xếp, điều khiền nhân vật cũng khá gọn
gàng. Giọng văn giữ được dáng vẻ riêng, dẫn người ta vào không khí của khung
cảnh.
Nhưng nhiều trang Phù
sa gắn bó với chúng ta trước hết là ở những ý tình đây đó. Con người này
biết rung động với nhiều biến thái nhỏ trong cuộc sống. Đọc truyện, ta thấy cần
sống đầy đủ hơn trong mọi bước đường mà ta vốn dễ dàng bỏ qua. Rồi từ đó, lòng
yêu đời yêu người, những khẳng định về chế độ mới, một niềm tin vào công việc
thường nhật chung quanh, những cái đó sẽ mơ hồ và nhen nhóm lên, lâu bền, dai
dẳng.
Từ truyện ngắn đầu tiên Hương cỏ mật, bạn đọc đã thấy một sắc thái riêng trong chất văn Đỗ
Chu. Trước cách mạng, một số nhà văn quen thuộc nông thôn đã miêu tả khá nhiều,
khá nổi những nét sinh hoạt của bộ phận lớn nhất của dân tộc ta sau lũy tre
xanh. Tình hình hiện nay có khác. Văn học ta phải chú trọng đặc biệt đến bộ mặt
tinh thần, những sự kiện chính trị lớn ở nông thôn, từ kháng chiến đến hòa
bình, qua cải cách ruộng đất đến thành lập hợp tác xã. Trên bối cảnh đấu tranh
xã hội, các nhân vật bao giờ cũng hiện ra trước hết như đại diện của một lực
lượng giai cấp tham gia những xung đột quyết liệt với những vị trí rõ ràng.
Người viết ít chú ý miêu tả những nét sinh hoạt mới. Những cái mà các nhà văn
khác chỉ coi là đường viền, với Đỗ Chu, được nâng lên thành mạch chính. Anh say
sưa cùng những cô bé, cậu bé chăn trâu làm cỏ mật, thứ sợi cỏ rất thơm, rất dài, rất óng. Anh dẫn ta
trở lại con đường làng đi mát lạnh cả
gan, bàn chân. Có nhiên, rồi người ta vẫn thấy chỉ ở miền Bắc những năm gần
đây mới có những câu chuyện kiều Hương cỏ
mật: những cuộc gặp gỡ sau thời gian dài kháng chiến, mất mát bao nhiêu
nhưng hạnh phúc dần dần trở về; hạnh phúc đến cả với những người như cô giáo
Nhâm vốn là không may mắn lắm. Đám cưới
tiến hành không vội vã, không ồn ào, rất giản dị mà ấm cúng. Chỉ những người có hạnh
phúc thực sự mới cưới nhau như thế. Về mặt hình thức câu chuyện mà nói, Hương cỏ mật có vẻ không chặt chẽ: người
viết cứ kề lan man, và nếu người đọc cứ bị lôi đi thì đó cũng là chỗ mạnh chỗ
yếu của bản thân văn Đỗ Chu hồi ấy. Sau này, anh còn viết nhiều truyện khác,
chặt chẽ hơn như Mùa cá bột, tinh nghịch và phức tạp hơn như Gia đình những người đi xa, nhưng cái
duyên của Đỗ Chu với bạn đọc, cái truyện Hương
cỏ mật kia vẫn như một thứ kỷ niệm ban đầu không dễ gì quên được.
Sau Hương cỏ mật,
nhiều truyện khác của Đỗ Chu đều đan đi đan lại giữa hai đề tài nông thôn và bộ
đội. Hầu như chưa có gì thay đồi, ngòi bút ở đây vẫn là tiếp tục tự phát hiện
mình. Những kỷ niệm về kháng chiến còn in dấu vết qua từng hoạt động hiện tại,
làm cho người ta phải suy nghĩ thêm về những ngày đang sống. Hết cái tuời
nghịch, nhưng những ấn tượng nguyên vẹn trong đầu óc vẫn tạo nên sinh sắc cho
những lời kề về lũ trẻ trong Thung lũng
cò. Có lúc lại thấy cây bút trẻ Đỗ Chu khôn lớn hần lên, bàn đến những
chuyện lớn rộng như trong Mùa cá bột. Nhân vật Đá tưởng lấp lửng mà thật rã
được bồi đắp qua nhiều đoạn hồi ức đứt nối khác nhau, là một nhân vật khá đẹp
và trọn vẹn. Cả truyện cũng như tiếng con le le lảnh lót dồn dập trong một đêm
mưa, tưởng không có gì mà ngân vang trong lòng người đọc. Sang Chiến sĩ quân bưu giọng kề của Đỗ Chu
vẫn có về lan man, so với Hương cỏ mật
còn lê thê dài dòng hơn, nhưng vẻ duyên dáng thì không vì thế mà sút giảm. Chỉ
vài ba câu Đỗ Chu dựng lại được không khí phố huyện, đoạn tả mối tình giữa Lầm
và Mận cũng khá hồn nhiên, phù hợp với cái thuở gặp gỡ ban đầu ngỡ ngàng mà sâu
sắc, nửa thực nửa hư, khiến những người trong cuộc cũng không dám tin là liệu có thực? Hoặc là cảm giác của
anh con trai: mình vội nắm lấy bàn tay cô
bé, mềm mại và ấm như một chú mèo con. Hoặc là lối tỏ tình của cô kia: Anh Lầm đi đi! Em mà không gửi thư cho anh
thì em cứ chết. Cũng như cỏ mật trên vòi voi trước đó, bây giờ Đỗ Chu lại
kề rất có duyên về rong đuôi chó, về việc bói hoa mua đất. Lấp lánh qua từng
trang sách là những chi tiết ấy, nó như lá như chồi làm nên màu xanh cây cối.
Lầm trông máy bơm nước, Mận là kiện tướng thủy lợi được thưởng áo bông - bấy
nhiêu thứ bắt vào truyện khá liền mạch, gắn những nét tâm tình, sinh hoạt với
cuộc sống mới, những thay đồi mới. Bài học tư tưởng cuối cùng ở Chiến sĩ quân bưu được thực hiện hơi lộ
liễu; nhưng có một điều đến với chúng ta lặng lẽ mà rõ rệt hơn, đó là một quan
niệm mới về hạnh phúc: hạnh phúc thật giản đơn, hạnh phúc có thề đến ngay trong
mọi công việc bình thường, miễn việc đó có ích cho những người khác.
Có một chút gì cách quãng giữa bốn truyện đầu với
những truyện sau này. Ở những người viết trẻ vốn có những bước «tự đi tìm mình
như thế. Chân trời chiếm một số trang
khá dài, bằng hai lần số trang một truyện trung bình trong tập. Chân trời theo dõi bước đi của một cô
gái đang tìm đường, có lúc chính cô phải vượt qua những kỷ niệm ấu thơ đẹp đẽ,
mơ màng để đến với những điều mình tin là đúng. Đỗ Chu trở về với những gì mình
đã quen thuộc: những người học sinh hăng hái xốc nồi một cách đáng yêu, cuộc
sống của một thị xã trung bình và những gia đình bình thường ở đó. Những trang
viết về bộ đội lấy gỗ, cô Chi đi làm rừng có nhiều hơn thì cũng chưa át được
không khí những đoạn mà nhân vật Chi kề chuyện mình ở thị xã, Truyện tãi ra có
phần lễnh loãng, sức người viết chưa bao quát hết được những cái anh đưa vào, có nhiều chỗ phải dựa vào thông minh
đưa đầy đi, hơn là có một rung cảm bên trong, thực sự. Rốt cuộc, cái chủ đề tư
tưởng Chân trời còn thiếu sức thuyết
phục, nhân vật Chi chưa thành một người cán bộ chững chạc sau bước chuyển biến
của mình. Tất cả chỗ yếu của Đỗ Chu đã thấy lô rõ.
Gia đình
những người đi xa đi theo hướng khác. Nói là hậu phương vốn là một cách
đi vào đề tài chống Mỹ. Và dụng ý của Đỗ Chu nằm ở một quan sát: chiến tranh
làm cho người ta xích lại gần nhau hơn. Những người chiến sĩ ra đi rồi, gia
đình họ ở nhà thương yêu đùm bọc nhau, làm thành một gia đình lớn. Câu chuyện
bắt đầu ở chỗ đáng phải kết thúc, ngày càng rút vào kỷ niệm, rút vào xa xưa,
người đọc bị dẫn đi ngược dòng thời gian, những sự kiện quá khứ, con người quá
khứ được dựng lên y như trong hiện tại. Hơn nữa đọc Gia đình những người đi xa lại thấy thêm một cách Đỗ Chu đi vào
nông thôn. Những chuyện kề lâu nay về Bắc Nịnh – xứ Kinh Bắc xa xưa - được anh
làm sống lại: những đám kéo thuyền trên sông mòn mỏi, ông già với bầy kến cô
chẹn vòng đồng chuyên môn bắt cá; nếu không còn những ngày hội quan họ như ngày
xưa thì lại có những đêm gặp gỡ giữa bộ đội và các cô gái trong làng: Em cũng
xin có một bài Người ơi người ở đừng về đấy ạ. Rồi sau này, Đỗ Chu còn viết Phù sa, trong đó có con sông Cầu bốn mùa
nước trong và hiền lành như một cô con gái, cái làng Hà làm đồ gồm những lò
nung hình con cóc nằm bên bờ sông. Hòa tan trong tất cả là một tấm lòng thương
yêu đất nước hồn nhiên. Gọi ra thì hơi quá, nhưng đó chính là cái nền dân tộc,
những nét bản sắc quê hương, vốn là một yêu cầu rất cao đối với tất cả những
người làm công tác văn nghệ.
Như thế, ý định của Đỗ Chu đi từ truyện ngắn đến những
truyện dài hơn đã rõ ràng. Quả thật, anh còn phải cố gắng rất nhiều, cả hai
truyện Chân trời và Gia đình những người đi xa nếu có thành
công mặt nọ mặt kia thì cũng chưa thực sự đạt được mục tiêu mà anh mong muốn.
Lý do chủ yếu thì không gì khác là ở vốn sống của anh, là phạm vi hiện thực mà
anh bao quát. Anh chưa vượt xa khỏi những đường mòn kỷ niệm trong mình. Anh
chưa có nhiều việc và chưa có nhiều người. Đúng là cần nhiều người, những điền
hình xã hội khác nhau, bởi cái quyết định các sự kiện cuối cùng phải là nhân
vật.
Mới đọc những truyện trên đây, thấy Đỗ Chu nói đến lắm
tầng lớp lắm. Có những ông già bảy mươi tám mươi thuộc thế hệ trước, có những
em bé mười một mười hai. Có anh bí thư chi bộ, anh nhân viên bưu điện, đồng
chíchính trị viên, và có cả ông chính ủy tuổi già con rề là đại đội trưởng cũng
trong trung đoàn đó. Nhưng sự thật chưa có nhân vật nào đủ hình đủ bóng, chưa
có con người nào khả dĩ vượt khỏi trang sách chuyện trò cùng chúng ta. Nếu đôi
lúc Đỗ Chu có nhặt nhạnh được dăm ba câu nói đúng người đúng tuổi, có bắt chộp
được vài hành động cử chỉ tỏ rõ cái thần của từng người, thì những cái đó chưa
ngưng kết được thành những tính cách, bởi hoạt động tâm lý chưa bật lên thành
cá thể có linh hồn riêng. Giống như sự kiện và con người trong các bài thơ,
những nhân vật được khai tên khai tuổi ở đây chỉ đề nói lên đời sống nội tâm
của chính người viết.
Có thể nói rằng nhân vật duy nhất trong các truyện
ngắn từ trước đến nay của Đỗ Chu chính là bản thân tác giả. Đó là Tuân trong Hương cỏ mật, Lầm trong Chiến sĩ quân bưu, Chi trong Chân trời, Miên trong Gia đình những người đi xa và nên kể
cả hai nhân vật trẻ trong Thung lũng cò:
Vịnh híp và Tịch mốc. Cách biểu hiện và mức độ tuy khác nhau nhưng các nhân vật
đều giống nhau ở chỗ vừa thơ mộng, vừa tinh nghịch. Cứ mơ hồ tản mạn khắp nơi
mà lại thể hiện được cái chất riêng của Đỗ Chu còn là không khí trong truyện.
Cùng với anh, ta cảm thấy mùi lá đay ngửi thật dễ chịu, đêm trên mặt sông im
lặng và đầy âm thanh. Tất cả các câm giác đều được huy động, những điều vốn
mong manh dễ vỡ bỗng trở nên có hình hài cụ thể, những giây phút bình thường ở
mọi người được sống lại tinh tế hơn. Sau khi đã có cái cốt chủ đề tư tưởng, lại
mượn những thoáng cảm giác để làm nên máu thịt cho sáng tác của mình, truyện Đỗ
Chu hiện nay có một sức hấp dẫn nhất định. Và mặc dầu chỉ có một nhân vật, một
tâm tình, nhưng trong phạm vi một tập truyện đầu tay nó vẫn là một cái gì non
tơ dễ thương, chưa đến mức lặp lại quá quắt.
Dường như cũng biết những ưu điềm sẵn có, có khi trong
quá trình tìm tòi quanh quần, Đỗ Chu trực tiếp trở về với mình. Về nhiều phương
diện, Đường qua nhà và Thành phố bên kia cầu không giống những
truyện Đỗ Chu đã viết từ trước. Nhưng nếu chê hai truyện này thì cần phải chè
toàn bộ Phù sa vì đó chính là những
truyện chính cống Đỗ Chu với cái chất Đỗ Chu được chất được cô lại. Không khí
gia đình dịu ngọt, một người bạn gái, thế là đủ chỗ đề cho Đỗ Chu tự thể hiện. Một cơn mưa chạy thoáng qua như một tiếng
thì thầm trìu mến. Tàn bàng trên đầu kêu rào rào... Đã nghe thấy tiếng nước tuôn từ phía trên xuống các tàu lá dưới thấp.
Cứ xem đoạn tả mưa ấy thì biết con người này dễ rung cảm với thiên nhiên lắm!
Và tình cảm anh lại phát triền lên với những
trạng thái tâm lý nước đôi rất khó giải thích. Cái tháp chuông nhà thờ hệt như một cái chấm than, mỗi lần gặp lại, anh đều
tìm thấy thêm một vẻ mới mẻ ở cái hình dáng cũ kỹ của nó; câu chuyện giữa
đôi bạn trẻ được tiếp tục một cách vừa
thanh thản vừa khó nhọc. Có vẻ lắm thứ như thế, nhưng rồi Đỗ Chu sẽ hiện
nguyên hình khi trở về bên mẹ. Ấy là một người đàn bà giàu tình cảm, mà cũng
giàu nghị lực, có vẻ còn hơi mê tín, cu cũ một chút, thực ra hiểu biết, yêu con
mà khéo dạy con. Cô giáo Nhâm ngày trước, người mẹ cậu Miên đã quy tụ lại đây,
làm thành một nhân vật chủ yếu trong văn Đỗ Chu hiện nay.
Về khung cảnh chung, từ Chân trời, Gia đình những
người đi xa, thấy Đỗ Chu hay nói đến thị xã, phố huyện. Một ông thợ vẽ sơn
thủy một túp lều gianh ẩn dưới bóng một
cây cành lá rườm rà, không ra cây đa mà cũng không ra cây đề; một cậu bé
bán kem – có một cái gì nhỏ nhoi, đìu hiu trong cảnh vật đó. Cái thành phố bên
kia cầu mà Hội đi lấy thư, thực ra cũng chưa thoát được không khí một thị xã
như thế. Bao giờ Đỗ Chu cũng dồn những tình ý đẹp nhất, bất ngờ nhất cho đoạn
kết câu chuyện. Có những nhận xét riêng, những triết lý nho nhỏ cứ cài chen đây
đó giữa nhiều trang Phù sa. Thuộc
loại như thế, ở cuối Thành phố bên kia cầu là phát hiện bâng quơ Quê hương chúng ta là những xóm nhỏ, những
cánh đồng, và nếu là thành phố thì những thành phố ấy thường nằm trên bờ sông
có nhịp cầu thân thuộc bắc ngang. Từ đầu đã nói Đường qua nhà và Thành phố
bên kia cầu có dáng dấp những bài thơ là với nghĩa đó.
Được sắp, đầu tiên, nhưng Phù sa là truyện viết muộn hơn của Đỗ Chu. Về mặt dựng truyện, Phù sa trở lại một cái gì bình thường như những truyện đầu tiên, không nghịch
ngợm như Gia đình những người đi xa,
không như Đường qua nhà giàu chất thơ
chắt lọc. Từ Gia đình những người đi xa,
Một trận đánh lịch sử (VNQD 1-1967), Đỗ Chu đã có phần đi trực tiếp hơn vào đề
tài chống Mỹ. Cả nước đang ở thế hành quân vội vã. Âm vang tiếng súng nơi mặt
trận vọng lại khiến cho những câu chuyện hậu phương cũng không còn quá bình
thản nguyên lành. Có cuộc ly biệt nào xưa kia giống như buổi tiễn người đi bộ
đội ở cuối Phù sa được. Bến sông bỗng trở nên nhộn nhịp như những
năm trước đây, vào tháng giêng, khi làng bước vào đình đám. Nếu tuổi tác có
làm cho người bà của Hạnh Nguyễn «nước
mắt trở nên giàn giụa hơn » thì rồi chính bà cụ cũng nói một câu tha thiết «Nhớ là phải về » tin tưởng mong chờ như
tất cả mọi người khác. Như là một cách điệu riêng, những niềm vui trong văn Đỗ
Chu thấp thoáng mơ hồ mà tỏa lan đây đó. Dụng ý ca ngợi cái đẹp của cuộc đời,
ca ngợi chế độ mới toát ra thật hồn hậu, tự nhiên. Không được nói ra trực tiếp,
nhưng những sự kiện lớn của nông thôn, của thị xã, của năm mười năm qua đều có
bóng dáng. Đi vào những mạch tâm tư vốn ần kín như mạch đất sa bồi bên kia
sông, anh muốn tìm đến những gì còn «uẩn tàng sâu xа» ở
mỗi con người. Những nhà văn cũ, với con mắt và kinh nghiệm của mình, có thề
viết được những trang hay hơn, sâu sắc hơn, nhưng quyết không thể đẹp và trong
sáng giống như thế.
Những nhược điểm hiện nay của Đỗ Chu thuộc về tuổi đời
và kinh nghiệm sống. Nhiều truyện viết kha khá của một số bạn trẻ chúng ta phần
nhiều dựa vào kỷ niệm men theo những chuyện gia đình nhà cửa, vốn là những cái để lại dấu ấn sâu đậm nhất
trong lòng họ. Ai cũng biết đó là quy luật tự nhiên ở nhiều người mới viết,
nhưng dẫu sao, càng ra thoát được sớm thì càng hay. Xem ra thì thấy từ truyện
đầu đến các truyện sau, bước tiến của Đỗ Chu chưa phải dài rộng lắm. Kỷ niệm
mãi rồi cũng hết, không khéo sẽ rơi vào chắp vá, bịa đặt. Nếu chỉ tiếp tục cái
mạnh duy nhất là sự tinh tế, trong quan sát, anh vẫn quyến rũ chúng ta đó, nhưng
rồi mãi cũng sẽ nhàm. Đã có những dấu hiệu báo động của một bệnh nguy hiểm nhất
với người viết văn: bệnh lặp. Con đường đồi mới của anh không phải là đào sâu
mãi vào trong mình, đề đến nỗi có khi chỉ là khoe chi tiết. Cái chính là ở anh
cần có nhiều việc nhiều người mới. Cuộc sống trong Phù sa đẹp, đúng là hiện thực ở xã hội ta. Nhưng tác giả của nó
chưa đặt được những vấn đề chưa phanh phui được những quan hệ xã hội chủ yếu,
nó là cái động lực bên trong thúc đầy mọi bước đi của miền Bắc mấy năm qua, rồi
từ đó mới kéo theo sự biến chuyền ở tất cả các mặt khác. Cả tập Phù sa cơ hồ như không có chuyện. Tất cả dường như đã tốt sẵn như
thế, con người ít nhiều như bị cắt rời khỏi quá trình và điều kiện hình thành
chung quanh mà dồn cả vào những niềm sâu xa bên trong cho nên cái đẹp cái tốt
trong họ vừa thuần lành, lại như một cái gì sẵn có, rất khó cắt nghĩa một cách
rõ rệt. Còn khi phải viết về những gì trước mắt như những cuộc chiến đấu. Đỗ
Chu chưa có những thành công tương đương. Một
trận đánh lịch sử không in vào đây là một thí dụ. Nghiêm khắc mà nói, cái
nhìn đằm thắm thương yêu của một người sáng tác chưa đi đôi với một sự từng
trải nhạy bén chính trị của một chiến sĩ đề hợp với yêu cầu cách mạng đang khẩn
trương, Trong việc hình thành một người viết văn, vốn sống và vốn chính trị đan chéo nhau như
những sợi dọc sợi ngang của một tấm vải, thiếu một thì thiếu cả hai. Hướng tiến
lên của Đỗ Chu chính là khắc phục dần sự thiếu thôn đó. Những điều mà một số
anh em trẻ khác ước ao, nhạy cảm, năng khiếu - anh đã may mắn được cuộc đời ưu
đãi ít nhiều. Nhưng anh chỉ có thể khẳng định mình khi vượt sang giai đoạn thứ
hai, tức là có khả năng biến cải và nảy nở,
1968
TỪ CỬA SÔNG ĐẾN
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH
Nguyễn Minh Châu cho in những truyện ngắn đầu tiên khi
anh đã ở vào tuổi ba mươi. Một trường hợp vào nghề hơi muộn. Nhưng có lẽ những
năm tháng trước đó là thời gian anh tự chuẩn bị. Bởi khi bắt tay viết, anh có
ngay được cái sức lực, cái dẻo dai của một người trường vốn. Bước đi “điển hình” đối với một số người viết khá là: tác phẩm đầu tay ửng lên những sắc thái năng khiếu, nó là
phần tài hoa thiên nhiên, kết hợp với một sự bùng dậy của nội dung vốn sống.
Thế rồi từ đó, anh ta kỳ cạch đi - viết, đi đến đâu viết đến đấy, những cái sau
không kém thì cũng không mấy khi vượt qua những cái đầu tiên. Trường hợp Nguyễn
Minh Châu hình như ngược lại. Thời gian 1960-1964, anh viết một ít truyện ngắn,
bút ký, chỉ những người theo dõi kỹ mới để tâm
trông đợi. Ký, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (sau này một số tập hợp lại trong Những vùng trời khác nhau) không chỉ có
giá trị tự thân, mà còn hàm chứa một hứa hẹn. Như một người làm báo, Nguyễn
Minh Châu nói đến nhiều chuyện, nhiều mảng sống khác nhau. Về mặt bút pháp, mỗi
tác phẩm bé nhỏ đó cũng có những biến hóa nhất định.
Nên chủ yếu, có thể xem một ít bài viết này như là những thí
nghiệm, những sự thăm dò. Ở một số
người viết, vẫn có tình trạng như vậy, chỉ cốt cái bước đầu tiên này đừng kéo
quá dài, và người ta phải sớm làm được một cái gì đây mà có thể công nhận thật
là của mình, từ đó xem xét mình một cách công tâm lấy làm chỗ dựa để đi tiếp. Có những bước ngoặt mà mỗi người phải cố dấn
lên một chút hoàn thành, nếu không anh cứ đứng mãi ở cái bờ bên này mà trông
sang bờ bên kia, hối hận, tiếc xót.
*
Chính Nguyễn Minh Châu cũng coi quyển sách vào nghề của mình là quyển Cửa sông.
Hồi ấy là vào những ngày đầu năm 1965. Tác giả về một
vùng du kích cũ... Thoạt nhìn ở đây, kỷ niệm kháng chiến được nhắc tới không
phải nhiều lắm. Về phía nào đó, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu mang tính chất
thời sự rõ rệt - anh nói ngay về những sinh hoạt ở một xóm nhỏ
bình thường khi bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại. Có điều,
chủ yếu đọc Cửa sông vẫn bắt gặp cái
không khí đồng bằng, nơi tác giả đã ở lâu, trong thời gian chống Pháp. Và tác
giả thuộc nó, thuộc đến nỗi chỉ cần một ít dòng là anh dựng được một tính cách,
chỉ vài ba nét tả là ra một khung cảnh. Với cả người viết lẫn người đọc, các
nhân vật Cửa sông, nằm trọn trong
những cốt cách quen thuộc. Một cô giáo dịu dàng, nghiêm chỉnh. Một người mẹ
địch hậu tốt bụng, cần cù. Một cán bộ cơ sở vững chãi. Họ vừa có gì mộc mạc,
dân dã, lại vừa là những con người mới, trải qua chín năm kháng chiến và gần
mười năm hòa bình, cái mới Cách mạng mang lại trong họ nhuyễn chín, thành những
phẩm chất bền chắc. Bởi vậy, bước vào những thử thách mới, mỗi người vẫn lòng đầy tin tưởng, tin tưởng đến độ bình thản. Nếu có
lúc nào đó, một người như cô giáo Thùy có suy tư tới những điều sâu xa, thì
cũng là những ý nghĩ trong sáng sau đây:
Mỗi
tấc đất, mỗi con người quen thuộc mà mình từng chung sống, từng dạy dỗ con cái
họ đều có một cuộc đời gắn liền với lịch sử đất nước đầy thử thách. Mỗi người
đều mang trong lòng bao điều tốt đẹp mà mình có thể học hỏi có thể khám phá
suốt đời không hết, để tìm hiểu
nhân dân mình.
Đúng ra, đấy là cái điều mà tác giả thể nghiệm và lấy làm cảm hứng chính cho hơn hai trăm
trang sách của mình.
Tính đến cùng, mỗi tác phẩm văn học biểu hiện một phía
nào đó không khí thời buổi mà nó xuất hiện. Với
Cửa sông, có lẽ không có gì gượng gạo nếu nó thuộc loại tác phẩm biểu hiện cái
phía bình thản, cả quyết của đời sống giai đoạn 1965 - 1966 đã đi vào lịch sử.
Có những điều mà hôm nay chúng ta biết nếu ai viết thế, sẽ bị coi là đơn giản,
sơ lược, nhưng bao giờ đọc lại cũng vẫn được chấp nhận. Vì đó là những ý nghĩ
của rất nhiều người trong một thời điểm nhất định - tất cả chúng ta hôm qua đều đã nghĩ thế. Cái không
khí chân thực, nó là cái điều quan trọng nhất của một tác phẩm, nó giữ mọi chi
tiết, mọi bộ phận trong cái thế vững chãi có thể
có.
Riêng đối với đời văn của Nguyễn Minh Châu, Cửa sông ghi nhận bước đi ban đầu khá
chững chạc của tác giả. Rất chân phương, anh bắt vào được cái mạch văn chương
của một giai đoạn: tôi muốn nói về nhiều mặt, Cửa sông gần gũi với những tác phẩm trước đó, loại tiểu thuyết trên dưới hai trăm trang như Một truyện chép ở bệnh viện (1939) Đi
bước nữa (1950) hoặc những tập truyện ngắn ra cùng thời như Phù sa (1977). Bên cạnh những nét đặc
sắc riêng, dễ cảm thấy những tác phẩm này
vẫn có một cái gì đó thuộc về giọng điệu chung, chứng tỏ chúng đều là những sản
phẩm của một giai đoạn văn học; trong cái giai
đoạn kéo dài này, tuy lịch sử chuyển từ
hòa bình sang chiến tranh, nhưng nếp cảm nếp nghĩ của các tác giả, cũng như của
nhiều người trong chúng ta, vẫn là nằm trong một sự liên tục.
*
Bởi vì, chỉ sang tác phẩm
sau, điều Nguyễn Minh Châu mang lại đã khác đi.
Dấu chân người lính bắt đầu trích đăng từ tháng 4-1970. Nhưng không khí, vấn đề của nó là vào những năm 1967 - 1968, bốn năm sau thời gian của tiểu thuyết trước. Chỉ có bốn năm, nhưng như chúng ta
thấy, lịch sử đã sang trang. Bắt đầu thời gian của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy đồng loạt từ đó, mọi bước đi
của Cách mạng nước ta rẽ sang một bước ngoặt mới.
Như một tác phẩm văn học, điều dễ nhận ra là Dấu chân người lính tiếp được một không
khí chung, không khí chiến trường trong những năm tháng sôi động. Cả một khung
cảnh bề bộn ngổn ngang hiện ra ngay từ những trang sách đầu
tiên. Chúng ta bắt gặp nhiều bộ mặt, cảm nghe cái tiếng nói đám đông hết sức ồn
ào, nhiều người, nhiều việc:
Đông
đúc quá! Không có tài nào mà phân biệt hoặc đếm được có bao nhiêu đơn vị, cũng
không thể biết đây là đường rừng
hay là quảng trường, là rừng cây hay là rừng người và rừng súng đạn. Người ta chỉ biết là đông
đúc và chật chội, là hơi nóng của hơi thở và mùi mồ hôi người, là tiếng nói ồn
ào của cuộc sống, là đàn ông cần lao đang san một nửa tổ đi đánh giặc, là cơn giận dữ của đất nước lại một lần
cầm lấy súng.
Trong hơn tám mươi trang sách ở cái phần một Hành quân, không thiếu những đoạn ngòi
bút tác giả như vươn ra, cảm hứng đầy đặn muốn ôm trùm càng nhiều càng hay cái
thực tế phong phú với nhịp điệu biến chuyển linh động như vậy. Nó để lại những ấn tượng mạnh, đậm. Nó gợi lên cảm giác về
một cuộc sống quyết liệt trong những năm tháng chúng ta làm hết sức mình, làm
tất cả để đi tới cái mục đích cao cả: sống, chiến
thắng.
Các nhân vật của Nguyễn Minh Châu trong Cửa sông chủ yếu quanh quẩn trong cái môi trường quen thuộc là cái làng xóm
nghìn đời của mình. Các nhân vật trong Dấu
chân người lính đã đi xa, đã gặp nhiều người khác, đã làm nhiều công việc
khác, những việc mà ở nhà, họ không ngờ tới. Giọng điệu chính của Cửa sông là ấm áp hiền hòa, cả đến khi
cuộc chiến đấu bắt đầu, không khi vẫn là bình thản, lòng người lại càng bình
thản. Trong Dấu chân người lính cuộc
sống đã xao động hẳn lên, báo hiệu một cái gì đó, mạnh mẽ, dữ dội, thực tế hiện
ra với nhiều mảng khác nhau, có mảng mờ nhạt, nhưng có những mảng rực rỡ, óng
ánh. Cuộc sống như bị xô đẩy như phát triển về rất nhiều mặt, không ai có thể lường trước được ở
đó, nỗi vui và nỗi buồn đan chéo nhau, băn khoăn cùng hy vọng tiếp nối, hòa
hợp. Quả thật có ai ngờ chính ủy Kinh lại gặp người con trai ngáy giữa chiến
trường? Và nói rộng ra, miền rừng xa xôi nào đó lại là nơi hội ngộ của rất nhiều
người bạn mới, cũ? Nhưng một mặt khác, mối tình giữa Lượng và
Nết không thành, quan hệ Xiêm - Kiếm
cũng dang dở, không hiểu sẽ sum hợp hay sẽ xa
cách hẳn. Không thể còn nữa cái cảm hứng chung về hiện thực có
phần tĩnh, lặng, như trong Cửa sông...
Mọi người buộc phải thay đổi.
… Nhưng như thế là chúng ta
đã nói tới các nhân vật trong Dấu chân
người lính. Qua một số mẫu người, quan niệm của Nguyễn Minh Châu và thực tế
hiện ra đầy đủ hơn cả.
*
Họ tên là Lữ, Khuê, Hiền, Cận, Hoạt... Giữa đám người
khổng lồ trên đường hành quân những thanh niên
đó, và những cán bộ phụ trách Kinh, Nhẫn, Thái Văn... cũng đang đi mải miết.
Chúng ta dần làm quen với từng người. Có lúc hồi tưởng những kỷ niệm cũ. Có lúc
thủ thỉ bàn chuyện tương lai. Nhưng cái chính là họ
đang hăm hở đi, đi trên con đường cụ thể, cũng là đi những bước đi quan trọng
trong cuộc đời. Phải đối mặt với những hoàn cảnh mới. Phải gạt bỏ những thói
quen cũ, Phải tình cảm hơn mà cũng phải trí tuệ hơn. Đến cuối quyển truyện, chính các nhân vật đó mới có thể hiểu họ đã vượt qua bao
nhiêu thử thách, họ trưởng thành, họ thay đổi đến
không ngờ. Cần nói ngay là chính tác giả cũng vậy. Trước tiên, điều cần nhấn
mạnh về con người nhà văn ở đây là cái khao khát hiểu biết, cái khả năng ngạc nhiên. Như là đi đến một
điều bí mật, anh tìm hiểu mọi người với một thái
độ trân trọng, một niềm say mê. Những cảm hứng chung về cuộc sống, cái ý nghĩ
trong sáng về nhân dân đất nước mà hôm qua anh mới bắt đầu cảm thấy (qua những
điều tâm niệm của cô giáo Thùy đoạn trên đã dẫn), thì hôm nay nảy nở đầy đặn, thành một nhận thức rõ rệt trong anh và những nhân vật của
anh. Và đó là điều kiện chủ yếu làm nên mối đồng cảm giữa người đọc và tác
phẩm. Làm sao tính đếm được hết những gì đã xảy ra trong mỗi con người chúng ta
những năm thời chiến không thể nào quên?! Vào cuộc chiến tranh này, mỗi người
là một ông Kinh mở lòng rộng rãi lắng nghe những động tĩnh xã hội mà cả đời
mình hy sinh đóng góp. Là anh lính trinh sát Khuê phát hiện mình trong chiến
tranh, tìm thấy trong hoàn cảnh chiến đấu một điều kiện vận dụng hết khả năng
trí tuệ và sức lực sẵn có. Là một cô Nết sống những rung động ban đầu trước
cuộc sống chiến trường, nơi hôm qua không sao hình dung nổi.
Tất cả, tất cả như được chiến tranh dạy khôn, trở nên
cứng cỏi, làm được những việc vượt quá sức mình. Từ Tốt, Thùy, đến Nết, từ bác
Thỉnh, ông Lâm, đến Kinh, Nhẫn, có một sự tiếp nối, nhưng đã có một khoảng
cách.
Vẫn là những nhân vật của Nguyễn Minh Châu, thường vẫn
ân nghĩa, đằm thắm, thủy chung, nhưng trong hành động và
trong quan niệm triết lý sống, họ đều được thử thách, biến đổi, để rồi trở nên sâu sắc hơn,
có khả năng bám chắc vào đời sống, cũng tức là hiện thực hơn, nếu có thể nói như vậy.
Trong Dấu chân
người lính có một nhân vật chưa hề có tiền lệ trong Cửa sông, đó là trường hợp Lữ. Nhân vật được hình thành và có kết
thúc số phận trọn vẹn trong tác phẩm trước
hết là một nhân vật có phần hơi đặc biệt, như là một thoáng hư ảo. Anh say sưa
nói về khối lửa. Anh đốt hết sách vở để mạnh
dạn bước vào đời. Đó cũng là anh chàng Lữ mải mê với một ánh trăng để từ đó tìm cho
mình một quan niệm về vẻ đẹp, về lẽ sống.
Đằng sau cái nét mặt thật «vừa thông minh lại vừa hơi
đần đần » của Lữ là một bộ mặt tinh thần độc đáo. Tuy vậy, anh vẫn đứng hòa hợp
với những nhân vật cùng tuổi trong tác phẩm, những
thanh niên sống rất sôi nổi « Lính trẻ
với nhau, toàn là con trai, trông mặt mũi tướng mạo ai nấy đều có vẻ lãnh đạm
và quyết liệt, nhưng người ta cũng dễ dàng bật quen với nhau ». Việc bắt
gặp một lớp trẻ như thế giúp cho ngòi bút Nguyễn Minh Châu được dịp phô diễn
hết vẻ tươi tắn cùng là khả năng đồng cảm sâu sắc với đời sống vốn lúc nào cũng
ở thế đi lên phía trước. Ngòi bút của anh sức đang còn trẻ cũng là bởi thế.
Với các nhân vật mới, Nguyễn Minh Châu cũng bộc lộ
thêm một khả năng trong việc xây dựng nhân vật, nói cách khác một khả năng gọi
đúng hiện thực, trước hết là cái hiện thực trong đời sống tinh thần con người.
So với những Thùy, Bân, bác Thỉnh trong Cửa sông, các nhân vật trong Dấu chân người lính nội tâm phong phú
hẳn lên, nhờ nơi ý thức của mỗi người về chính mình, về thực tế chung quanh
mình đều phát triển. Mỗi người theo cách của mình đều thích tự
phân tích, tự suy xét một người như ông Kinh “thương
lính kiểu đàn bà” đã hay nói lý lẽ; Khuê, Nhẫn, càng tỉnh táo
lý lẽ, bởi đó là yêu cầu trong công việc của họ. Còn anh chàng Lữ, con người mơ
màng? Không, chính anh luôn luôn tìm cách thế nào để sống cho phải, anh chăm chú nhìn vào người khác và nhìn
vào chính mình, anh huy động mọi vốn liếng sách vở. Tóm lại, Lữ sống kỹ lưỡng
trong mỗi công việc, cần mẫn đi theo cái niềm tin sắt đá, nó là cái hướng lớn
trong cuộc đời. Chúng ta nhớ lại những đoạn nhật kí của Lữ khi qua đoạn sông B. Đó là giây phút con người
bình thường đối diện với lịch sử, Lữ thuộc loại người không dễ bỏ qua những kỷ niệm lớn đó. Trong mỗi
chúng ta đều có một phần con người Lũ: Chính cuộc sống sôi động những năm vừa
qua đã cho phép người ta và cũng là buộc người ta phải vươn tới tầm vóc của
lịch sử. Có lẽ đó cũng là một trong những điều mà cuộc chiến tranh vừa qua để lại sâu đậm trong tâm trí mỗi người bình thường.
Những ngày đầu chiến tranh các nhân vật trong Cửa sông chưa thể bị lôi cuốn mạnh mẽ như
thời gian về sau được.
*
Như có người đã nhận xét: Dấu chân người lính chưa phải là một quyền sách viết đều tay.
Nếu chỉ tính đến cấu trúc nội tại, tác phẩm viết trước
đó bốn năm của Nguyễn Minh Châu có phần hoàn thiện hơn. Cửa sông trọn vẹn trong quy mô vừa phải của nó. Ở Cửa sông, thực tế hiện ra cân đối nhịp
nhàng - cuộc đời thu nhỏ lại trong một cái làng có vui, có buồn thì cũng còn là
đơn giản. Các nhân vật ở đó tình cảm lý trí thống nhất, tất cả sống đúng như mình có, không thấy
những lay động quá mức, những khao khát, những đòi hỏi phức tạp. Mọi việc xảy ra để đi đến chỗ nó phải đến, mọi mối bất hòa được
gỡ ra, mọi mối tình đều chín tới, con sông Kiều ra tới tận biển mà cái tiếng sóng bật lên vẫn chỉ là tiếng sóng “vừa trang nghiêm vừa dịu dàng”. Ứng với một hiện
thực như vậy, cái nhìn của tác giả trong Cửa sông trong sáng, điềm tĩnh. Anh
đôn hậu nhìn nhận mọi chuyện, thắm thiết cùng kỷ niệm, lắng nghe mọi diễn biến
xảy ra trong mọi người. Qua anh những mảng người được đưa vào Cửa
sông hòa hợp, không chỗ nào trồi ra, sụt vào. Tác phẩm cân xứng, nhịp điệu
chậm rãi, câu cú ngắn gọn, chữ nghĩa chính xác.
Ngay từ những mặt này - mặt bút pháp, bố cục, nói
chung là những yếu tố hình thức, Dấu chân
người lính đã có gì đó không đều tay, toàn bộ không trọn vẹn, bởi các yếu
tố không thật hòa hợp. Từng mảng đậm nhạt không đều. Không đều về hình khối bên
ngoài cũng như về cấu trúc bên trong Nhân vật đứt nối tùy tiện. Một đôi chỗ,
thấy những “vết
hàn” khá rõ. Đã dành không thể tìm thấy trong Cửa sông những trang viết dầy dặn những
mảng sống như đắp như chất lên trên trang sách trong phần miêu tả hành quân.
Thế nhưng, chính ở Dấu chân người lính
lại gặp nhiều hơn đâu hết trong văn Nguyễn Minh Châu những chỗ ngòi bút tác giả
quá say sưa, tự mình bị mê hoặc trước những điều mình viết ra, hiện thực đời
sống bị chắp vá lắp ghép, câu cú vốn điêu luyện hóa ra xộc xệch. Đứng về mối
quan hệ giữa vốn liếng của tác giả và những điều được viết ra, ở Cửa sông, Nguyễn Minh Châu làm chủ được
tài liệu đến độ thuần thục. Anh có thể nói ngắn gọn, nói rất điềm đạm. Sang Dấu chân người lính, anh đã phải vươn
tới những gì anh chưa có đầy đủ, nên hóa sa đà, chới với.
Chúng ta đều biết: suy cho cùng, những nhận thức về
hiện thực đời sống của tác giả sẽ chi phối cả mỹ cảm cùng là những yếu tố hình
thức của tác phẩm. Trường hợp Nguyễn Minh Châu với cả hai tiểu thuyết Cửa
sông và Dấu chân người lính ở đây
đều là những dẫn chứng xác đáng.
Từ sau Cửa sông,
Dấu chân người lính là bước đi tiếp
tục, đồng thời là bước đổi khác của một người viết
- những đổi khác
không chỉ do ý muốn chủ quan của nhà văn, mà
còn do chính hiện thực đời sống quy định, cả hai yếu tố chủ quan khách quan hòa
hợp với nhau, làm nên nét mặt riêng của một Nguyễn Minh Châu cụ thể.
Nhìn lại những biến đổi
của tác giả Cửa sông, mỗi người chúng
ta có dịp đề tìm hiểu thêm những thay đổi xảy
ra ở chính mình trong những năm qua. Cả trong những mặt thành công lẫn những
mặt chưa đạt của nó, một tác phẩm như Dấu
chân người lính có thể gần gũi với nhiều người đọc là với ý nghĩa ấy.
1973
MỘT CÁCH BÌNH LUẬN LỊCH SỬ
Từ chỗ đứng của ngày hôm nay
Ý nghĩa của cái thời điểm mà ý định viết sách chín muồi trong tâm trí
tác giả: cuối một tập sách,
sau cái dấu chấm hết đánh dấu thời điểm kết thúc của một quá trình lao động lâu
dài, những người viết văn viết báo thường có thói quen chua thêm mấy chữ chỉ
địa điểm và nhất là vài con số chỉ thời gian đã hoàn
thành cuốn sách.
Thông thường, không mấy khi những con số đó có vai trò
gì đặc biệt.
Nhưng có một thứ thời gian mà người đọc giá kể có thể biết, thì sẽ rất tốt trong việc cảm thụ tác phẩm; có một thứ thời điểm,
mà mỗi khi đối diện với những trang sách, tôi cố dò cho ra, thứ thời điểm chỉ
họa hoằn lắm mới thấy ghi và được ghi chính xác, nhưng có thể coi như ngày khai
sinh của cuốn sách, nó góp phần giúp ta hình dung cả vóc vạc và dáng vẻ, cùng là cái chất của “con người” sẽ
sinh thành, tức cái xu hướng chính mà tác phẩm sẽ
có:
Đó là cái ngày mà ý định viết cuốn sách thực sự hình
thành trong đầu óc tác giả.
Từ thời điểm đó mà
suy, liên hệ sự kiện nêu trong tác phẩm với nhận thức chung của
xã hội và của tác giả về vấn đề đó, vào thời gian đó, chúng ta có thể biết khá nhiều về quyển sách.
Nguyễn
Khải và những “thời
điểm ngày hôm nay” : Tôi xin được nói rõ điều này, lấy Tháng Ba ở Tây Nguyên làm ví dụ. Tiếng
súng mở màn cho Đại thắng mùa xuân bắt đầu là vào đầu tháng 3, chiến dịch Hồ
Chí Minh kết thúc vào 30-4-1975, còn như ý định viết cuốn ký sự thì, bằng vào
tác phẩm, thấy nó cũng đến với nhà văn khá sớm, có thể nói chắc chắn là sớm hơn rất nhiều cái thời điềm ghi ở
cuối sách là gần một năm sau, Tết Bính Thìn (1976). Viết về chiến thắng ngay
sau chiến thắng, khái quát mà nói, viết về ngày hôm nay, thấy Nguyễn Khải đã
chọn chính chỗ đứng của ngày hôm nay, sát nách, cụ thể, gần gũi. Anh thu thập
được những sự kiện theo như chữ của báo chí vẫn dùng, là nóng hồi ý nghĩa thời
sự. Nhất là anh giữ được tình cảm mà sự kiện gợi ra trong lòng mình. Mối đồng
cảm giữa tác giả và người đọc cũng từ đó mà hình thành, mối đồng cảm đó là môi
trường tốt nhất để tác giả lên tiếng và tìm được sự gần gũi
trong dư luận.
Không phải đây là lần đầu tiên Nguyễn Khải làm theo
lối này.
Viết về những sự kiện sôi động trong cải cách ruộng
đất và sửa sai, Xung đột tập đầu in rải rác trên Văn
nghệ Quân đội từ năm 1957.
Họ sống và chiến đấu kể
chuyện Cồn Cỏ ngay lúc mọi người đang
muốn biết rõ về hòn đảo anh hùng đó.
Chỉ ít lâu sau khi quân Mỹ đổ bộ về miền Nam, tác giả cho in trên nhiều tờ báo một
loạt bút ký, sau này tập hợp thành tập Hòa
Vang.
Lâu nay, hầu như tác phẩm
nào của Nguyễn Khải cũng đã tự xác định rất công khai mối liên hệ với các sự
kiện lịch sử - xã hội đang sôi nổi một thời. Vượt lên mối quan hệ trên bề mặt (tức là mối quan hệ thời gian), ở đây, tôi chỉ muốn nói thêm đó là mối quan hệ về bề
sâu, quan hệ trong quan niệm, cách đánh giá, tóm lại là về phía chỗ đứng của
tác giả.
Có thể đứng ở nhiều góc độ khác nhau để xem xét một sự kiện. Song, nhìn lại đối với phần lớn
các tác giả của văn học ta sau Cách mạng, cái mạnh của ngòi bút nhà văn thường
là do khoảng cách hết sức gần gũi giữa tác phẩm
và sự kiện. Viết như những người trong cuộc nói chuyện với nhau, viết như những
chiến sĩ vừa tham gia một trận đánh thắng lợi trở về ngồi hàn huyên đủ thứ
chuyện chung quanh trận đánh đó, tựa lưng ngay vào những kết luận mà ai cũng
công nhận, đón ngay lấy cái tình cảm đang là lẽ sống của nhiều người - tóm lại, những trang viết của chúng ta thường được
cái liền mạch, liền hơi với đời sống, có mặt ngay bên các sự kiện khác trong
đời sống. Rồi ra, cách nói cách diễn tả cũng từ đó mà đến, gần gũi với sự thực,
như thực, ngôn ngữ văn chương là chính ngôn ngữ đời sống, tác giả nào có được
rung động tươi mới, thì tác phẩm sẽ đượm đà sinh sắc
hơn.
Nguyễn Khải chỉ khác những người khác ở chỗ: sau khi
đã có được cái vững chắc của thế đứng, một ngòi bút lui tới rất giỏi như tác giả Xung đột tha hồ mà tung hoành. Ở
đây, trong Tháng Ba ở Tây Nguyên, anh
triển khai lối viết rất uyển chuyển, có chỗ cả trang là
những ý kiến đua nhau lên tiếng sôi nồi, có chỗ nêm chặt tài liệu. Chuyền đạn,
làm kho, ngòi bút không ngại động tới những khu vực “bếp núc” bậc
nhất của cuộc chiến đấu, để rồi sau đó, lại ngược
lên những khu vực bao quát, thuộc về ý đồ chiến
lược của Đảng, ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi của chiến thắng lịch sử.
Thành thử, cuốn sách vừa chặt chẽ về nguyên tắc, vừa
linh hoạt, đa dạng trong tài liệu. Về cách “bài
binh bố trận” trong một tác phẩm nghệ thuật, tôi nhớ một
đồng chí sáng tác kiêm đạo diễn múa có lần giảng giải đại ý: Trong múa, khi đội
hình đơn giản, thì động tác có thể phức
tạp, khi động tác đơn giản, thì đội hình có thể phức tạp - giữa hai cái đó,
người sáng tác phải chọn lấy một. Vận dụng vào trường hợp Tháng Ba ở Tây Nguyên, thấy Nguyễn Khải có thể để cho ngòi bút mình tha hồ tự do lui tới là nhờ ở chỗ
chính anh đã đứng rất chắc trên mảnh đất đã chọn.
Nguyên lý. Thời gian mở đầu. Địa
điểm mở đầu
Còn một khía cạnh khác, thuộc về cách viết chung của
nền văn học ta, mấy chục năm gần đây, và được Nguyễn Khải “đẩy tới cùng” trong Tháng Ba
ở Tây Nguyên, đó là việc viết về các nguyên lý, những đề tài lớn, những chủ
đề lớn.
Giữa các thời đại, các nền văn học không chỉ khác nhau
trong xu hướng tư tưởng. Mà ngay các chủ đề, những đề tài được văn học đả động
tới, cũng đã sai khác.
Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, sự tất thắng của
chính nghĩa, sự sụp đổ không tránh khỏi của
những gì ngụy tạo - nếu trước cách mạng, các chủ đề đó bị lảng tránh bao nhiêu,
thì mấy chục năm gần đây, lại được các ngòi bút của chúng ta tập trung biểu hiện bấy nhiêu.
Đất
nước đứng lên, Những tầm cao, Vùng trời, Vỡ bờ, Gió lộng, Cửa biển, rồi Tổ
quốc, Chiến sĩ, Cách mạng: có những tên sách đã nói khá đầy đủ nội dung nhiều cuốn
sách. Và còn bao nhiêu tác phẩm khác lấy - những cái tên «nhẹ nhàng» «đơn giản»
hơn, song nội dung cũng là những vấn đề to lớn không kém.
Trong toàn bộ xu hướng tư tưởng, và cái cốt cách chủ
yếu của nó, Tháng Ba ở Tây Nguyên có
thể đội cái tiêu đề biểu hiện những ý niệm lớn như Chiến thắng, Toàn thẳng, Lịch sử...
Mở một trang sách bất kỳ, như trang 51, thấy có những
chữ thuộc về nguyên lý: tình thế và diễn biến, cơ quan lãnh đạo chiến lược cùng tổ chức đảm nhiệm chiến dịch và chiến
thuật. Rồi hôm nay, rồi ngày mai. Có nhiều chữ được viết hoa như
Vĩnh Viễn như Bất Tử như đài Chiến Thắng.
Ấy là không kể một
giọng điệu thành kính, cách dẫn chuyện có đầu có đuôi, những lập luận đanh
thép, dứt khoát - toàn yêu cầu cốt tử đối với mọi trang sách
viết về các chủ đề thiêng liêng cao cả.
Nhà văn đã tìm được cách viết phù hợp với nội dung của
tác phẩm.
Trong quá trình đọc Tháng Ba ở Tây Nguyên, trong tôi còn nảy ra một câu hỏi khác, có vẻ
hơi lần mần một chút, nhưng rõ ràng là cần phải tự hỏi:
- Mùa xuân năm 1975, cùng với một số đồng chí khác công
tác ở các ngành nghệ thuật trong quân đội, Nguyễn Khải lên đường đi chiến
trường. Lần lượt các anh có mặt ở Huế, qua Đà Nẵng, Nha Trang... rồi theo chân
các binh đoan lớn mạnh như nước vỡ bờ của quân ta, tiến vào Sài Gòn. Cuối tháng
5 trở ra, thì đến tháng 7, tác giả còn quay vào các tỉnh phía nam một lần nữa.
Đi nhiều nơi, biết nhiều việc. Vậy mà giữa cái lớn
lao, bộn bề của chiến dịch, Nguyễn Khải đã chọn cái điểm mở đầu là Tây Nguyên,
cái thời gian mở đầu là tháng ba. Tại sao như vậy? Ngẫu nhiên chăng?
Không thể trả lời câu hỏi này, nếu không liên hệ nó
với vấn đề vừa nêu ở trên. Viết về các chủ đề lớn, về các nguyên lý cũng là
viết về mở đầu: mở đầu của một thời đại mới. Mở đầu của cách mạng. Từ ấy, vâng,
cái tên tập thơ đầu của Tố Hữu cũng là cái tên chung của toàn bộ nền văn học
mới: TỪ ẤY!
Từ sau Cách mạng tháng Tám, cho tới 30-4-1975, ba mươi
năm ấy, lịch sử dân tộc là một giai đoạn nhất trí. Ba mươi năm, già nửa đời
người, gần một phần ba thế kỷ, nghĩ thì cũng dài, song đặt cả giai đoạn này trong
lịch sử từ nay về sau, lại thấy 30 năm ấy chỉ là một giai đoạn ngắn, là thời
gian của mở đầu, của sinh thành, tái tạo. Mà nền văn học mới cũng rất nhạy bén
trong việc nắm bắt cái đặc tính đó của thời đại. Trong phạm vì một chiến dịch
chẳng hạn, các ngòi bút của chúng ta, cũng như các nhạc sĩ, ca sĩ, thường tỏ ra
hết sức hào hứng, trong việc nói về phút mở màn, trận đánh thứ nhất.
Mười mấy năm trước, khi học những bài thơ như Việt Bắc, Ta đi tới, tôi đã được một
giáo viên dạy văn giảng cho cái ý nghĩa của một hai chữ, như chữ thuở trong
câu:
Nhớ
khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh.
Chỉ một chữ thôi, không khí trong câu thơ đúng là một
không khí lịch sử.
Đọc một tác phẩm như Tháng Ba ở Tây Nguyên, có thể bắt gặp nhiều chữ như vậy.
Chương II tập sách có cái tên rất tiêu biểu: Vốn là
niềm tin của chúng ta, nhưng được diễn giải qua những nhân vật rất bất ngờ. Vốn là niềm tin của chúng ta, đó là yếu tố chủ đạo, còn cách diễn giải bất ngờ là thứ yếu, đến
sau. Có điều, qua ngòi bút của Nguyễn Khải, nhiều
trang sách vẫn được gọi là bất ngờ, nghĩa là đọc thấy thú vị.
Bất ngờ trong ngày hôm nay, bất ngờ trong
những ngày tới
Đại thắng mùa xuân 1975 khép lại một giai đoạn lịch sử
và Tháng Ba ở Tây Nguyên cũng khép
lại một giai đoạn sáng tác của Nguyễn Khải, giai đoạn anh viết về chiến tranh.
Đọc Tháng Ba ở Tây Nguyên, bất giác tôi nhớ lại Họ sống và chiến đấu. Cả hai cuốn cùng là ký sự. Cả hai cuốn cùng
dày khoảng 200 trang và cả hai cùng một cảm hứng chính, nên cũng cùng một giọng
điệu...
Bắt đầu chiến tranh, đến với một tế bào của nó như Cồn Cỏ, Nguyễn Khải như muốn kêu lên:
chúng ta đã chiến đấu rất giỏi. Cái anh hùng đã trở thành cái bình thường.
Chống Mỹ kế tiếp giai đoạn chống Pháp, con người đã được chuẩn bị, đất nước đã
được chuẩn bị, trên dưới đồng lòng, âm hưởng chính của chiến tranh mà ngay từ
năm ấy, Nguyễn Khải đã dự đoán và biểu hiện trong tác phẩm, là âm hưởng nhất
trí, hòa hợp.
Từ ấy trở đi, khi viết về một đại đội trên chiến
trường miền Tây, khi theo dõi bước đi của một chiến sĩ xe tăng trong một chiến
dịch lớn như chiến dịch Đường 9 - Nam
Lào, trước sau Nguyễn Khải vẫn là đi tiếp con đường mà chính anh đã vạch sẵn.
Nay đến lượt viết về ngày toàn thắng, có thể nói anh
đã đi được một vòng tròn, và về đúng cái điểm đã
xuất phát ban đầu. Nói Tháng Ba ở Tây Nguyên
gần gũi với Họ sống và chiến đấu, bởi
lẽ ở cả hai cuốn, bằng những cách
tiếp cận khác nhau, nhưng trước sau tác giả của chúng vẫn giữ được một quan
niệm, một lập trường nhất trí.
Đọc các tác phẩm mà
Nguyễn Khải đã viết trong mười năm qua, luôn luôn chúng ta bắt gặp một cuộc
sống vùa bất ngờ, vừa gần gũi. Đã gọi là cuộc chiến đấu, hẳn bao nhiêu người,
bao nhiêu chuyện, kỳ lạ, thay đổi, nhưng tất cả lại không
đi ra ngoài nguyên lý, tất cả đã được dự kiến sẵn, tất cả đều vận động với một
niềm tin thiêng liêng: chiến thắng, toàn thắng. Giữa một địa phương, với toàn
bộ đất nước là nhất trí, trong cả bộ máy chiến dịch hết sức phức tạp, các bánh
xe hết sức ăn ý hòa hợp với nhau, và nhìn chung về thời gian, thì hiện tại là
bắt nguồn từ quá khứ, hiện tại ương mầm cho tương lai, toàn những nối tiếp lý
tưởng.
Xét về hình thức biểu hiện, thấy ngòi bút Nguyễn Khải
đã cộng hưởng với sự hòa hợp đó sâu sắc, để rồi
chuyển nó vào mọi đường gân thớ thịt của tác phẩm, từ trong cấu trúc chung, cách sắp xếp các chương
mục, đến mở đầu kết thúc từng quyển.
Trong văn anh, câu chữ chưa bao giờ vang lên nhịp nhàng như trong mười năm ấy,
từ Họ sống và chiến đấu đến Tháng Ba ở Tây Nguyên. Âu cũng là một
điều bất ngờ, nếu so sánh với cách nhìn nhận cùng bố cục, câu chữ ở cái tác phẩm xuất sắc của anh: Xung đột.
Thông thường, ở một bài viết thuộc loại bình luận thế
này, đến phần cuối, người ta tỏ ý hy vọng, tin tưởng, ví như chờ đợi ở những bước tiến mới của tác giả trong
thời gian tới. Riêng với Nguyễn Khải, nói thế thì không cần thiết, mà dự đoán
những điều anh sẽ viết trong những ngày tới thì khó quá. May lắm chỉ có thể tin chắc một điều: luôn luôn sống với hiện tại, cái chất
của ngòi bút Nguyễn Khải trước sau vẫn
là như thế, hoàn cảnh thay đổi thế nào, rồi ngòi bút ấy cũng chèo chở được. Là nhà văn
của những ngày hôm nay, ngòi bút của anh luôn luôn biết lui tới theo đúng cái
nhịp mà mỗi “ngày hôm nay” cần
tới, cho phép, bao gồm cả việc khai thác khá uyển
chuyển những khía cạnh bất ngờ của nó. Hai chục năm
qua, con người nhà văn trong Nguyễn Khải đã là một ví dụ về sức sống mạnh mẽ của nền văn học mới trong một
thời đại mới.
1977
NGUYỄN KHẢI
HAY
LÀ MỘT CÁCH TỒN TẠI TRONG VĂN HỌC
Ở
Hà Nội, Nguyễn Khải có một căn phòng mười bốn mét vuông ở bãi Phúc Xá; khu nhà
tập thể này ở ngay vệ sông, cứ đến mùa lũ, nước sông Hồng dâng lên là phải lo
chạy vào trong phố ít ngày. Nhưng ở đấy liền hai mươi mốt năm, Nguyễn Khải hoàn
toàn thoải mái, lại còn đi đâu cũng khoe: “Ngoài bãi mát, yên lặng, ngồi viết
thích lắm”.
Hình
như con người này rất có duyên với những xóm nghèo ven nội. Vào Sài Gòn, anh
lại ở ngay Khánh Hội. Nhà cửa còn tuềnh toàng, thiếu thốn đủ thứ, nhưng vẫn có
cái để khoe: “Dẫu sao
cũng rộng hơn nhiều, so với Hà Nội” - Nguyễn Khải bảo vậy. Vẫn như xưa nay, anh hồ hởi cười nói
khi gặp bạn bè, và tôi cảm thấy một niềm vui cố hữu nơi anh: niềm vui được
sống, được viết. Chỉ thế thôi cũng đã quý lắm!
Trong
đời sống hàng ngày, có thể bảo đây là một người hay la cà. Ngay cả những tháng
viết bận nhất, Nguyễn Khải vẫn dành thời giờ lên phố, ghé lại một tòa soạn hay
một nhà xuất bản nào đó, trò chuyện với anh em, thậm chí sẵn sàng ngồi ở một hàng
nước vỉa hè, bắt chuyện với một người bên cạnh không hề quen biết. Nhưng kéo
được Nguyễn Khải vào một đám lai rai thâu đêm thì khó lắm! Đó là con người biết
tự chủ, không sa đà vào đâu quá lâu, làm gì thì làm nhưng trước tiên là ngài
đến chuyện viết, lấy sự viết làm lẽ sống của mình. Mới đầu, là một cách tự răn
mình. Sau, thành một thói quen không thể thay đổi. Khoảng 1966 - 1967, thấy Đỗ Chu đang viết lên tay với tập Phù sa và đang chuẩn bị viết Ráng đỏ, Nguyễn Khải thường bảo: “Lúc ngòi bút đang đà thế này,
có việc gì không quan trọng hãy gạt sang một bên mà lo viết cái đã” - Đấy là lời khuyên không chút màu mè
Nguyễn Khải thường dành cho những anh em trẻ hơn mỗi khi cảm thấy giữa mình với
người bạn trẻ ấy có một sự tin cậy.
Tập
trung tất cả cho sáng tác như vậy, nhưng một phía khác của tài năng Nguyễn Khải
lại là rất tỉnh, không bao giờ chịu là tù nhân của những ảo tưởng mê muội. Ngay
từ khoảng 1963, anh đã nói rõ trong một tham luận tại Hội nghị Ban chấp hành
Hội Nhà Văn Việt-Nam: Tự lượng sức mình là một điều hết sức quan trọng với mỗi
người viết. Và Nguyễn Khải biết tự lượng thật. Khi gọi là ký sự, khi mang danh
tiểu thuyết, nhưng các tập văn
xuôi của anh mỗi tập thường chỉ 150-200 trang. Lúc đùa bỡn, anh bảo: “Viết thế để người ta có thể
đọc ù một cái, một hai buồi trưa là xong”. Những lúc nghiêm chỉnh hơn, anh tâm
sự:
- Sức mình chỉ đến thế, không nên kéo ra dài hơn. Điều quan
trọng là thức tỉnh người đọc cùng nghĩ, chứ ai có sức mà nghĩ thay họ được.
-
Từ quãng đời viết văn đã qua của mình, anh có rút ra kinh nghiệm gì đặc biệt? - Có lần đâu khoảng 1969-1970, tôi mạnh dạn “phỏng vấn” nhà văn như vậy.
Thứ
nhất, lúc nào cũng phải cố lên một tí, chứ viết là dễ ngại lắm. Như tôi vẫn
nói, làm sao viết hết sức mình để giá kể có phải đi trở lại, mình vẫn chỉ đi
có con đường ấy.
Thứ
hai, phải nên luôn tỉnh táo để chỉ làm đúng những điều mình có thể làm. Xem người khác viết
để học, nghe người khác khen
chê để rút
kinh nghiệm là cần. Nhưng hoang mang, hay thay đổi, rồi học đòi bắt chước, ai bảo thế
nào cũng làm theo, là mất hết cốt cách, và với nhà văn, thế là tự sát!
Ban
đầu cách viết của Nguyễn Khải bị kêu rất nhiều: nào hay bình luận hay lý sự,
nào lạnh, thiếu say mê, nhân vật không rõ mày mặt, không nổi trên phương diện
tạo hình; và bố cục thường lỏng lẻo, người viết không phải là một thứ tạo hóa
cao tay v.v... Nguyễn Khải chịu đựng những lời chê đó với một sự bình thản. Lâu
dần, một cách viết hình thành, người ta đâm quen với ngòi bút anh. Một hai năm,
Nguyễn Khải lại có một cuốn sách in ra, và gần như cuốn nào cũng được dư luận
chú ý.
*
Có
một dạo, Nguyễn Khải nổi lên như một người chuyên viết về nông nghiệp. Những
mẫu cán bộ huyện, xã, bị thư, chủ tịch, phó chủ nhiệm phụ trách ngành nghề, rồi
một bà già tham lam, một thanh niên mới lớn nhiều mơ mộng... tất cả rất quen
với anh. Mùa màng, thời vụ, các loại giống lúa, các loại cây đay, cách đạp chè
của các bà, các chị ở Thái Ninh (Phú Thọ), lối chuyên chở cá bột trên tàu hỏa
ra sao... hình như việc gì ở nông thôn, anh cũng thành thạo.
Nhưng
khoảng 1957-1959, đọc Xung đột và về
sau, đọc Cha và con và..., không ít
người quả quyết Nguyễn Khải sinh ra để viết về công giáo. Cách nói, cách
nghĩ của người theo đạo nhuyễn vào ngòi bút của anh, và nếu trò chuyện với tác
giả khi anh đang viết, thấy nó nhuyễn cả vào lời nói hằng ngày của anh nữa.
Từ
sinh hoạt của những chiến sĩ công binh miền Tây, các du kích đội thuyền Vĩnh
Linh tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ những năm chống Mỹ, tới những phòng khách sang trọng của
Thành phố Hồ Chí Minh, dù là đã sau giải phóng, khoảng cách thật là xa xôi. Xa
trong không gian, thời gian, những chi tiết cụ thể và xa cả trong cách nghĩ của
con người! Vậy mà viết về đâu, Nguyễn Khải cũng rành rẽ như chuyện của chính
mình. Đây trước tiên là thái độ tỉ mỉ, là tinh thần trách nhiệm trước những gì
mình miêu tả (tôi nhớ những lần Nguyễn Khải kiểm tra đi kiểm tra lại một hai
chi tiết thuộc về kỹ thuật có liên quan đến một hai nhân vật nào đó...) Nhưng
quan trọng hơn là sự thông cảm, là yêu cầu hóa thân vào cuộc sống đích thực của
nhân vật. Khả năng tự quên mình đi để sống cho thoải mái đã biến thành khả
năng chấp nhận cuộc sống của những người khác, coi đó là điều hoàn toàn tự
nhiên mà một nhà văn phải biết đón lấy và làm nổi lên, như một sự thật sinh
động.
Người
ta hay nói: nhà văn giỏi là người biết gọi cho ra các nhân vật. Ở những trang
viết thành công của Nguyễn Khải, công thức đó được triền khai thành hai vế: a) Nhà văn phải diễn tả sao
cho mỗi nhân vật của tác phẩm trở thành một con người độc đáo, không lẫn với
chung quanh - chỗ giống nhau chủ yếu của mỗi chúng ta là không ai giống ai; b)
Nhưng từ sự diễn tả đó, nhà văn phải vươn tới một cái gì cao hơn, phải phát
biểu được những điều chính mình suy nghĩ và cảm thấy một cách sâu sắc,
nó cũng là yếu tố chính tạo nên nét mặt riêng, cốt cách riêng của một ngòi bút,
như người ta vẫn nói, Nếu ở phương diện thứ nhất, chúng ta thấy tài năng của
Nguyễn Khải, thì ở phương diện thứ hai này, anh hiện ra như một ngòi bút có tầm
vóc. Nguyễn Khải thường biết nâng những hiện tượng bình thường thành vấn đề
khái quát, để rồi đề
nghị chúng ta cùng anh suy nghĩ về mọi chuyện. Theo cách trình bày của anh, đời
sống hàm chứa bao điều phức tạp, không dễ gì một lúc lần ra rường mối của nó (Xung đột); cuộc sống là nơi đào tạo
nhưng cũng là nơi thử thách mọi mặt nhân cách con người (Ra đảo); có trăm nghìn nẻo sống khác nhau, nhưng hiểu được đời sống, và sống cho
có ý nghĩa mới thật khó Cách mạng, Gặp gỡ cuối năm); và, vượt lên trên từng
kiếp người riềng tư, có cuộc sống của xã hội, đất nước, cộng đồng, mà còn lâu,
chúng ta mới nhận thức được đầy đủ (Thời
gian của người) v.v... và v.v...
Nên
cắt nghĩa như thế nào về những đoạn bình luận, lý sự khá đậm đặc trong các
trang văn xuôi của Nguyễn Khải? Theo tôi, đây không phải hiện tượng đơn nhất,
ngẫu nhiên, mà có nguồn gốc hợp lý của nó. Trong đời sống tinh thần của xã hội
ta từ 1945 tới nay, nếu có khía cạnh nào nổi lên đặc biệt rõ rệt thì đó là sự
xâm nhập của chính trị vào đời sống bình thường mỗi người, khiến cách suy nghĩ
của bất cứ ai cũng trở nên sắc bén hơn hẳn. Các vấn đề xã hội chính trị là đầu
đề để chúng
ta bàn bạc,
sự lợi hại về chính trị là tiêu chuẩn chính để xem xét mối quan hệ giữa người với
người. Gần như ai cũng hoạt động chính trị và có từng trải về chính trị. Mặt
khác, trải qua mấy chục năm cách mạng, cuộc sống trên đất nước ta dù là một
làng xóm heo hút giữa đồng bằng sông Hồng, hay một đồn điền cao su cũ, Biên
Hòa, Lộc Ninh... đều có bao nhiêu thay đổi, bao nhiêu điều đáng bàn và cần bàn
cho thấu đáo. Nói phong cách Nguyễn Khải chẳng qua là sản phẩm của đời sống hôm
nay là vì lẽ đó, nếu không có Nguyễn Khải chắc cũng phải có những ngòi bút
khác, viết theo cách Nguyễn Khải đang viết. Có thể so sánh một chút, để thấy cách bàn luận lý lẽ của
Nguyễn Khải và nhân vật Nguyễn Khải mang đậm dấu ấn thời đại, chẳng hạn so với
Nam Cao. Trước đây mấy chục năm, trong sự tẻ nhạt đều đều của một xã hội thuộc
địa, một ngòi bút như Nam Cao có triết lý, thì cũng là nhân những chuyện cụ thể
trong mối quan hệ giữa người với người mà khái quát lên. Nam Cao hay nói sự no
đói ảnh hưởng đến tâm lý con người ra sao, cái nghèo có thể làm nhân cách con
người thay đổi đến đâu. Mỗi mệnh đề triết lý của Nam Cao thường ngắn gọn, đôi
khi như là những điều nghiền ngẫm quá lâu, im đi không đành nên phải buột ra,
sự suy nghĩ mang dáng dấp một lời tự nhủ hoặc một lời chì chiết, đay nghiến.
Nay ở Nguyễn Khải, không riêng tác giả mà các nhân vật cũng hay nói, thích nói,
người nọ đối diện người kia đồng tình, phản bác nhau, xét nét, “dí điện” nhau. Lý sự trở thành câu
chuyện hàng ngày, nhất là lý sự về những khía cạnh xã hội chính trị của đời
sống: mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung;
khả năng dễ sai lầm của con người và vai trò của lý trí; xu hướng đơn giản chủ
quan trong tư duy của mỗi người và những biến hóa vô tận của đời sống v. v..,
và v. v... Nhiều vấn đề tương tự được đề cập tới trong tác phẩm của Nguyễn Khải
một cách khá hào hứng. Như tất cả chúng ta, có lúc nhân vật của Nguyễn Khải và
bản thân Nguyễn Khải nữa nhận xét đánh giá mọi việc còn hàm hồ, tùy tiện. Nhưng
sự chân thành suy nghĩ ở họ là điều đáng ghi nhận. Nhiều lần Nguyễn Khải nói
với tôi, đại ý: kết luận rút ra đâu phải đã là chân lý cuối cùng
nhưng cứ nói được những điều mình nghĩ và xới lên để người khác cùng nghĩ với
mình, đã thấy rất sung sướng.
Đã
rõ triết luận là một đặc điểm nhất quán trong tư duy văn học của Nguyễn Khải nó
làm cho ngòi bút anh khi bốc lên sôi nổi, lúc đằm xuống, trầm tư suy ngẫm và
không thiếu vẻ tinh tế. Tuy nhiên, lại cũng phải thấy nhất quán như vậy nhưng
cùng với thời gian, màu sắc triết luận ở Nguyễn Khải mỗi năm mỗi khác. Từ chỗ
cuồng nhiệt (đôi khi là lối áp đặt một chiều) nay cách nghĩ đó đã phần nào có
được cái lui tới, cái chừng mực cần thiết. Nếu hôm qua, Nguyễn Khải đã rất
thành công trong việc diễn tả những gay gắt quyết liệt của đời sống thì hôm nay
nhà văn có phần thấm thía sự đời hơn, cái nhìn ra chiều độ lượng và thông cảm
hơn. Từ Xung đột qua Cha và con và..., từ Họ sống và chiến đấu, Hòa Vang qua Thời gian của người, cách đặt vấn đề giọng điệu tác giả đều có đổi khác. Như tất cả chúng ta,
Nguyễn Khải cũng ở trong một quá trình vận động liên tục.
*
Nhưng
dù vận động ra sao, thì trước sau Nguyễn Khải vẫn là một người làm nghề cần
mẫn. Người ta chỉ hay nói tới tác giả Xung
đột, Gặp gỡ cuối năm... như một
người thích cao đàm khoát luận, nhưng mấy ai biết, con người này đã có những
lúc ngồi như cắm mặt xuống bàn, chữa đi chữa lại từng trang sách, những khi vắt
vẻo trên chiếc xe đạp, đạp từ đầu thành phố tới cuối thành phố, xem lại morat
một bài báo sắp in, hoặc những khi mê mải trước những cuốn sách tiếng Pháp mong
tìm thấy ở đấy một ít điều gợi ý cho những trang viết sắp tới của mình. Văn xuôi Nguyễn Khải
hôm nay, bề ngoài có cái dễ dàng tự nhiên như lời nói hằng ngày, song
nhìn cho kỹ, thấy chữ nghĩa rất chỉnh, câu cú tính toán kỹ càng, tiếng nói nhân
vật và tiếng nói tác giả cài chen lẫn nhau tạo nên một thế giới đa thanh mà chỉ
văn xuôi hiện đại mới có.
Sinh
năm 1930, năm nay (1985) Nguyễn Khải vừa 55 tuổi. Sẽ là bốc đồng, nếu bảo một
ngòi bút tuồi ấy đang sung sức, nhưng quả là Nguyễn Khải đang viết, kiên trì,
bền bỉ, như ngày nào mới 25-30. Đối với một số đồng nghiệp, cuộc đời Nguyễn Khải không
chỉ là tổng số
những gì anh đã viết ra, mà còn là một bằng chứng về sự tồn tại của những người
làm công tác văn học trong những năm tháng này. Trong cuộc đời đó, có đủ niềm
vui và nỗi buồn, những phút vinh quang được không biết bao nhiêu bạn đọc khác
nhau tìm đọc, tranh cãi, và những phút đơn độc, một mình một bóng trước đèn,
trước trang giấy trắng; trong cuộc đời đó rất nhiều khoảng sáng chói lên rực rỡ
nhưng cũng không thiếu những khi trống rỗng tẻ nhạt, kể cả những thoáng xót xa vô
lý. Nhưng biết làm thế nào, nghề gì chẳng vậy nữa là nghề văn; còn sống, còn
viết là còn vất vả. Dẫu sao, so với nhiều đồng nghiệp, cuộc đời viết văn của
Nguyễn Khải đến hôm nay, vẫn là nhiều thành đạt. Những người trẻ hơn có thể
nhìn vào đấy để thấy
nghề văn vẫn là một nghề tốt đẹp, nếu có năng khiếu, người ta thật đáng bỏ cả
cuộc đời vì nó.
1985